Hôm nay,  

Song ngữ: Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng // Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

06/01/202508:53:00(Xem: 13356)
blank
 
Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng

Nguyên Giác

Bài này sẽ viết trong tinh thần đối chiếu Kinh Pháp Cú với Thiền Tông. Để nói lên một phương pháp của Thiền rằng, trong khi thiền tập, hễ tin Phật hay nghi Phật đều sẽ hỏng, đều rơi vào bất thiện pháp, sẽ không thấy được pháp Vô Vi.

Muốn vào đạo Phật, trước tiên phải tin và phải quy y Phật, Pháp, và Tăng. Người tu theo lời Phật dạy phải tin vào Tứ Thánh Đế, tức là  Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Trong khi tu tập, người tu phải  thành tựu tín, giới, văn, thí, huệ mới có thể đoạn trừ bất thiện pháp. Như vậy, người không có lòng tin chắc thật vào Đức Phật sẽ không đi được con đường dài như thế để thành tựu giải thoát.

Lòng tin là cửa đầu tiên để vào đạo, để thực hành pháp. Tại sao có thiền sư nào nói rằng tin Phật sẽ hỏng? Thậm chí có vị còn nói là gặp Phật thì hãy giết Phật. Nhưng cần phải thấy rõ, hễ nghi Phật là tự mình cắt đứt lối vào, là vi phạm ba lời quy y. Trong Thiền Tông, nhiều vị thầy nói rằng người tu phải từ cửa nghi để hiểu đạo, và để vào đạo. Bởi vì đại nghi mới đại ngộ. Sao lại có chuyện như thế? Vấn đề là ngôn ngữ không mô tả được các trạng thái tâm thức cần thiết. Bởi vì, khi các thiền sư nói cần sự nghi ngờ, thì nhiều thiền sư đó cũng đã có lòng tin sâu dày nơi Đức Phật và có nhiều thập niên giữ khối tin và cả nghi trong tâm.

Nên thấy rằng, cái nghi mà một thiền sư Trung Hoa hay Việt Nam nói, không phải là sự nghi ngờ đơn giản về Đức Phật. Chúng ta có thể dẫn Kinh Pháp Cú, tích truyện 97 ra để ghi nhận rằng, trong tích này, 30 vị sư đã nói rằng ngài Sariputta có sự nghi ngờ Đức Phật, không đủ lòng tin Đức Phật. Điều này xảy ra trong khi ngài Sariputta đã thành tựu giải thoát, và là một trong hai đại đệ tử hàng đầu của Đức Phật.

Chúng ta khảo sát trường hợp này, để sẽ thấy rằng đối với người tu thiền, thì ngay trong khi thiền tập, hễ khởi lòng tin Phật hay khởi lòng nghi Phật đều hỏng. Bởi vì tâm của người tu lúc thiền tập phải lìa bất kỳ tiến trình lý luận nào có thể dẫn tới một kết luận rằng phải thế này hay phải thế kia. Chỉ có luận sư mới đi theo tiến trình lý luận để tới kết luận rằng phải tin Phật hay nghi Phật. Thiền sư chân thực sẽ không rơi vào kết luận nào hết, do vậy không dính vào tin Phật hay nghi Phật.

Chỉ đơn giản là, khi ngài Sariputta hướng dẫn 30 vị sư kia thiền tập về các căn, ngài không đặt vấn đề là tin hay nghi. Thiền về các căn, có nghĩa là về những gì được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường. Nơi sáu căn, các sư phải thấy vô thường, khổ, vô ngã. Trong khi các Thiền sư Trung Hoa và Việt Nam nói rằng phải nhìn vào khối nghi, tức là nhìn vào cái được tư lường, tức là nhìn vào tự tâm, sẽ thấy trận gió vô thường đang cuốn trôi tất cả các pháp trong tâm.

Câu chuyện trong Pháp Cú tóm tắt như sau. Khi cư trú tại tu viện Jetavana, Đức Phật đã nói Bài kệ 97 của Kinh Pháp Cú. Ba mươi nhà sư từ một ngôi làng đã đến tu viện Jetavana để tỏ lòng tôn kính Đức Phật. Đức Phật biết rằng thời điểm đã chín muồi để các vị sư này đạt được quả vị A-la-hán. Vì vậy, ngài đã cho gọi Sariputta đến, và trước sự hiện diện của những vị sư đó, Đức Phật đã hỏi, "Này Sariputta, con có chấp nhận sự thật rằng bằng cách thiền định về các căn, người ta có thể chứng ngộ Niết bàn không?"

Ngài Sariputta trả lời, "Bạch Thế Tôn, trong việc chứng ngộ Niết bàn bằng cách thiền định về các căn, không phải là con chấp nhận điều đó vì con có đức tin vào Ngài; chỉ những người chưa đích thân chứng ngộ mới chấp nhận sự kiện đó từ lời người khác."

Câu trả lời của Sariputta không được 30 nhà sư hiểu đúng. Họ nghĩ rằng, "Sariputta vẫn chưa từ bỏ tà kiến. Ngay cả bây giờ, Sariputta vẫn chưa có đức tin vào Đức Phật."

Sau đó, Đức Phật giải thích cho họ ý nghĩa thực sự của câu trả lời của Sariputta. "Các sư, câu trả lời của Sariputta chỉ đơn giản như thế này; Sariputta chấp nhận sự thật rằng Niết bàn được chứng ngộ thông qua thiền định về các căn, nhưng sự chấp nhận của Sariputta là do sự chứng ngộ của chính Sariputta chứ không chỉ vì ta đã nói điều đó hoặc ai đó đã nói điều đó. Sariputta có đức tin vào ta; Sariputta cũng có niềm tin vào hậu quả của những việc làm tốt và xấu."

Sau đó, Đức Phật nói bằng bài kệ như sau, theo tổng hợp các bản dịch của Thầy Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, Bhante Suddhāso:

Bài kệ 97: Người đã vượt qua đức tin, đã chứng ngộ Vô Vi, đã cắt đứt mọi ràng buộc tái sinh, đã loại bỏ các hậu quả của những việc làm tốt và xấu, đã rời bỏ ham muốn, chắc chắn là người tối thượng.

Khi Đức Phật nói xong, tất cả các vị sư đó đã đạt được quả vị A la hán. Như thế, Đức Phật nói rằng người tu phải vượt qua đức tin đơn giản, và phải  chứng ngộ pháp Vô Vi.

Chữ Vô Vi này có nghĩa là xa lìa các duyên, và là không hề được tạo ra. Bạn có thể tới rất gần với Vô Vi, nếu bạn nhìn vào tâm bạn, và liên tục nhìn thấy cái tâm biết cái-không-biết. Nghĩa là, bạn biết rằng bạn đang nhìn vào cái tâm của sự không biết. Bởi vì như thế là tâm bạn là bầu trời rỗng rang, không hạn cuộc, không rơi vào bất kỳ kết luận nào. Lúc đó, bạn sẽ không rơi vào một kết luận nào, không mơ tưởng nào, không ước muốn nào.

Trong cái tâm không biết này, không có tham sân si. Bạn liên tục nhìn vào tâm không biết này, bạn thấy sẽ không có niệm nào khởi lên, vì nơi đây là dòng sông vô thường trôi chảy, cuốn sạch hết những gì khởi lên. Nhiều vị thiền sư gọi cái thấy vô thường trôi chảy trong tâm đó là nghi tâm. Chữ “nghi” là một cách mô tả không chính xác, chỉ nên nói rằng tâm này là tâm đã xa lìa mọi kết luận.

Ngay khi bạn thấy rằng “không hề có cái tôi nào đang tin hay đang nghi” thì lúc đó bạn sẽ thấy không có cái “tôi là” và cũng không có cái “tôi không là”... Lúc đó, bạn không thấy trong tâm hiện lên cả tín tâm và nghi tâm.  Bạn xa lìa cả cái có và không, chỉ bằng cách nhìn vào tâm lúc đó. Đó là tại sao 30 vị sư kia sau khi nghe Đức Phật nói, họ thấy rằng họ xa lìa niềm tin, họ ngó vào tâm thấy cái Vô Vi, cái không hề do bất cứ gì kiến tạo lên. Đó là tâm giải thoát.

Ngài Sariputta nói hãy xa lìa niềm tin để thiền định về các căn, nơi đó sẽ có pháp vô vi được nhận ra. Tương tự, các thiền sư Trung Hoa và Việt Nam cũng nói rằng hãy xa lìa niềm tin, mà chúng ta đôi khi gọi là hãy nghi, nhưng chính xác là hãy dùng chữ “thấy tâm không biết” thì sẽ có pháp vô vi nhận ra. Trong cái tâm này, không gọi là tin và cũng không gọi là nghi. Tất cả ngôn ngữ đều tịch lặng, vì chữ không còn hiện ra trong tâm này nữa.

.... o ....

Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

Written and translated by Nguyên Giác

 
This article aims to compare the Dhammapada with Zen Buddhism. It will explore the idea that during meditation, both belief in the Buddha and doubt about the Buddha can lead practitioners astray, resulting in unwholesome dharmas and an inability to perceive the Dharma of Unconditioned.

To enter Buddhism, one must first believe in and take refuge in the Buddha, the Dharma, and the Sangha. Practitioners of the Buddha's teachings must embrace the Four Noble Truths: Suffering, Origin, Extinction, and the Path. In the course of practice, individuals must cultivate faith, morality, knowledge, generosity, and wisdom to eliminate unwholesome dharmas. Therefore, those who lack genuine faith in the Buddha will find it challenging to embark on the long journey toward liberation.

Faith is the first step on the path to practicing the Dharma. Why do Zen masters claim that believing in the Buddha can be detrimental? Some even assert that if you encounter the Buddha, you should kill the Buddha. However, it is essential to recognize that doubting the Buddha is akin to closing off your own entrance and violating the three refuges. In Zen, many masters emphasize that practitioners must navigate through the door of doubt to truly understand and enter the path, as profound doubt can lead to profound enlightenment. Why is this the case? The challenge lies in the fact that language often fails to convey the necessary states of mind. When Zen masters advocate for doubt, many of them have already cultivated a deep faith in the Buddha and have maintained a balance of both faith and doubt in their minds for decades.

It's crucial to realize that the doubt a Chinese or Vietnamese Zen master mentioned wasn't just about the Buddha himself. The Dhammapada, specifically story 97, records thirty monks claiming Sariputta harbored doubts about the Buddha and lacked sufficient faith in him. This assertion is particularly striking considering that Sariputta had already attained liberation and was one of the Buddha's two foremost disciples.

We examine this case to illustrate that for a practitioner, even during meditation, harboring faith in the Buddha or experiencing doubts about the Buddha constitutes a failure. The practitioner's mind during meditation must be free from any reasoning processes that could lead to conclusions, whether affirming or negating. Only a master of reasoning would engage in such processes to arrive at the conclusion that one must either believe in or doubt the Buddha. A true Zen master transcends all conclusions and, therefore, remains uninvolved in faith or doubt regarding the Buddha.

Simply put, when Venerable Sariputta instructed the other thirty monks to meditate on the senses, he did not address the concepts of belief or doubt. Meditating on the senses involves focusing on what is seen, heard, smelled, tasted, touched, and thought about. Through the six senses, the monks must recognize impermanence, suffering, and non-self. While Chinese and Vietnamese Zen masters emphasize the importance of examining the mass of doubt—essentially, reflecting on one's thoughts and the mind itself—this introspection reveals the winds of impermanence sweeping away all the dharmas within the mind.

The story in the Dhammapada is summarized as follows: While residing at the Jetavana Monastery, the Buddha spoke Verse 97 of the Dhammapada. Thirty monks from a nearby village came to Jetavana to pay homage to the Buddha. The Buddha recognized that the time was ripe for these monks to attain arahantship. Therefore, he summoned Sariputta, and in the presence of those monks, the Buddha asked, "Sariputta, do you accept the truth that by meditating on the senses, one can realize Nibbana?"

Venerable Sariputta replied, "Venerable, sir, in realizing Nibbana through the meditation on the senses, I do not accept it solely based on my faith in you; rather, it is only those who have not personally experienced it who accept that truth from the words of others."

Sariputta's response was misunderstood by the thirty monks. They believed, "Sariputta has not yet relinquished his erroneous views. Even now, Sariputta still lacks faith in the Buddha."

The Buddha then explained to them the true meaning of Sariputta's response. "Monks, Sariputta's answer is simply this: he acknowledges that Nibbana is attained through meditation on the senses. However, Sariputta's acceptance stems from his own realization, not merely because I said so or someone else did. Sariputta has faith in me, and he also believes in the consequences of good and bad deeds."

Then the Buddha spoke in verse as follows, according to the translations by Venerable Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, and Bhante Suddhāso.

Verse 97: He who is not credulous, who has realized the Unconditioned (Nibbana), who has cut off the links of the round of rebirths, who has destroyed all consequences of good and bad deeds, who has discarded all craving, is indeed the noblest of all men (i.e., an arahat). (Translated by Daw Mya Tin)

After listening to the Buddha, all the monks attained the fruit of Arhatship. Therefore, the Buddha emphasized that practitioners must transcend mere faith and truly understand the Dharma of Unconditioned.

The term Unconditioned -- or Unmade or Uncreated -- refers to a state that is free from conditions and is not the result of creation. You can approach Unconditioned by examining your mind and consistently observing the awareness of unknowing. In this state, you recognize that you are contemplating the thought of not knowing.  Consequently, your mind becomes like an empty sky—limitless and free from any conclusions. In this way, you will avoid falling into conclusions, dreams, or desires.

In a mind that embraces not-knowing, there is no greed, anger, or delusion. When you continuously observe this state of not knowing, you will notice that no thoughts arise, for it is akin to a flowing river of impermanence, washing away everything that comes into being. Many Zen masters refer to this fluid perspective of impermanence in the mind as the mind of doubt. However, the term “doubt” is a misleading characterization; it would be more accurate to describe this mind as one that has relinquished all conclusions.

As soon as you see that there is no self that is believing or doubting, then you will see that there is no “I am” and there is no “I am not." At that moment, you will transcend the duality of belief and doubt. By examining the mind at that time, you will find yourself distanced from both existence and non-existence. After listening to the Buddha, the thirty monks discovered their detachment from belief, turned their attention inward, and perceived the Unconditioned, which is not created by anything. This realization leads to a liberated mind.

Venerable Sariputta instructed the monks to relinquish faith and meditate on the senses, where the Unconditioned can be realized. Similarly, Chinese and Vietnamese Zen masters have also advised abandoning faith, which we sometimes refer to as doubt. However, to be precise, it is about perceiving the mind of not knowing; in doing so, the Unconditioned will be realized. In this state of mind, there is neither faith nor doubt. All language becomes silent, as words no longer manifest in this mind.

.... o ....
 

• Biểu Tình “No Kings” Thứ Bảy 17 Tháng 10: Từ Chống Trump Sang Vận Động Cử Tri Đi Bầu Sớm • Ukraine Bị Hạn Chế Liên Lạc Vệ Tinh Starlink Giữa Chiến Tranh, Elon Musk Nói Quyền Quyết Định Nằm Trong Tay Tổng Thống Trump • 7 Tàu Hàng Ở Hắc Hải Bị Tấn Công, NATO Lo Nga Đang Thăm Dò Phản Ứng Của Liên Minh • Thiếu Niên 16 Tuổi Bắn Chết 3 Học Sinh Và Một Giáo Viên Tại Trường Tiểu Học Oregon, Bị Người Dân Bắn Hạ • Bị Cả Hai Đảng Chỉ Trích, Trump Hủy Kế Hoạch Truyền Hình Trực Tiếp Cuộc Hành Quyết Bằng Súng • Ứng Cử Viên Dân Chủ Bảo Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa Susan Collins “Im Đi” Trong Cuộc Tranh Luận Nảy Lửa Ở Maine • Anh Ngưng Bán Sách Của Nhà Văn Sally Rooney Vì Bà Tài Trợ Nhóm Ủng Hộ Palestine Bị Cấm • Sau 25 Năm, Hoa Kỳ Có Loại Kem Chống Nắng Mới, Bảo Vệ Da Tốt Hơn Mà Không Để Lại Vệt Trắng • Ghi Danh Cho Chó Đi Bầu, Phụ Nữ Cộng Hòa Ở Quận Cam Phải Trả Tiền Dựng Bảng Quảng Cáo Chống Gian Lận Bầu Cử • Hoa Kỳ Chi 4,4 Tỷ Mỹ Kim Khôi Phục Ba Nhà Máy Điện Nguyên Tử Đã Đóng Cửa Để Cung Cấp
Từ tháng 1 năm 2025 đến tháng 8 năm 2026, chính quyền Tổng Thống Donald Trump đã trục xuất ít nhất 25,427 người sang những quốc gia không phải quê hương của họ, trong đó gần 20,000 người, tương đương 80%, bị đưa sang Mexico. Nhiều người không có thân nhân, không được phép làm việc và phải sống nhờ các cơ sở cứu trợ hoặc lang thang ngoài đường. Đây là kết quả cuộc điều tra kéo dài sáu tháng của Forbidden Stories, với sự tham gia của 72 ký giả thuộc 26 cơ quan truyền thông. Nhóm phóng viên đã phỏng vấn 35 người bị trục xuất sang các quốc gia mà họ không có liên hệ, trong đó phần lớn những người được gặp tại miền nam Mexico là người Cuba trên 50 tuổi.
Một phụ nữ gốc Sierra Leone sống tại Hoa Kỳ hơn 30 năm, làm y tá suốt hai thập niên, nuôi con và chăm sóc cha mẹ, đã bị chính quyền Trump trục xuất sang Ghana, một quốc gia bà chưa từng đặt chân đến. Tại đây, bà tiếp tục bị cưỡng bách đưa về Sierra Leone, bất chấp lệnh của tòa di trú Hoa Kỳ cấm trục xuất bà về quê hương vì nguy cơ bị đàn áp. Trường hợp của Rabbiatu Kuyateh là một trong những câu chuyện được ghi nhận trong cuộc điều tra của Forbidden Stories và France 24, công bố ngày 22 tháng 9, 2026. Phóng sự sau đây lần theo hành trình của 19 người trên một chuyến bay trục xuất từ Hoa Kỳ sang Ghana tháng 11 năm ngoái, phơi bày những khoảng cách giữa sự bảo vệ của luật pháp và số phận thực tế của người bị trục xuất.
Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh Việt Nam đã tiếp nhận 110 công dân Việt Nam bị trục xuất từ Hoa kỳ; đây là nhóm mới nhất trong làn sóng trục xuất về Việt Nam đang gia tăng mạnh mẽ kể từ năm 2025. Các tài liệu tòa án cho thấy Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Mỹ (ICE) đã trục xuất 1,851 công dân Việt Nam trong các năm tài chính 2024, 2025 và 2026, tính đến tháng 6, trong đó riêng năm tài chính 2026 là 1,094 người. Con số của năm tài chính 2026 sau đó đã tăng thêm gần 200 người.
Liên Hiệp Quốc ngày 8 tháng 10 cảnh báo rằng những tiến bộ nhanh chóng trong kỹ thuật thần kinh có thể mở đường cho chính quyền xâm nhập vào não bộ con người, thu thập những suy nghĩ riêng tư, thậm chí dùng thông tin ấy để buộc tội hoặc bắt giữ người dân vì những hành vi họ chưa hề thực hiện. Trong báo cáo đầu tiên về vấn đề này, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc António Guterres cảnh báo rằng các kỹ thuật thần kinh (neurotechnology) đang phát triển nhanh đến mức khả năng tiếp cận và tác động đến hoạt động não bộ có thể trở thành một mối đe dọa đối với những quyền tự do căn bản của con người. Nếu bị lạm dụng, chúng có thể dẫn đến việc bắt giữ tùy tiện, thay đổi trạng thái tinh thần của một người và xâm phạm đời sống riêng tư.
Hàng trăm siêu thị tại Pháp bị tin tặc tấn công hệ thống điều khiển tủ lạnh và tủ đông, đẩy nhiệt độ lên tới 50 độ C (122 độ F), khiến thực phẩm hư hỏng hàng loạt và một số nơi phát hỏa. Giới chức Pháp hôm thứ Hai, 12 tháng 10, cho biết đây là một cuộc tấn công điện toán quy mô lớn, có thể đã lan sang nhiều quốc gia Âu Châu. Theo văn phòng công tố Paris, tin tặc xâm nhập hệ thống làm lạnh có kết nối Internet của nhiều hệ thống siêu thị lớn. Thủ tướng Pháp Sébastien Lecornu đã ra lệnh cho Cơ Quan An Ninh Điện Toán Quốc Gia (ANSSI) điều tra, đồng thời phối hợp với các nước Âu Châu để xác định phạm vi thiệt hại.
Liên Hiệp Quốc ngày 8 tháng 10 cảnh báo rằng những tiến bộ nhanh chóng trong kỹ thuật thần kinh có thể mở đường cho chính quyền xâm nhập vào não bộ con người, thu thập những suy nghĩ riêng tư, thậm chí dùng thông tin ấy để buộc tội hoặc bắt giữ người dân vì những hành vi họ chưa hề thực hiện. Trong báo cáo đầu tiên về vấn đề này, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc António Guterres cảnh báo rằng các kỹ thuật thần kinh (neurotechnology) đang phát triển nhanh đến mức khả năng tiếp cận và tác động đến hoạt động não bộ có thể trở thành một mối đe dọa đối với những quyền tự do căn bản của con người. Nếu bị lạm dụng, chúng có thể dẫn đến việc bắt giữ tùy tiện, thay đổi trạng thái tinh thần của một người và xâm phạm đời sống riêng tư.
Hàng trăm siêu thị tại Pháp bị tin tặc tấn công hệ thống điều khiển tủ lạnh và tủ đông, đẩy nhiệt độ lên tới 50 độ C (122 độ F), khiến thực phẩm hư hỏng hàng loạt và một số nơi phát hỏa. Giới chức Pháp hôm thứ Hai, 12 tháng 10, cho biết đây là một cuộc tấn công điện toán quy mô lớn, có thể đã lan sang nhiều quốc gia Âu Châu. Theo văn phòng công tố Paris, tin tặc xâm nhập hệ thống làm lạnh có kết nối Internet của nhiều hệ thống siêu thị lớn. Thủ tướng Pháp Sébastien Lecornu đã ra lệnh cho Cơ Quan An Ninh Điện Toán Quốc Gia (ANSSI) điều tra, đồng thời phối hợp với các nước Âu Châu để xác định phạm vi thiệt hại.
Cảnh sát tại Lansing, thủ phủ tiểu bang Michigan, đang điều tra khả năng có một kẻ giết người hàng loạt sau khi năm người đàn ông thiệt mạng trong vòng chưa đầy một năm, dọc theo một đoạn đường mòn ven sông gần trung tâm thành phố. Đáng chú ý, cả năm nạn nhân dường như đều là người vô gia cư. Cảnh sát trưởng Lansing, Robert Backus, cho biết năm trường hợp tử vong xảy ra từ tháng 10 năm 2025 đến tháng 9 năm 2026, trên một đoạn đường mòn dài khoảng 1.5 dặm thuộc Lansing River Trail. Trong số này, ba cái chết đã được xác định là án mạng. Hai trường hợp còn lại chưa có kết luận chính thức về tính chất cái chết.
Theo tin độc quyền của báo Radar: Bộ Tư pháp của Trump đối mặt với cuộc chiến pháp lý mới khi 14 cơ quan truyền thông yêu cầu công khai hồ sơ vụ khám xét nhà riêng của Dân Biểu Ilhan Omar. Bản tin của phóng viên Ashlyn Walker. Theo thông tin từ RadarOnline.com, Bộ Tư pháp của Tổng thống Trump đang phải đối mặt với một cuộc chiến pháp lý mới sau khi 14 cơ quan truyền thông lớn yêu cầu công khai các hồ sơ tòa án có tính bí mật liên quan đến vụ khám xét của chính quyền liên bang tại nhà riêng của Dân Biểu Ilhan Omar ở thủ đô Washington, D.C.
Nếu quăng bỏ nhiều phiếu ở phía đông Quận Los Angeles (trong CA-45), Dân Biểu Derek Trần (Dân Chủ) cơ nguy thua phiếu Chương Võ (Cộng Hòa). . Cử tri California cảnh giác: phiếu của bạn có thể bị Trump quăng bỏ. Bản tin của Los Angeles Times, phóng viên Kevin Rector ghi nhận trong bản tin có nhan đề "Justice Dept. sues California, seeks to stop state from counting 20,000 ballots" (Bộ Tư pháp kiện California, yêu cầu ngăn tiểu bang này kiểm đếm 20.000 lá phiếu).
Công giáo và Tin Lành bầm dập vì Trump: cứ 12 giáo dân là có 1 người hay có 1 người thân trong diện bị trục xuất - Tuyên bố chung ghi lời Chúa dạy trong Kinh Thánh, nhưng vài giáo hội Cơ Đốc nhỏ hơn nói người nhập cư là gánh nặng
- Tòa xử vụ cựu Thị trưởng Oakland, bạn đời của bà, và 2 doanh nhân David và Andy Dương về hối lộ, gian lận // David và Andy Dương cơ nguy 95 năm tù giam - Công tố nói David Dương là một Bố Già, nhưng các bạn biểu tình nói họ Dương tử tế, làm từ thiện, không phải Bố Già
Những rào cản chính gây khó khăn cho các cộng đồng cử tri sắc tộc tham gia bầu cử: chính quyền liên bang làm suy yếu Đạo luật Quyền Bầu cử; các quy định nghiêm ngặt về giấy tờ tùy thân và ghi danh cử tri; số lượng trung tâm bầu cử giảm; các điểm bỏ phiếu nằm quá xa đối với nhiều cử tri không có phương tiện đi lại.
Học Phật hiển nhiên không hẳn là thuần túy học chữ, kiếm văn bằng. Học chữ chỉ là trợ duyên để chúng ta đọc Kinh, đọc sách, và để hiểu rõ con đường giải thoát qua khái niệm và kiến thức. Tuy nhiên, nếu các chữ mình học thuộc đó không chuyển hóa để tu dưỡng thân và tâm, chúng ta sẽ không bao giờ giải thoát. Đó là lý do có rất nhiều vị kiến thức về Phật học rộng mênh mông, nhưng chỉ có thể làm giáo sư, làm người trao truyền kiến thức; bạn hãy để ý xem, họ sẽ nổi giận, sẽ sân si ngay khi họ có chuyện bất như ý.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.