Hôm nay,  

Phật Giáo và Di Dân

18/06/202508:42:00(Xem: 2869)
blank

Phật Giáo và Di Dân
 

Nguyên Giác
 

Đạo Phật là đạo của từ bi và trí tuệ. Hai phẩm chất này không liên hệ chút gì tới màu da, sắc tộc. Con đường giải thoát là Bát Chánh Đạo, cũng hoàn toàn không phân biệt gì tới sắc tộc, màu da. Tu tập hàng ngày là phải viễn ly, buông bỏ, xa lìa tham sân si -- và như thế, cũng hoàn toàn không dính chút gì tới những bức tường biên giới hay các bãi mìn giữa các quốc gia tranh chấp.
 

Chúng ta không tránh khỏi những suy nghĩ về các vấn đề đang sôi động trong xã hội Hoa Kỳ, khi cộng đồng mình được nhắc nhở rằng khi đi ra phố nhớ mang theo giấy tờ chứng minh mình là công dân Mỹ hay là người cư trú hợp pháp. Bài này sẽ không nói tới những tranh luận nhạy cảm. Nơi đây, chỉ nêu lên câu hỏi rằng: trong các môn đệ đầu tiên của Đức Phật, có phải có một vị A la hán da trắng, gốc di dân từ xa vào Ấn Độ?
 

Thực tế, Đạo Phật tại Việt Nam thời rất xa xưa, và tại Hoa Kỳ hai thế kỷ qua, là tôn giáo do di dân mang tới, và cũng từ các vị sư Hoa Kỳ sang Châu Á tu học và rồi về Mỹ thiết lập các tu viện. Nhà sư di dân nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Hoa là ngài Bồ Đề Đạt Ma.
 

Nhà sư di dân đầu tiên hoằng pháp tại Việt Nam là ngài Phật Quang, dạy đạo cho cặp vợ chồng Chử Đồng Tử và Tiên Dung, rồi hai người này trở thành hai Phật tử đầu tiên tại Việt Nam. Tiên Dung là con gái của vua Hùng Vương thứ 18, cũng là đời Vua Hùng cuối cùng - khoảng năm 258 trước Tây lịch. Theo sử, các thương nhân nước ngoài xuất hiện tại khu chợ của Chử Đồng Tử và Tiên Dung rất có thể là từ Ấn Độ. Do vậy, khi cùng các thương gia đi buôn trên biển, Chử Đồng Tử đã ghé vào một hòn đảo để lấy nước ngọt và gặp nhà sư Ấn Độ có tên Phật Quang. Phật giáo Việt Nam từ cơ duyên này bắt đầu.
 

Chúng ta rất khó nói được thời Đức Phật, vị sư nào là di dân hay không phải di dân. Thời xưa, chưa có chuyện cửa khẩu dựng lên giữa các quốc gia, và lúc đó khái niệm quốc gia cũng không giống như chúng ta suy nghĩ bây giờ. Thời đó là của các vương triều, các lãnh chúa. Biên giới co thể thay đổi rất nhanh. Thêm nữa, hẳn là thời kỳ đó, sự kỳ thị rất hiếm xảy ra giữa các sắc tộc gần nhau. Thí dụ, một người ở Đồng Tháp khi gặp một người từ Nghệ Tĩnh tới, giọng nói sẽ khó hiểu, khó tương tác với nhau, nhưng cảm xúc kỳ thị sẽ không có, hoặc rất ít.
 

Thời Đức Phật hẳn cũng như vậy, đôi khi trở ngại ngôn ngữ, nên Đức Phật khi thuyết pháp phải nói nhiều ngôn ngữ khác nhau. Theo các sử gia, Đức Phật Thích Ca thường nhất là đã thuyết pháp bằng tiếng Magadhi Prakrit (ngôn ngữ của vùng Ma Kiệt Đà – Magadha), một dạng ngôn ngữ Prakrit phổ biến ở vùng Magadha, nơi Ngài giảng dạy. Tùy vào địa phương, Đức Phật có thể đã sử dụng một số phương ngữ khác thuộc hệ Prakrit, vì ngài đi khắp các vương quốc như Kosala, Vajjī, Kuru, v.v. Đức Phật cũng không kỳ thị, vì ngài từng nói: Này các Tỳ-kheo, ta cho phép học lời Phật bằng ngôn ngữ riêng của mỗi người. Các kinh điển Phật giáo sau này được ghi chép lại bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, bao gồm tiếng Pali, Sanskrit, Gandhari-Prakrit, và Buddhist Hybrid Sanskrit.
 

Có một quan điểm từ một số truyền thống Phật giáo rằng lời Đức Phật nói là Phật Âm Vi Diệu, tức là một âm thanh mà mọi chúng sanh đều có thể hiểu được bất kể ngôn ngữ của họ. Điều này có lẽ chỉ muốn nhấn mạnh sự phổ quát của Chánh pháp, vượt qua rào cản ngôn ngữ thông thường.
 

Trong một cuộc thảo luận, nhà sư Sujato -- Trưởng ban Biên tập SuttaCentral, một kho kinh tạng Phật giáo lớn nhất thế giới hiện nay -- nói rằng có một vị A La Hán da trắng, mũi cao, có vẻ như người từ Châu Âu, hay từ Iran (tên cổ là Ba Tư) là môn đệ trực tiếp của Đức Phật. Ngài Sujato cũng là người dịch hầu hết (và có thể là tất cả) các Kinh trong Tạng Pali sang tiếng Anh, nên nhận định này là dựa vào kinh điển.
 

Bhikkhu Sujato viết, trích: “Nhà sư ‘da trắng’ đầu tiên là Tôn giả Mahākappina, một trong những đệ tử vĩ đại. Ngài xuất hiện trong một số đoạn văn, nhưng hầu hết đều không tiết lộ bất cứ điều gì về nguồn gốc của ngài. Nhưng trong SN 21.11, Đức Phật mô tả ngài như thế này: trắng, gầy, có mũi nhọn. Ba đặc điểm này, cùng với từ ‘cao’, chính xác là những đặc điểm thể chất của các nhà sư phương Tây ở các quốc gia Phật giáo ngày nay. Các thuật ngữ Pali rất chính xác và khác thường.”
 

Nơi một đoạn khác, ngài Sujato cũng viết: “Trong khi các EBT (Kinh Phật Sơ Kỳ) không cung cấp thêm thông tin nào về lý lịch của ngài, thì các Chú giải nói rằng ngài đến từ một vùng đất xa về phía tây. Đất nước đó được gọi là Kukkutavati, hay ‘Chookland’, và tôi không chắc liệu có thể xác định được hay không. Giữa vùng đó và vùng đất ở giữa, người ta nhấn mạnh rằng phải vượt qua ba con sông lớn, một trong số đó, Candabhāgā, được xác định là Sông Chenab hiện đại ở Pakistan.”
 

Trong một kết luận, Bhikkhu Sujato viết: “Về nguồn gốc thực sự của ông, thật khó để nói: có rất nhiều vùng đất ở phía tây Ấn Độ. Tất nhiên ông có thể là người Hy Lạp, trong trường hợp đó ông sẽ là người châu Âu đầu tiên được nhắc đến trong các văn bản Ấn Độ. Nhưng có nhiều khả năng ông đến từ đâu đó ở vùng đất rộng lớn phía tây Pakistan, có lẽ là Persia.”
 

Vùng đất có tên Persia trong tiếng Việt thường dịch là Ba Tư, tên mới bây giờ gọi là Iran. Dĩ nhiên, không ai có thể khẳng định 100% những chuyện xảy ra thời Đức Phật, vì lúc đó chưa có sử, chưa có giấy mực như vài thế kỷ sau, lúc đó các nhà sư gìn giữ Chánh pháp phải chia kinh ra theo các bộ để học thuộc lòng, truyền khẩu từ thế hệ này qua thế hệ sau.
 

Nơi đây, chúng ta có thể trích từ Kinh SN 21.11, theo bản dịch của Thầy Minh Châu, để thấy rằng  Tôn giả Mahà Kappina nổi bật lên với da trắng, gầy cao và mũi cao như thế nào. Trích:
 

“Rồi Tôn giả Mahà Kappina đi đến Thế Tôn.

Thế Tôn thấy Tôn giả Mahà Kappina từ đường xa đi đến.

Sau khi thấy, Thế Tôn liền gọi các Tỷ-kheo:

— Các Ông có thấy không, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo kia đi đến, da bạc trắng, ốm yếu, với cái mũi cao?

— Thưa có, bạch Thế Tôn.

— Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, có đại thần thông, có đại uy lực. Thật không dễ gì đạt được sự chứng đắc mà trước kia vị Tỷ-kheo ấy chưa chứng đắc. Vị ấy còn ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà vì mục đích này, con các lương gia chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.” (ngưng trích)
 

Chúng ta có thể suy đoán rằng, nếu ngài Mahākappina là di dân vào Ấn Độ từ thơ ấu, thì học ngôn ngữ dễ dàng, nghe pháp không trở ngại. Nhưng nếu ngài di dân vào Ấn Độ khi tuổi cao, thì ngôn ngữ là trở ngại. Chúng ta có thể đoán thêm, khi đó, pháp tiện lợi nhất để dạy rất ít lời là Niệm Hơi Thở.
 

Trong Trưởng Lão Tăng Kệ Thag 10.3, theo bản Việt dịch của ngài Bhikkhu Indacanda, chúng ta thấy rằng Trưởng lão Mahākappina kể rằng ngài niệm hơi thở như Đức Phật dạy, rồi thấy tâm ngài chiếu sáng cõi này, như trăng rời mây, trong trắng, chiếu sáng các phương. Trích như sau:
 

“Niệm hơi thở vào hơi thở ra của vị nào được tròn đủ, khéo được tu tập, được tích lũy theo thứ lớp giống như điều đã được thuyết giảng bởi đức Phật, vị ấy chiếu sáng thế gian này, tựa như mặt trăng được thoát khỏi đám mây.

Thật vậy, tâm của tôi trong trắng, không hạn lượng, đã được khéo tu tập, đã được thấu triệt, và đã được nắm chắc, nó chiếu sáng tất cả các phương.” (ngưng trích)
 

Đứng về cách nhìn của nhà Phật, chúng ta thấy hoàn toàn không có chuyện xem người này hay người kia là hạ tiện, là thấp kém, chỉ vì dựa theo nơi họ ra đời, hay dựa theo giai cấp. Kẻ hạ tiện, hay kẻ thấp kém, là do hành động của họ, chứ không phải do dòng tộc hay quốc độ họ xuất thân. Nơi đây, chúng ta trích dịch, dựa theo hai bản Anh dịch, lời Đức Phật dạy trong Kinh Snp 1.7 về Kẻ Hạ Tiện (The Lowlife, The Outcaste). Như sau:
 

“Một người giận dữ, cay độc, có những hung ác giả hình, lừa gạt và có ác kiến, được gọi là "kẻ hạ tiện."

Kẻ đó làm hại các sinh vật sinh ra từ tử cung hoặc từ trứng, và không có lòng thương xót với các sinh vật, được gọi là "kẻ hạ tiện."

Kẻ giết người trong thị trấn và làng mạc, mang lại sự hủy diệt, và rồi cư xử áp bức - được biết đến vì điều đó, được gọi là "kẻ hạ tiện."

Kẻ nào trong rừng hoặc trong thị trấn ăn cắp bất cứ thứ gì không được cho, từ những người khác mà nó có giá trị, được gọi là "kẻ hạ tiện."

Bất kỳ ai vay nợ nhưng khi được thúc giục trả nợ, sau đó trả lời, "Tôi thực sự không nợ bạn", được gọi là "kẻ hạ tiện."

Kẻ nào, vì một món đồ nhỏ từ người lữ hành trên đường, đã giết người để cướp, được gọi là "kẻ hạ tiện."

Bất kỳ ai vì của cải của bản thân hoặc của người khác, hoặc vì lợi ích tài sản, khi bị chất vấn về điều này, đã nói dối, được gọi là "kẻ hạ tiện."

Bất kỳ ai "được nhìn thấy" với vợ của người khác, của họ hàng và của bạn hữu, những người đồng thuận hay cưỡng ép, được gọi là "kẻ hạ tiện."

Bất kỳ ai đối với mẹ hoặc cha của họ đã qua tuổi trẻ và đã đến tuổi già, mặc dù giàu có, nhưng không hỗ trợ cha mẹ, được gọi là "kẻ hạ tiện."

Bất kỳ ai tấn công hoặc thốt ra lời căm ghét đối với mẹ, cha, anh em trai, chị em gái hoặc mẹ  của người hôn phối, được gọi là "kẻ hạ tiện."

Người được yêu cầu cho lời khuyên tốt nhưng lại trả lời bằng cách đưa ra lời khuyên xấu, rồi đưa ra lời khuyên với mục đích ẩn giấu, được gọi là "kẻ hạ tiện."

Bất kỳ ai trù ẻo nghiệp xấu cho người khác mà họ có thể không biết, rồi che giấu những hành động xấu này, được gọi là "kẻ hạ tiện."

Ai đến nhà người khác, được tiếp đãi tử tế, rồi không tôn trọng lại người kia, thì được gọi là "kẻ hạ tiện."

Bất kỳ ai, Bà la môn, Sa môn, hoặc thậm chí những người nghèo khổ đi ăn xin, lừa dối họ bằng lời nói dối trá, được gọi là "kẻ hạ tiện."

Bất kỳ ai khi đến giờ ăn, chửi mắng các Bà la môn, Sa môn và sau đó không cúng cho họ thứ gì, thì được gọi là "kẻ hạ tiện."

Bị che phủ, bị si mê, người bói toán những điều không đúng sự thật mong muốn ngay cả vì chút lợi ích nhỏ, thì được gọi là "kẻ hạ tiện."

Bất kỳ ai tự đề cao mình trong khi coi thường người khác, mặc dù thấp kém, do lòng tự phụ, thì được gọi là "kẻ hạ tiện."

Cũng khiêu khích và ích kỷ, có những ham muốn xấu xa, keo kiệt, xảo quyệt, vô liêm sỉ, không hối hận, thì được gọi là "kẻ hạ tiện."

Bất kỳ ai xúc phạm Đức Phật, sỉ nhục các đệ tử của Ngài, dù là người xuất gia hay tại gia, thì được gọi là "kẻ hạ tiện."

Người nào, mặc dù không phải là A-la-hán, nhưng lại giả vờ là A la hán. Trong thế giới với các vị thần, kẻ gian đó thực sự là kẻ hạ tiện nhất. Những kẻ đó được gọi là hạ tiện. Ta đã giải thích cho các ngươi.

Không ai là kẻ hạ tiện từ khi sinh ra, cũng không phải là Bà la môn từ khi sinh ra. Họ là kẻ hạ tiện bởi những hành động của họ, và là Bà la môn bởi những hành động của họ."(hết trích dịch)
 

Đó là lời Đức Phật dạy. Không phải vì họ khác màu da với mình, cũng không phải vì họ nghèo hơn, học kém hơn, và làm việc nặng nhọc hơn mà mình có quyền khởi tâm coi thường họ. Hãy nhớ rằng, nếu không có di dân, chúng ta sẽ không gặp Đạo Phật như hiện nay.
 

Và hãy nhớ rằng, Đức Đạt Lai Lạt Ma và Thầy Nhất Hạnh là hai vị trong các Phật tử di dân nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 và 21 của chúng ta. Hãy nghĩ xem, thế giới sẽ ra sao nếu không có di dân.
 

THAM KHẢO:

. Racism and the first white monk:

https://discourse.suttacentral.net/t/racism-and-the-first-white-monk/2920

. Kinh SN 21.11, bản dịch Thầy Minh Châu:

https://suttacentral.net/sn21.11/vi/minh_chau

. Trưởng Lão Tăng Kệ Thag 10.3. Bản dịch Bhikkhu Indacanda:

https://suttacentral.net/thag10.3/vi/indacanda

. Kinh Snp 1.7. Who is the Outcaste? / The Lowlife

https://suttacentral.net/snp1.7/en/mills

https://suttacentral.net/snp1.7/en/sujato

 



GARDEN GROVE (VB/PTH) -- Nhà văn Trịnh Y Thư vừa thực hiện buổi ra mắt sách với thân hữu tại tòa soạn Việt Báo hôm Thứ Sáu 18/3/2022. Người tham dự không nhiều, nhưng đều là những người đã có nhiều thập niên sống trong ngành báo chí, xuất bản, sáng tác văn học.
Từ ba vị thế khác nhau với những lập trường chính trị có khi khác hẳn nhau, cả Ngô Nhân Dụng, Huy Đức và Nguyễn Văn Tuấn đều có nhận định giống nhau về giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay: Hèn!
UKRAINE Vladimir Putin nói chiến dịch quân sự đến Ukraine vì muốn ngăn chận cuộc diệt chủng bởi Ukraine, nhưng ngược lại Putin đã làm cho tên thành phố Mariupol được đi vào lịch sử, khi mọi người sau này nhắc đến những tội ác của chiến tranh, nơi mà những đứa bé sơ sinh bị giết chết bởi các mảnh đạn, nơi có những hố chôn người tập thể, và nhà hát, chỗ trú ẩn của hàng ngàn trẻ em và phụ nữ, bị dội bom. Mariupol là thành phố cảng với hơn 400 ngàn cư dân. Thành phố này nằm ở vùng Donetsk, vào năm 2014 những cuộc chiến ác liệt cũng đã xảy ra trên đường phố của Mariupol. Lần này, Mariupol bị bao vây chỉ vài ngày sau khi cuộc tấn công của Nga bắt đầu vào ngày 24 tháng 2.
UKRAINE Sáng sớm thứ sáu ngày 18 tháng 3 năm 2022, theo giờ Ukraine, nhiều vụ nổ đã xảy ra ngay sát thành phố Lyiv, theo tin BBC.
Hầu hết người Việt cho rằng vẽ và viết trên tường, trên vỉa hè, trên mặt đường, trên trụ, trên hàng rào là vẽ viết bậy, làm dơ bẩn thành phố. Ở Singapore, nếu bắt được vì vẽ viết bậy sẽ trừng phạt nặng nề, bị đánh đòn và ở tù. Graffiti là tên gọi của nghệ thuật vẽ này. Nghệ thuật? Vâng, đúng là nghệ thuật. Nó có một tên khác, bình dân hơn, Street Art. (Nghệ thuật bên đường, vẽ bên đường.) Tôi đặc biệt yêu thích nghệ thuật bên đường này vì một số lý do, trong đó, “đẹp” là yếu tố lớn trong hội họa đã trở thành thứ yếu, hoặc nói một cách cao kỳ hơn, cái đẹp nhan sắc trở thành cái đẹp tính nết. Rồi “cái nết đánh chết cái đẹp.” Thẫm mỹ trong nghệ thuật gần như là một khối, không thể tách rời. Nghệ thuật phải có đẹp. Có đẹp mới có nghệ thuật. Thẩm mỹ càng cao, càng nhiều, nghệ thuật càng được xem trọng. Ý niệm truyền thống này hầu như là tôn chỉ duy nhất trong hầu hết các họa phẩm của các họa sĩ Việt. Người vẽ, người xem, chỉ cần “đẹp” là đủ. Không có gì sai trái, chỉ thiếu thôi.
“Cộng Hòa Điếc” mở đầu bằng hình ảnh một cậu bé điếc bị một người lính của đội quân xâm lược bắn tại một quảng trường công cộng nơi người dân đang biểu tình chống xâm lược. Cả cộng đồng quyết định phản đối vụ giết người này bằng cách từ chối nghe chính quyền. Người dân thị trấn phối hợp với nhau bằng ngôn ngữ ký hiệu. Và ngay giữa bạo lực, người ta vẫn yêu nhau, vẫn cười đùa, vẫn sanh con đẻ cái. Tôi lớn lên chứng kiến sự sụp đổ của Liên Bang Sô Viết và cuộc chiến ở Transnistria — một cuộc chiến trá hình dưới cái tên gọi "chiến dịch viện trợ nhân đạo" đầu tiên của Nga, rất giống với “chiến dịch quân sự” hiện tại ở Ukraine, mặc dù ít công khai hơn. Sau đó, tôi đến Hoa Kỳ, nơi tôi đã sống 12 năm qua tại một thị trấn chỉ cách biên giới Hoa Kỳ / Mễ Tây Cơ 8 dặm. Không có gì lạ khi xe của bạn bị chặn lại để họ tìm kiếm những người đang cố gắng vượt qua biên giới, hoặc nhìn thấy những người bị đưa đi trong xe tải ICE là chuyện thường tình. Và tất nhiên, cũng thấy cả sự tàn bạo của cảnh sát
Hoa Kỳ trao giải 'Phụ nữ Quốc tế Dũng cảm' cho bà Đoan Trang và 11 người khác./ Các Nhà Lập Pháp Ủng Hộ Trừng Phạt Kinh Tế Trung Quốc Nếu Tiếp Tay Cho Nga./ Để bày tỏ sự hỗ trợ cho đất nước Ukraine, các thủ tướng Ba Lan Mateusz Morawiecki, Thủ Tướng Czech (Tiệp) Petr Fiala và Thủ Tướng Slovenia là Janez Jansa hôm thứ Ba tuần này đã bất chấp lửa đạn đi tàu lửa đến thủ đô Kyiv họp mặt với tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskiy, và là các nguyên thủ đầu tiên tới thăm Kyiv từ khi quân Nga xâm lăng Ukraine.
(Robert Mullins International) Sau gần 8 tháng rưỡi chương trình EB-5 Trung tâm vùng hết hiệu lực, Quốc hội đã cho phép cải tổ dài hạn chương trình EB-5 và tái ủy quyền chương trình Trung tâm vùng. Cộng đồng EB-5 trên thế giới thở phào nhẹ nhõm. Riêng các nhà đầu tư Việt Nam đã bày tỏ sự ngạc nhiên vui mừng tột độ, có người không che dấu được cảm xúc vỡ òa trong niềm vui bất tận. Nhất là tại thời điểm phức tạp như hiện nay, trong bối cảnh đại dịch và chiến tranh xâm lăng của Nga vào quốc gia Ukraine
Chiến tranh và ngục tù là bi kịch đau thương nhất trong lịch sử loài người, nó là kinh nghiệm không được rút tỉa để học hỏi và ngăn chặn, cứ thế lặp đi lặp lại khắp nơi trên thế giới, đánh động mãi ký ức con người nên có thể nói rằng không có cuộc chiến và nhà tù nào trở thành quá khứ, nó luôn là hiện tại với dấu lệ và máu không ngừng chảy. Kinh nghiệm chiến tranh, nhà tù, cùng hệ lụy tang thương của nó như vết cắt hằn sâu trong tâm tư tình cảm con dân Việt nam, mà nhà văn Ngô Thế Vinh đã gọi - vết thương không bao giờ lành-, nó sừng sững ở đó, trên đất đá, trên thân thể, trong tâm hồn, trong sử lịch, mà trái tim và lương tâm con người mãi thúc thủ một câu trả lời.
Nếu có ai nói với tôi, là một người có trái tim thú vật. Có lẽ tôi sẽ nỗi giận hoặc mặc cảm buồn rầu. Đây là một câu chửi. Ngụ ý tôi là một loại người giả hình, trong lòng đầy mưu toan ác độc, như một con thú không có nhân tính, ăn thịt luôn đồng loại. Tôi là một súc sinh. Ông Dasvid Bennett, Sr. là súc sinh? Ông là người có tim thú vật. Tim một con heo. Sự tưởng tượng của con người vô cùng tận. Nhiều sự tưởng tượng sau một thời gian trở thành thực tế. Ví dụ: Năm 1870, khi con người còn xa lạ với những chiếc tàu ngầm hữu hiệu, có khả năng lặn xuống biển sâu và đi lại như tàu trên mặt nước, nhà văn pháp Jules Verne đã xuất bản một cuốn truyện “Hai Mươi Ngàn Dặm Dưới Đáy Biển”, cho đến nay vẫn còn nổi tiếng. Hàng tỷ độc giả đã say mê khả năng tưởng tượng kỳ thú của tác giả. Một cuộc phiêu lưu dưới đáy biển sâu, hiểm nguy, gặp nhiều quái vật và vượt qua lắm trở ngại. Vào đầu thế kỷ 20, con người mới thực sự có chiếc tàu ngầm tương đương với chiếc tàu Jules Verne.
Công ty hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất các thiết bị điện cao cấp dùng trong nhà bếp và bình giữ nhiệt chân không, Zojirushi, đã hợp tác với BANDAI NAMCO Entertainment America Inc. để đưa một nhân vật trò chơi điện tử kinh điển vào cuộc sống thông qua những mẫu bình giữ nhiệt chất lượng, bán chạy nhất của họ. Bộ sưu tập PAC-MAN™ Phiên bản Giới hạn gồm hai mẫu bình giữ nhiệt bằng thép không gỉ có hoa văn khác nhau, và được bán riêng lẻ. Bộ sưu tập hiện đã có mặt tại nhiều nhà bán lẻ khác nhau trên toàn quốc, trực tuyến và tại website https://bit.ly/3Lyu4il
Chúng tôi trân trọng giới thiệu cùng quý vị chương trình văn nghệ nhạc sống chủ đề Lovers in the Night (Tình Nhân Trong Đêm) sẽ được tổ chức vào lúc 6 giờ chiều ngày Chủ Nhật 3 tháng 4 năm 2022 tới đây tại rạp Pechanga Summit. Rạp Pechanga Summit là một khu vực rộng 40.000-square foot dành cho các chương trình văn nghệ, các buổi hòa nhạc, sự kiện thể thao trực tiếp, triển lãm thương mại, đám cưới hoặc bất kỳ nhóm lớn nào muốn đặt chỗ. Tổng thể, Pechanga hiện cung cấp 274.500 square feet không gian tổ chức sự kiện và hội họp hiện đại trong nhà hay ngoài trời, điều làm nổi bật một cách đáng kể các tiện nghi, không gian và khả năng thu hút sự chú ý của các sự kiện tổ chức tại Pechanga.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.