Hôm nay,  

Phan Tấn Hải, Hành Giả của Cõi Văn Thơ

20/03/202607:50:00(Xem: 3798)
blankTừ trái: Phan Tấn Hải, Lê Lạc Giao, Tô Đăng Khoa, Nguyễn Lương Vỵ (hình năm 2015)
  

Phan Tấn Hải, Hành Giả của Cõi Văn Thơ
 

Lê Lạc Giao
 

Phạm trù thi ca văn học vốn dĩ không dễ cụ thể miêu tả một cách luận lý (reasonably) nhưng  vẫn là nơi chốn mà con người biểu hiện xúc cảm đặc thù mang tính nghệ thuật. Một cách phổ quát, sáng tác nghệ thuật bắt nguồn từ cảm hứng. Nguồn xúc cảm này tự nhiên vô cầu cho dù sau đó công trình nghệ thuật ấy cho ra kết quả mang tính thẩm định hữu dụng. Bản chất tác phẩm văn thơ tồn tại trong cõi người ta, do đó nó phản ánh trọn vẹn mùi vị cuộc đời. Cũng vì thế mà tôi nôm na xem văn chương chữ nghĩa là cõi bất hạnh do tính biểu hiện phản diện bền vững của nó. Văn học nghệ thuật cống hiến cho con người vô số tác phẩm xuất phát từ bản chất bi đát, phản diện của cuộc đời để rồi được tôn thờ sùng bái hoặc say mê ca ngợi. Nhưng đó chỉ là một mặt trong vô số khuôn mặt của tác phẩm nghệ thuật mà định mệnh của nó, hay nét bi kịch gắn liền với thân phận tác giả một cách tiêu biểu mà không mấy ai xem nó như nghiệp dĩ có thể tránh khỏi.

Nhà văn Phan Tấn Hải suốt một đời làm việc trong cõi bất hạnh mà tôi quan niệm ấy. Cây bút trên tay anh biểu tượng đích thực cho thứ nghiệp dĩ cuộc đời mà bằng vào niềm tin, đạo lý cho anh sức mạnh phấn đấu để tồn tại.  Anh làm thơ, viết văn, làm báo để sống do đó chữ nghĩa chính là môi trường sống của anh.  Trong truyện ngắn “Một thời để mãi võ”, anh xem công việc “sản xuất chữ nghĩa” mỗi ngày của mình không khác công việc “mãi võ Sơn Đông”. Tại sao? Vì anh bước vào trận chiến múa may quay cuồng cây bút trên tay này với tư cách một người kiếm sống. Có nghĩa mưu sinh bằng cây bút không khác múa võ để có miếng ăn. Một cách cụ thể như thế nhưng Phan Tấn Hải khác biệt những đồng nghiệp của mình: Anh là một hành giả chân chính trong trận múa bút cực kỳ khắc nghiệt này, vì anh làm việc với tâm niệm  thực hành đạo lý một cách tự nhiên thuần khiết nhất. Và tính chất ngây thơ trong sáng ấy phản ánh bản chất hành giả Phật giáo trong suốt hành trình cuộc đời. Nó man mác biểu hiện trong từng câu thơ, bài văn, bài báo anh viết ra như tiêu đề lời Bạt tập truyện “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” của chính anh:  “Hạnh Phúc Là Đang Sống Với Chữ” để rồi việc “Đuổi bắt một mùi hương”[1] trở thành một thử thách trên con đường anh tìm về một bến bờ hạnh phúc như câu chuyện “cổ tích” mà anh ước muốn mình viết ngay từ thuở ban đầu cuộc đời.

Nhà văn Phan Tấn Hải, còn có pháp danh Nguyên Giác, là một cư sĩ Phật giáo với công việc tu học, nghiên cứu xiển dương Phật giáo bền bĩ không ngơi nghỉ. Và hai chữ Nguyên Giác hoàn chỉnh ý nghĩa hành giả, rốt ráo cuộc vận hành tìm về thực tánh bằng cái tâm vô trụ trong Cõi Người Ta vô thường này, trong khi “Mùi hương” kia sao quá đùa trêu bỡn cợt tâm hồn anh! Tập truyện “Đuổi Bắt Một Mùi Hương”  của Phan Tấn Hải vừa xuất bản vào tháng 12 năm 2025, và tập truyện này cho tôi bao ưu tư về một tiêu đề mang đầy kịch tính ấy.  

Ngày hôm nay tôi viết bài này, đã có rất nhiều bạn văn viết giới thiệu, bình luận quyển tuyển tập truyện ngắn “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” của nhà văn Phan Tấn Hải trên báo, trên internet rất súc tích, đặc thù và vô cùng tỉ mỉ sâu sắc. Tôi nhận được quyển tuyển tập do anh tặng không chỉ với tư cách độc giả, văn hữu mà còn là bằng hữu[2] hơn năm mươi năm của anh. Anh là thành viên nhóm Nghiên Cứu Triết Học đại học Văn khoa Sài gòn của chúng tôi từ thập niên 1970s. Ngày hôm nay mối giao tình ấy vẫn bền vững tiếp tục trong khi thời gian đã mang một số bạn chúng tôi trong nhóm ra đi. Tôi viết bài này hết sức muộn màng, cũng bởi hoàn cảnh cá nhân cho tôi nhận quyển sách quá trễ; và những dòng chữ này xem như chút đóng góp nhận xét tập truyện ngắn của anh vừa mới xuất bản.

Tập truyện “Đuổi Bắt Một Mùi Hương”  gồm một bài tự sự “Hạnh phúc là đang sống với chữ” cùng 32 truyện ngắn phần lớn anh viết tại Hoa Kỳ, trong đó có một số truyện ngắn tôi từng đã được đọc. Tập truyện có thể đại biểu cho chính phần sáng tác thể loại văn xuôi của nhà văn Phan Tấn Hải nếu tính theo cột mốc thời gian. Từ lời mở đầu cho đến lời bạt, nội dung cả tập truyện ngắn cho thấy một bức tranh khá hoàn chỉnh về con người và cuộc đời tác giả. Phần nội dung truyện ngắn thứ 16 “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” đặc thù hơn nữa tính nhất quán của tiêu đề “Mùi Hương”, dàn trải không những trên con chữ mà thẩm thấu tính chất tâm lý trong các truyện ngắn có nhân vật nữ. Nhân vật “tôi” định hình trong 28 truyện mà mỗi truyện mô tả phần nào khía cạnh cuộc đời của chính tác giả, để rồi “Mùi Hương” ẩn tàng thẩm thấu suốt cuộc đời của nhân vật “tôi” mà chính tác giả đuổi bắt, kiếm tìm.

Tuy nhiên tôi chỉ muốn nắm bắt điều cốt lõi cõi văn chương của một người bạn mà nghiệp dĩ “cầm bút” có thể nói nôm na “vô địch thiên hạ” này về mặt tâm lý. Tại sao? Vì tôi quan niệm phạm trù tâm lý hầu như có thể giải thích bao hiện tượng cuộc đời cụ thể và mang tính luận lý khoa học. Tôi sắp xếp sự suy nghĩ nhận thức của mình và lấy truyện ngắn “Đuổi Bắt Một Mùi Hương” làm trung tâm. Tinh thần truyện ngắn này đại biểu cho cả tập truyện, tuy mỗi truyện đều có bố cục riêng nhưng tôi qui chiếu tâm lý về một “luận đề cốt lõi” nhất định: “Mùi Hương” mà nhân vật chính xưng “tôi” bị ám ảnh vì không giải đáp được sự tồn tại hay chỉ là hư ảo của nó?

Tuy “Mùi hương” của truyện ngắn “Đuổi bắt một mùi hương” ban đầu mang đặc tính cá nhân riêng lẻ, nhưng rồi trở nên đặc thù phổ quát trong suốt tập truyện bởi tính cách định hình và vấn nạn sự tồn tại của nó trong hành trình cuộc đời tác giả. Nếu Mùi Hương là thứ gì đó không định hình để rồi phải đuổi bắt kiếm tìm thì chính Nó lại hiện diện như một tồn tại trong cuộc hiện sinh của chính tác giả. Nó mơ hồ, hư ảo nhưng lại có thật vì cuộc hiện sinh kia có sự diện diện của nó để rồi khát khao, ao ước mong chờ từng bước hình thành.

Có 12 truyện ngắn mà nhân vật nữ xuất hiện bên cạnh chủ thể “Tôi” như một bóng hình cùng một cá tính, một ước mơ và cuối cùng biến mất như một “Mùi Hương” để cái “Tôi” tồn tại trong thắc mắc, lưu luyến, vấn vương.

Tôi cho rằng các nhân vật nữ trong tập truyện Đuổi Bắt Một Mùi Hương của nhà văn Phan Tấn Hải đều chỉ là một mùi hương duy nhất mà anh đuổi bắt trên hành trình cuộc đời. Do đó, dù cố ý hay ngẫu nhiên, cái mùi hương mà anh cảm nhận hay tìm đuổi bắt chỉ là hình tượng ước mơ, khao khát tâm lý của một con người. Và Mùi hương ấy tồn tại hay biến mất cũng hoàn toàn mang tính chủ quan tâm lý mà chủ thể trải nghiệm theo từng giai đoạn “tình cảm” phát triển từ thuở trưởng thành.  Ý nghĩa chữ “Tình cảm” tôi diễn tả ở đây chính là tình yêu, nhưng nếu là tình yêu thì có gì đặc biệt trong cuộc đời của người đàn ông về mặt tâm lý?

Tôi cũng xin nói thêm tất cả các truyện ngắn của anh đều bồng bềnh trong không khí đẫm mùi tín mộ Phật Giáo. Những ngôi chùa (đặc biệt chùa Tây Tạng Bình Dương), Đại Tùng lâm, niệm phật đường, câu kinh, tiếng kệ, chuông mõ và cả những lời đối thoại từ những hạnh ngộ tuổi thơ cho đến ngày hôm nay qua tuổi thất tuần của anh, khi mơ hồ khi rõ rệt đều thấm nhuần trong không thời gian vô cùng tín mộ Phật giáo ấy.  

Nhân vật nữ là những cô gái bước vào cuộc đời nhân vật “tôi” một cách cố ý, hay ngẫu nhiên vô tình xuất hiện rất nhẹ nhàng, khẽ khàng, êm ái để rồi tan biến mất. Tính hội ngộ hay chia lìa, xa cách như thứ mùi hương không hình thù đeo bám, vương vấn quyến luyến không rời tâm trí mà còn vương vãi trên hành trình cuộc đời như thứ chất liệu có thật, tuy bản thân tác giả không hề nắm bắt được.

Nhân vật “tôi” là tác giả hay ai đó mô tả cuộc hạnh ngộ với người con gái và dàn trải suốt 12 truyện ngắn, nhưng căn bản nhân vật nữ ấy một lần hay vài lần hiếm hoi hạnh ngộ từ nhiều thời điểm, hoàn cảnh khác nhau: cô gái bị bệnh nan y, bạn học Phật năm xưa, bạn của bạn gái, bạn của gia đình … đến với nhân vật “tôi” qua việc ở chung phòng, trên cùng chuyến xe, xem phim, làm việc … nhưng chỉ đến đó rồi dừng lại. Những cô gái sau đó ra đi, biến mất và để lại trong lòng tác giả một dư vị phảng phất một mùi hương hay là thứ gì đó mà anh ta cố tìm, cố nắm bắt nhưng không được. Cái khoảng cách ấy rất rõ ràng trong tất cả những truyện ngắn có nhân vật nữ hiện diện.

Mùi hương khởi thủy mà tác giả mô tả trong câu chuyện hết sức mơ hồ lại vô cùng lãng mạn. Nó giản dị nhưng cũng lắm hệ lụy đa đoan vì mùi hương vương vất ấy không tan biến đi mà lại đôi lúc khiến tác giả có cảm giác thấy nó và có thể nắm bắt được.

 …Tôi mở to mắt, nhìn vào bức tường trắng trước mặt, tôi có cảm giác như thấy được mùi hương. Thấy được mùi hương? Đúng vậy. Mùi hương này không phải là làn khói, không mang hình dạng gì hết... Tôi tự hỏi, tại sao lại có cảm giác thấy được bằng mắt. (tr.160)

Nó một mặt biến thành thứ món ăn tinh thần giúp giải tỏa những vấn nạn liên hệ tình cảm đời thường đồng thời cũng trở thành thứ ám ảnh khôn nguôi một khi bản thân tự hỏi nguyên nhân, gốc rễ của thứ mùi hương hư ảo này.

“…tôi chỉ ngạc nhiên vì, thỉnh thoảng phảng phất quanh tôi là một mùi hương lạ, theo cả nhiều thập niên – nó thoang thoảng ở đâu đó, rồi có lúc ẩn, lúc hiện. Mùi hương lạ như tự trời xuống. Mùi hương lạ đấy, không phải mùi nước hoa đâu, cũng không phải kiểu văn chương mà người ta ưa nói là “mùi hương giai nhân” hay “mùi hương con gái” tuy rằng, đúng là có hình ảnh một cô bé nơi đây.” (tr. 150)

Xuất phát từ cái nắm tay của nhân vật “tôi” lúc bấy giờ 17 tuổi với cô gái chừng nhỏ tuổi hơn tại sân chùa Xá Lợi. Ở đây một biểu hiện “xúc giác” va chạm của hai người khác phái tuổi mới lớn và hệ quả tiếp theo bắt đầu “Một Mùi Hương”:

“…Tôi nhìn, chỉ thấy mắt nàng đen lánh, tóc xõa chấm vai... Bất chợt, không hiểu sao, tự nhiên tôi nắm tay cô bé. Bây giờ nhớ lại, tôi nghĩ, có thể lúc đó cô bé tự động nắm tay tôi trước. Tay tôi như điện chạy tê rần, hốt nhiên giật lại. Một mùi hương từ sân chùa theo gió bay ra.” (tr. 153)

Từ đó trở đi, theo mô tả “nhiều thập niên sau” mùi hương ấy lẽo đẽo đi theo “tôi”. Dù có đôi lúc nó biến mất, rồi lại xuất hiện. Nếu bảo “Mùi Hương” là thật thì nó chỉ thật trong khao khát ước vọng của một thanh niên mà “dục tính” tự nhiên mãnh liệt bị đè xuống bên dưới sự đấu tranh giữa ngã và vô ngã trong giáo lý nhà Phật, giữa cảnh giác cao độ của niềm tín mộ “thâm tín nhân quả” với sự thèm muốn hoàn tất của tình cảm yêu đương nam nữ, nhưng lúc nào cũng bị ý niệm “nghiệp báo luân hồi” chi phối một cách vô hình.

Trong truyện “Người tới như mộng” nhân vật nữ Diệu My từ môt cô bé con học Phật tại chùa Bình Dương thời gian 1970 cho đến vài thập niên sau gặp lại tại Mỹ vô cùng mờ ảo, lãng mạn nhưng cũng là thứ Mùi Hương không hề tan biến từ thời mới lớn tại quê nhà. Tại Mỹ, Diệu My xuất hiện và những va chạm từ thực tại của ký ức tái tạo trở lại:

“Ngồi trên xe lửa, tới gần trạm Anaheim, trước mắt tôi vẫn thấy vài sợi tóc của Diệu My bay trong gió biển Santa Barbara. Tôi đưa hai bàn tay mình lên, nhìn ngắm. Cảm giác nơi tay vẫn còn rung động như điện chạy, cảm giác khi nắm tay nàng và buông ra. Y hệt như nhiều thập niên trước đã tình cờ chạm tay nhau.”(tr. 164)

Sau khi tạm trú một đêm tại nhà “tôi”, nhân vật nữ Diệu My ôm tác giả từ giã tại ga xe lửa Amtrak ở Santa Barbara và lưu lại trong tâm tưởng anh một thứ kỷ niệm, một thứ Mùi Hương không thể nào quên sau khi trở về nhà:

“Tôi vẫn còn ngạc nhiên, tự hỏi tại sao mình không hôn nàng. Nhưng mùi hương tóc nàng vẫn còn theo tôi, về tới Little Saigon. Vào cả giấc ngủ đêm hôm đó. Bàn tay tôi run rẩy, cảm xúc khi ôm nàng nơi bờ biển Santa Barbara vẫn còn mãi, còn nơi hai bàn tay tôi kể cả khi tôi gõ email hỏi Sơn về chuyện các bạn ở quê nhà.”(tr. 174)

Nhân vật Diệu My ấy cuối cùng được người bạn thân cho hay đã xuất gia tu tại một ngôi chùa ở Việt Nam và không hề rời chùa xuống phố chợ bao giờ. Diệu My tại Mỹ là “Người tới như mộng” hay chỉ là hệ quả tâm lý của chính tác giả như câu thơ mà nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ từng viết “Ta mồ côi em ngồi khâu mộng ảo”[3]  hết sức sâu sắc trung thực?

Nhưng “ước muốn” dù dục tính, hay đạo lý nhân luân cũng là thứ ước mơ vun đắp xây dựng hạnh phúc; tuy nhiên, khi không đạt được về mặt tâm lý nó chui vào “tiềm thức” thành thứ kỷ niệm của ký ức. Nó mãi tồn tại như thứ bị “lãng quên” để rồi một cơ hội, nó lại trồi lên mặt ý thức tiếp tục quấy nhiễu, và mùi hương kia một ngày, một giờ, một khoảnh khắc lại trở về để tái tạo lần nữa “luân hồi nhân quả” mà trước kia chỉ là một “ước mơ” trong vô vàn ước mơ cuộc đời.

Cái không khí mà mùi hương tồn tại thực hay ảo, thuần túy mô tả trạng thái đè nén để “tình yêu” đáng lẽ có thể xuất hiện, nhưng rồi mãi mãi chìm mất vào “tiềm thức” hay biến mất trong “vô thức”, hoàn toàn đại biểu cho thứ khát vọng yêu đương hết sức bình thường của một con người. Có thể mọi giải đáp về một mùi hương diễn ra qua những đối thoại giữa tác giả và những vị sư thầy cho thấy phần nền cuộc đời của một hành giả luôn phải đấu tranh với những ràng buộc thế gian để có thể hoàn tất khát vọng tìm về thực tánh. Những ràng buộc từ một mùi hương hoàn toàn biến mất như “bọt biển” mà tác giả tin rằng “chỉ là trâu bùn qua sông” một khi mình là biển, là đại dương trong cái mênh mông không là gì của một đương thể “Không” của dòng đời.

Tác giả đại diện cho nhân vật luôn tìm cách đuổi bắt nó nhưng hình như nó đã thở thành thứ không thể thiếu trong cuộc hiện sinh của mình. Lúc này mùi hương hiện ra là một khao khát, dằn vặt tận đáy sâu tâm hồn, kết quả của thứ  khát khao không hoàn tất. Mùi hương còn là nỗi dở dang của một cuộc hành trình tâm lý, và dần dà trở thành “mộng ảo” tùy bản tâm nhìn nhận hay xóa bỏ nó trong lý luận Phật giáo về ý niệm vạn pháp giai không.

Tâm thức của tác giả cho thấy cuộc đời anh, nghiệp duyên với Phật pháp từ thuở ấu thơ và khi đến tuổi trưởng thành, hành trình cuộc đời là sự xen kẽ đấu tranh thường xuyên giữa đời và đạo. Cuộc đấu tranh này cũng là diễn biến thử thách trong cuộc sống và cuộc mưu sinh. Thế nên “Mùi Hương” mà anh phải “đuổi bắt” cũng là nơi chốn mà thân tâm một hành giả trải nghiệm.

Tác giả viết truyện ngắn “Đuổi bắt một mùi hương” cùng 11 truyện ngắn có nhân vật nữ như diễn giải từng giai đoạn tâm thức cuộc đời của mình một cách tự nhiên, giản dị. Anh khéo léo kể, mô tả trạng huống và cuộc đời nhân vật “Tôi” bềnh bồng, êm ái và hầu như không chút mâu thuẫn, xung đột từ những thắc mắc, vấn nạn về nó để rồi  Mùi hương trong truyện trở nên “cổ tích” như khao khát ước mơ làm nhà văn viết truyện “cổ tích” ngày còn bé của mình.  Nhà văn Phan Tấn Hải với tôi phần nào hoàn tất ước mơ của mình qua tác phẩm “Đuổi bắt một mùi hương”, bằng vào cốt cách ngây thơ, trong sáng và bản chất hành giả đích thực  trong cõi văn chương tràn ngập bi kịch bất hạnh cố hữu này.

Lê Lạc Giao

Tháng 2/2026

  


[1] Tuyển tập truyện ngắn “Đuổi Bắt Một Mùi Hương”  Văn Học xuất bản 2025 của nhà văn Phan Tấn Hải

[2] Đồng tâm viết bằng, đồng chí viết hữu.

[3] Âm Tuyết Đỏ Thời Gian – Thơ Nguyễn Lương Vỵ . Văn Học Xuất Bản Tháng 8/2019

Tóm lược: ✱ The White House: Tăng cường mối quan hệ với các đối tác hàng đầu trong khu vực, bao gồm Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Mông Cổ, New Zealand, Singapore, Đài Loan, Việt Nam và các đảo Thái Bình Dương ✱ Dept. of The Air Force: Việt Nam luôn phải đương đầu vào các tranh chấp với Trung Quốc về Biển Đông trong nhiều thập kỷ và gần đây đã trở thành một đối tác toàn diện với Hoa Kỳ ✱ DoAF: Việt Nam mong muốn Hoa Kỳ đầu tư nhiều hơn vào Đông Nam Á, tăng cường hỗ trợ ĐCSVN để giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc ✱ DoAF: Việt Nam mong muốn Hoa Kỳ giúp đỡ trong việc đối phó với Campuchia, quốc gia liên minh với Trung Quốc và gây lo ngại bị bao vây ✱ DoAF: Việt Nam giao tiếp với Hoa Kỳ để có quan hệ đối tác chiến lược, từ chương trình T-6 sẽ tiến đến việc mua máy bay chiến đấu F-15E hoặc F-16 tiên tiến nhất.
Tác giả Trúc Giang MN nhìn lại ba cuộc thanh trừng đẫm máu của ba Đảng Cộng sản trên thế giới: Liên Xô, Trung Hoa và Việt Nam. Việt Báo trân trọng mời đọc.
Tô Vĩnh Diện là biểu tượng của anh dũng. Vì đã lấy thân mình ngáng cho khẩu đại bác nặng hai ngàn tấn không rơi xuống vực. Tuy nhiên sau giả tưởng Lê Văn Tám, dân Việt có quyền nghi hoặc: Có thật không hay chỉ là một tai nạn, một vấp ngã hay chính em bé Lê Văn Tám đã lớn lên rồi được cấp chứng minh thư tên là Tô Vĩnh Diện sinh năm 1928 ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa? Làm sao Triều đình Huế biết đặt những tên xã, huyện đậm chất Cách mạng như vậy vào năm 1928?
Tôi đến với cõi Thi Ca và Tư Tưởng của Nguyễn Lương Vỵ (NLV) bằng con đường rất tự nhiên của một độc giả yêu thơ, thường theo dõi thơ trên các tạp chí và nhất là các trang mạng văn học nghệ thuật. Còn nhớ lúc đó vào cuối năm 2012, khi tôi đang ngồi lướt mạng, tình cờ đọc được bài thơ “Hòa Âm Âm Âm Âm... ” của NLV trên một trang văn học, tôi đã rất sững sờ và rung động vì ý tứ của bài thơ rất lạ và cũng rất thâm sâu:
331 năm trước Công nguyên, ngay sau chiến thắng Gaugamèles khi tiến vào thành Babylone, đại đế Alexandre nói trước hàng quân: “Chiến thắng này cho vinh quang và tự do”. Võ Nguyên Giáp khó tuyên ngôn như vậy trước lịch sử, vì Điện Biên Phủ không đem đến tự do cho dân Việt mà ngược lại, áp đặt một chế độ tàn khốc. Tự do nào sau đấu tố phi nhân, sau Cải cách ruộng đất, nông dân chỉ có thể cày thuê cho hợp tác xã? Và tự do nào khi dân Bắc di cư rồi dân Nam chạy theo lính Cộng hòa mỗi một khi “giải phóng” vùng “tạm chiếm”? Võ Nguyên Giáp hẳn nhiên muốn giữ lại vế đầu của Alexandre đại đế: “Điện Biên Phủ là một chiến thắng vinh quang.” Tất nhiên và không ai chối cãi, vì lần đầu tiên da vàng chiến thắng da trắng và lần đầu tiên một thuộc địa thắng đế quốc. Nhưng phía sau tấm huân chương là vinh quang cay nghiệt: Đẩy cả một dân tộc vào chiến tranh, mục đích của Hồ Chí Minh là giành độc lập, thống nhất 3 kỳ, nhưng Hiệp định Genève chỉ cho Hồ Chí Minh Bắc kỳ, Nghệ Tĩnh và Quảng Bình,
Tôi có thể giữ được chủ quan về Mưa Thuận Thành hay không, sau tất cả những huyền thoại đã nghe về Hoàng Cầm? Ông là tác giả của Về Kinh Bắc, tập thơ cho đến bây giờ vẫn tiếp tục mang vầng hào quang riêng của những tác phẩm nằm lâu trong ngăn kéo mà chỉ cái tên của nó đã hứa hẹn, và hơn cả hứa hẹn: đã thiết lập hẳn một không gian tinh thần đặc trưng, là điều mà đa số các tập thơ hiện nay không làm nổi. Nhiều người sành điệu rỉ tai nhau, rằng ông là một trong số hiếm hoi những thi sĩ thực thụ còn tồn tại. Tên ông, ngay sinh thời, dường như đã được nối vào danh sách không dài lắm của những tên tuổi được mụ thời gian tính khí rất thất thường đồng ý lưu lại. Nhưng tác phẩm của Hoàng Cầm lại đến với công chúng muộn mằn, và phải chở trên lưng một quá khứ nguy hiểm.
(Robert Mullins International) Tuần này, Sở di Trú Hoa Kỳ đã công bố lời Tuyên bố sứ mệnh mới. Lời tuyên bố mới bổ túc các từ ‘tôn trọng’ và ‘hoan nghênh’. Đây là những từ đã thiếu của chính quyền Nhà Trắng trước đây, khi chính phủ kiên quyết chống đối người di dân. Lời tuyên bố mới nhấn mạnh rằng, Hoa Kỳ "là một quốc gia của sự hoan nghênh và có khả thi" đối với những người di dân, và nói rõ Hoa Kỳ là "một quốc gia của những người di dân." Chính quyền trước luôn cố gắng hạ bớt những đóng góp quý giá mà những người di dân đã đóng góp cho Hoa Kỳ. Nhưng thực tế là Hoa Kỳ đã, đang và sẽ tiếp tục là một Quốc gia của những người di dân.
Chúng ta dường như đang bước vào thời điểm bớt căng thẳng hơn trong đại dịch. Số ca nhiễm coronavirus trung bình hàng ngày ở Hoa Kỳ đã giảm hơn 60 phần trăm trong hai tuần qua. Và với nhiều phương pháp chống dịch hữu hiệu hơn, chúng ta có thể thấy những kết quả tốt hơn nữa khi bước vào mùa xuân. Tiêm chủng ngừa vẫn là một cách chống dịch hiệu quả nhất và ngày càng chứng tỏ mức độ an toàn và hiệu nghiệm.
PETROPOLIS – Các quan chức địa phương cho biết, số người chết do lũ lụt và lở đất tràn xuống thành phố núi Petropolis ít nhất là 117 người, và vẫn còn 116 người hiện đang mất tích, theo APnews đưa tin ngày Thứ Năm, 17 tháng 2 năm 2022.
WENTZVILLE – Hai học sinh kiện một khu học chánh ngoại ô St. Louis vì đã loại bỏ một số sách ra khỏi các thư viện trường, theo tin Times ngày Thứ Năm, 17 tháng 2 năm 2022.
AUSTIN – Một đại bồi thẩm đoàn ở Texas đã truy tố 19 cảnh sát Austin với tội tấn công bằng vũ khí gây chết người khi đàn áp các cuộc biểu tình về chủng tộc lan rộng toàn quốc sau cái chết của George Floyd năm 2020, theo APnews đưa tin ngày Thứ Năm, 17 tháng 2 năm 2022.
HOA KỲ – NYTimes đưa các tin tức về những quy định mới dành cho COVID-19 ngày Thứ Năm, 17 tháng 2 năm 2022, bao gồm:
Quả cam không phải là quả quít. Nếu cả đời chỉ biết quả cam thì khi gặp quả quít nhầm tưởng là quả cam, là điều có thể hiểu được. Nhưng nếu năm này qua tháng khác gặp vô số quả quít rồi mà vẫn chưa nhìn ra được sự khác biệt, thì đó là vấn đề trình độ. Hoặc trong một số trường hợp là một sự cố tình gượng ép để đạt mục đích riêng tư. Cả hai đều gây bất lợi cho sự tiến triển tích cực.
Ý kiến của 3 nhà văn về ngày 17/2/1979. Mong nhận được thêm ý kiến của bạn đọc xa gần.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.