Hôm nay,  

Hành trình thơ của Huyền Không: Tuyển tập Kẻ Lữ Hành Cô Độc

14/04/202606:02:00(Xem: 3125)

Hành trình thơ của Huyền Không:

Tuyển tập Kẻ Lữ Hành Cô Độc
 

Nguyên Giác

 

Thi sĩ Huyền Không, bút danh khi làm thơ của cố Hòa Thượng Thích Mãn Giác (1929-2006), trọn đời là một kẻ lữ hành. Thầy đã đi qua nhiều khu vực địa lý -- ra đời và xuất gia tại Huế, làm giảng sư ở nhiều tỉnh Miền Trung, du học ở Nhật trước khi về dạy ở nhiều đại học tại Việt Nam, rời  nước và định cư ở Hoa Kỳ để rồi đi hoằng pháp ở nhiều nơi trên thế giới. Một cách lặng lẽ, Thầy cũng là người lữ hành của giấy mực, nổi tiếng trong nhiều lĩnh vực của thi ca, dịch thuật và nghiên cứu.

Trong cơ duyên làm việc trong nghề báo, từ Tạp chí Giao Điểm cho tới Việt Báo, tôi đã nhiều lần hội kiến Thầy Mãn Giác, đã thưa hỏi nhiều chuyện về giáo hội, và văn hóa dân tộc. Bây giờ, Thầy Mãn Giác viên tịch đã gần tròn 20 năm. Và trong tuần vừa qua, tôi được trao tặng tuyển tập thơ "Kẻ Lữ Hành Cô Độc" của thi sĩ Huyền Không do nxb Phụ Nữ Việt Nam tái bản trong cơ duyên hội kiến Thượng Tọa Thích Minh Hải, vị trụ trì hiện nay của Chùa Việt Nam Los Angeles. 

Những độc giả quan tâm có thể nhớ rằng "kẻ lữ hành" không chỉ là một thi ảnh trong thơ của thi sĩ Huyền Không, mà cũng đã hiện lên cả trong một bài tham luận Thầy Mãn Giác từ Hoa Kỳ gửi về cho cuộc Hội Thảo Phật Giáo Trong Thời Đại Mới, Cơ Hội Và Thách Thức trong tháng 7/2006 do Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức tại Sài Gòn. Bài viết đó được Thầy gửi về Việt Nam ba tháng trước khi Thầy viên tịch.

Trong bài tham luận "Về một hướng đi của Phật giáo Việt Nam" gửi về cho sự kiện trên, Thầy Mãn Giác ghi nhận rằng Đức Phật và Thánh chúng cũng là những kẻ lữ hành, và Thầy kêu gọi trong bài viết, trích:
 

“Thứ nhất, kiên trì và tinh tấn bám sát con đường Đấng Từ Phụ đã đi. Qua những thời kinh nhật tụng, chúng ta thường chỉ thấy Phật ngồi Phật nằm mà quên rằng, gần nửa thế kỷ trụ thế, Phật là một kẻ lữ hành, luôn luôn lên đường. Kinh nghiệm đó cho chúng ta hai bài học.

1.1. Một, bất hành bất thực. Phật và thánh chúng phải ôm bình bát đi xin mới có ăn.

1.2. Hai, Phật đích thân đến với quần chúng chứ không ngồi đợi quần chúng tìm đến Phật. Phật tìm đến quần chúng để được quần chúng bố thí thức ăn quần áo thuốc thang, và để tạo cơ duyên cho Phật và thánh chúng bố thí giáo pháp lại cho quần chúng...” (ngưng trích)
 

Dưới mắt nhìn như thế của một Thiền sư lữ hành, nhà thơ Huyền Không đã thấy đời người chính thực là chiêm bao, nắng mưa, hạt mưa rơi, cuối trời mây bay... như trong bài Kiếp Người của tập Kẻ Lữ Hành Cô Độc (KLHCĐ), trích:
 

 Đêm ngày qua lại chiêm bao

Nắng mưa là cảnh thuở nào xa xôi

Ba sinh nhớ chuyện luân hồi

Đưa tay đón nhận nổi trôi kiếp người

Sự đời như hạt mưa rơi

Ngàn năm sau nữa cuối trời mây bay.

(KLHCĐ, trang 329)
 blank                                   Bìa tuyển tập thơ Kẻ Lữ Hành Cô Độc

Cố Đại lão Hòa Thượng Thích Mãn Giác đã được tôn vinh là một trong những nhân vật kiệt xuất nhất của Phật giáo Việt Nam hiện đại—một nhà sư mà cuộc đời Thầy là sự hòa quyện hài hòa giữa học thuật, thi ca và vai trò lãnh đạo tâm linh. Sinh năm 1929 tại miền Trung Việt Nam, Thầy xuất gia từ thuở thiếu thời và sớm nổi bật nhờ vào trí tuệ cũng như lòng tận tụy sâu sắc đối với Phật pháp. 

Trước năm 1975, Thầy Mãn Giác đã tích cực tham gia vào các hoạt động giáo dục Phật giáo tại Việt Nam; Thầy giảng dạy tại nhiều đại học và góp phần làm phong phú thêm đời sống trí thức cho một thế hệ đang nỗ lực dung hòa giữa truyền thống và hiện đại. Hành trình học thuật đã đưa Thầy đến Nhật Bản, nơi Thầy theo đuổi các bậc học cao hơn về triết học Phật giáo, một kho tàng giá trị mà sau này Thầy đã mang về để làm giàu thêm cho Phật giáo Việt Nam.

Ngoài vai trò là một nhà giáo dục, Thầy còn là một thi sĩ tài hoa. Thơ ca của Thầy là một kết hợp hiếm có giữa cảm thọ và tỉnh thức thâm sâu trong đời sống, khi ngồi thiền, khi tụng kinh và một chiều sâu triết lý về lẽ vô thường, lòng từ bi. Những vần thơ của Thầy ông được nhớ tới không chỉ vì vẻ đẹp văn chương, mà còn vì khả năng đơn sơ ghi lại những tuệ giác Phật giáo một cách giản dị và dễ tiếp cận đối với độc giả.

Như trong bài thơ Giao Thừa Tụng Kinh Pháp Hoa, nhà thơ Huyền Không viết vào Xuân Ất Hợi 1995, ghi lại hình ảnh Thầy ngồi giữa trăng sao, nhìn vào tâm soi rọi xem có vương chỗ nào, thấy vô lượng kiếp não phiền trôi qua, và rồi Thầy tụng Kinh Pháp Hoa, nhìn thấy trầm hương tám hướng bay về, trích:
 

Đèn khuya soi sáng Thiền Đường

Tâm ta soi sáng tâm vương chỗ nào

Đêm về ngồi giữa trăng sao

Ý thức đã chín ngọt ngào nằm yên

Rì rào gió lặng rừng thiêng

Biết bao nhiêu kiếp não phiền đi qua

Giao thừa ngồi tụng Pháp Hoa

Mặc cho thay đổi hằng sa nhiệm mầu

Cô đơn chìm với đêm sâu

Trầm hương tám hướng từ đâu bay về.

(KLHCĐ, trang 486-487)
 

Một điểm cũng nổi bật của Thầy Mãn Giác là thái độ dấn thân. Thầy không chỉ tụng kinh, ngồi thiền, thực hiện các bổn phận của một nhà sư trong tự viện, Thầy cũng nhập cuộc, Thầy cũng dấn thân vào đời, đem đạo Phật vào cuộc sống để phục vụ quần chúng. Theo nhận định của Thiền Sư Nhất Hạnh (1926-2022) -- một vị sư hơn Thầy Mãn Giác ba tuổi nhưng cùng sinh ra, xuất gia từ ấu thời và trưởng thành ở Huế, và cùng là những vị nỗ lực canh tân Phật giáo từ khi còn trong nước và cả khi ra hải ngoại –  trong bài dài 7 trang dùng làm Tựa cho thi tập Hương Trần Gian, về thơ của Thầy Mãn Giác rằng:
 

“Huyền Không, khác hơn các nhà thơ Phật giáo ở hiện đại, có một lối thơ mạnh, có tính cách tích cực. Đọc thơ Huyền Không, không còn ai dám bảo đạo Phật là chán đời, là xa đời. Thơ phản ảnh của sức sống tinh thần, không ở lại, không nương tựa, nhắm vào hạnh phúc nhân loại.” (KLHCĐ, trang 25)
 
blank    Hai vị Thiền sư: Thầy Nhất Hạnh (trái), Thầy Mãn Giác (phải)

Mạnh, tích cực, không nương tựa, không chán đời, không xa đời... Nhận định đó của Thầy Nhất Hạnh về thơ Huyền Không có thể thấy rất rõ ràng trong bài Tình Nhân Loại, trích bốn câu cuối như sau:
 

Dù cho lắm cuộc bể dâu

Thương nhau không dám làm đau lòng đời

Đi đâu cũng thấy hoa cười,

Đến đâu cũng thấy lòng người nở hoa.

(KLHCĐ, trang 145)
 

Thái độ tích cực hoằng pháp của Thầy Mãn Giác cũng được nêu rõ trong một bài thơ ngắn, dài bốn câu, Thầy viết bằng chữ Hán, dịch ra Hán Việt, rồi dịch ra ngôn ngữ Việt hiện nay. Trong bài thơ này có chữ “Tào Khê thủy” (dòng suối Tào Khê) là thi ảnh chỉ do dòng Thiền Huệ Năng. Bài thơ được in nơi trang bìa sau thi tập:
 

Tào Khê thủy nhập Mỹ lưu truyền

Giáo ngoại chơn tâm nhị thập niên

Thuyết pháp truyền đăng khai huệ nhãn

Kim Cang nội chiếu thị tiền duyên.

                 Và rồi Thầy dịch là:

Tào Khê vào Mỹ lan xa

Hai mươi năm chẵn chỉ là "truyền riêng"

Con mắt Huệ soi đèn Thiền

Kim Cang rực sáng tiền duyên thuở nào.

Los Angeles, 29.9.1998

(KLHCĐ, trang bìa sau)
 

Trong mọi trường hợp, Thầy Mãn Giác cũng cho thấy nơi bất kể hướng đi xa nào, tâm hồn Thầy cũng gắn liền với mái chùa quê nhà, với văn hóa dân tộc. Cảm xúc đó hiển lộ rõ ràng trong bài thơ Nhớ Chùa, trích:

Biết đến bao giờ trở lại quê

Phân vân lòng gởi nhớ nhung về

Tang thương dù có bao nhiêu nữa

Cũng nguyện cho chùa khỏi tái tê

 

Chuông vắng nơi nao nhớ lạ lùng

Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung

Mái chùa che chở hồn dân tộc

Nếp sống muôn đời của tổ tông.

(KLHCĐ, trang 137)
 

Chúng ta có thể chú ý rằng, Thầy Mãn Giác du học Nhật Bản các năm 1960-1965, do vậy trong thời kỳ biến động Phật giáo 1963, Thầy đang ở Tokyo, một nơi rất xa với quê nhà. Và lúc đó, Thầy chỉ biết hướng về quê hương cầu nguyện, như trong bài thơ Đêm Xuân Cầu Nguyện dài 24 dòng, Thầy viết trong đêm Giao Thừa Quý Mão 1963, trích ba khổ thơ cuối bài là:
 

Sông Hằng nước chảy lang thang

Có con Hạc trắng bay ngang thuở nào

Gió về, nước dợn lao xao

Lòng không đóng cửa: ra vào thiên thu

 

Sương ơi, đừng phủ trăng mù

Cho lòng giải thoát vi vu dặm ngàn

Xuân đi, dù lắm hoa tàn

Trước sân có nhánh mai vàng xinh xinh.

 

Chắp tay cầu nguyện thanh bình

Buồm xuôi, gió thuận, gập ghênh qua nhanh

Đêm nay nguyên đán tâm thành

Nghe hương trầm thoảng về quanh mái nhà.

(KLHCĐ, trang 254-255)
 

Năm nay, tròn 20 năm Thi sĩ Huyền Không viên tịch, tuyển tập thơ Kẻ Lữ Hành Cô Độc được ấn hành với Lời Thưa in nơi đầu sách tác bạch rằng:

“Lời Thưa

Thơ của thiền sư - thi sĩ Huyền Không là một cõi thơ đặc biệt, nơi văn chương và thiền học hòa quyện trong sự tĩnh lặng sâu thẳm của tâm thức. Ở đó, chữ nghĩa không chỉ để diễn đạt cảm xúc, mà còn là phương tiện chuyên chở đạo lý, là tiếng vọng thầm thì của cõi lòng trước thân phận con người và vận mệnh quê hương, đất nước và đạo pháp. Thơ Ngài mang đậm sắc thái văn chương tinh luyện, thấm đẫm thiền vị, lan tỏa hương vị tình người, tình quê hương và hồn thiêng sông núi.

Những vần thơ tưởng chừng nhẹ tinh như mây khói, nhưng lại có sức đánh động mạnh mẽ, khơi mở những tầng sâu lắng nhất của tâm hồn người đọc. Qua thời gian, nhiều bài thơ của Ngài đã trở thành những dấu ấn bất hủ, góp phần làm phong phú và sâu sắc thêm diện mạo văn hóa và văn học Phật giáo Việt Nam.

Với tâm niệm tri ân và kính ngưỡng, Tông phong môn hạ Tổ đình Chùa Việt Nam Los Angeles phát tâm tái bản các tập thơ của Ngài, như một cách lưu giữ gia tài pháp bảo mà Đức Hòa thượng Hội chủ Huyền Không - Thích Mãn Giác để lại cho hàng hậu thế. Tuyển tập thơ Kẻ Lữ Hành Cô Độc, gồm các tập thơ của Ngài đã xuất bản trước đây.

Tuyển tập thơ này không chỉ là một tác phẩm văn học, mà còn là hành trang tâm linh, phản chiếu hình ảnh một vị đạo sư đã thực chứng. Trong thơ toát lên phẩm chất của bậc thức giả, thấm nhuần hương vị thiền học. Việc in lại các tập thơ này được thực hiện nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày Đức Trưởng lão Hòa thượng Viện chủ Tổ đình Chùa Việt Nam Los Angeles viên tịch, như một nén tâm hương dâng lên bậc Thây của Tứ chúng, đã trọn đời hiến dâng cho Đạo pháp và Dân tộc.

Lần tái bản này, chỉ khiêm cung tập hợp lại các tập thơ của Ngài, không có bất cứ sự thêm bớt hay diễn giải nào, với mong muốn giữ trọn tinh thần nguyên sơ của cõi thơ Huyền Không. Việc làm này vừa nhằm gìn giữ di sản pháp bảo, vừa thể hiện tấm lòng tri ân đối với vị đạo sư khả kính, người đã có những đóng góp lớn lao cho văn hóa giáo dục Phật giáo, như một pháp thí mang giá trị tâm linh vĩnh cửu.

Nguyện cho những trang thơ này tiếp tục được truyền tay, được đọc và được chiêm nghiệm, để ánh sáng thiền vị và nhân văn mà thiền sư - thi sĩ Huyền Không gửi gắm vẫn mãi lan tỏa, âm thầm mà sâu lắng, trong lòng người hôm nay và mai sau.

Môn hạ Tông phong

Tổ đình Chùa Việt Nam Los Angeles”

(KLHCĐ, trang 5-7)
 

Người điểm sách xin ghi nhận một điểm ít biết đối với thế hệ trẻ nơi hải ngoại, rằng chữ “Thiền” trong các thập niên đầu thế kỷ trước đôi khi được các cụ viết là “Thuyền” khi chữ quốc ngữ còn sơ khai – do vậy, nhà thơ Huyền Không có bài từng viết chữ “Thiền môn” là “Thuyền môn”, viết chữ “Thiền định” là “Thuyền định” và vân vân.

Như trong bài thơ Chiếc Ca Sa, ban đầu là từ thi tập Hương Trần Gian (xuất bản lần đầu tại Sài Gòn bởi nhà Liên Hoa vào năm 1953), sau mới in lại vào tuyển tập Kẻ Lữ Hành Cô Độc,  trích như sau:
 

Nơi cảnh Thuyền môn, sóng gió đàn,

Ngàn đời không nhuốm bụi thời gian.

Tâm hồn siêu thoát ngoài vô tận,

Thuyền Định tháng ngày mãi dệt đan...

 

Tự tánh bao giờ có ruổi rong;

Mê, thì đi lạc giữa muôn dòng.

Quay về nhiếp niệm trong giây phút,

Thấy cả muôn đời bến nước trong.

(KLHCĐ, trang 63)
 

Nhiều thập niên sau, nhà thơ Huyền Không dùng chữ theo tiêu chuẩn quốc ngữ đã định hình, không dùng chữ “Thuyền” cho “Thiền” nữa. Như trong bài thơ Đạt Đạo, viết vào ngày “Mồng 9 tháng 9 Canh Thân” tức là năm 1980. Bài thơ Đạt Đạo trích như sau:
 

Qua Thiền Môn: thấy trời xanh

Kim Cang kinh tụng chân thành từng trang

Khói hương quyện, cảnh mơ màng

Không gian là chiếc y vàng quấn thân

Thiền Môn xưa sạch phong trần

Kim Cang kinh khép trầm luân thoát rồi

Ta từ sanh tử về chơi

Ngồi trên chót đỉnh mỉm cười với trăng.

(KLHCĐ, trang 431)
 

Nhà thơ Huyền Không giải thích như thế nào về thi ảnh “kẻ lữ hành”? Trong bài viết năm 2002, nhà thơ Huyền Không viết trong bài “Mấy Lời Thêm Cho Lần Tái Bản” trích như sau, dẫn ra hình ảnh Đức Phật (người thành Xá-vệ) tới lời tự sự của nhà thơ Nguyễn Du (1766-1820), người từng có ba năm mặc áo nhà sư đi hành cước ba năm tại Trung Quốc. Nhà thơ Huyền Không viết, trích:
 

“Thơ, có một đôi bài nhớ về Người-Xá-Vệ xưa đã đi những cuộc đi trầm trọng của đời mình trên con đường trăng, mới thấy tưởng là ấm áp chung cùng nhưng rồi quay trở lại, Trăng và Người vẫn là hai niềm riêng, cô độc đến lùng. Phải rồi, mỗi người bước vào đời là phải đi một mình trên những còn đường bắt đầu từ chân mây bước hoài không tới. Rồi có khi về lại, chôn về như là nét mơ màng giả dối của đường ranh giới giữa biển và trời, dừng lại mà không gặp gỡ, trở về mà chưa từng hội ngộ, thiên thu lầm lũi...

Bốn mươi năm sau, từ giữa lòng một cuộc lữ chua xót khác nhìn lại, không gian đã chuyển dời, thời gian đã thành sương trên tóc, những người ngày xưa đã mỗi người một nẻo... tôi gặp lại cái mầu sắc tê tái trong tâm sự cũ của Nguyễn Du:

Ky lữ đa niên đăng hạ lệ

Gia hương thiên lý nguyệt trung tâm...

(Nhiều năm làm lữ khách nước mắt từng chảy dưới đèn.

Lòng nhớ quê nhà ngoài nghìn dặm chỉ còn biết gửi vào bóng trăng).”

(KLHCĐ, trang 277)
 

Tuy nhiên, chúng ta cũng nhìn thấy nỗi cô độc của Thầy không chỉ trong bước đi lữ khách, mà hiển lộ ngay cả khi Thầy tụng kinh, nơi Đức Phật từng dạy rằng mỗi người phải tự thân trở thành một hải đảo, tự mỗi người thừa đương Chánh pháp. Bài thơ Tụng Kinh chỉ bốn dòng đã ghi lại:
 

Mở ra Tam tạng Kinh

Ta ngồi đọc một mình

Trăng sao soi từng chữ

Giữa đất trời lặng thinh.

(KLHCĐ, trang 469)  
 

Sau đây là sơ lược tiểu sử Đại Lão  Hòa thượng Thích Mãn Giác do Việt Báo trích từ sách Mừng Khánh Thọ Bẩy Mươi Hoà Thượng Thích Mãn Giác.

Hòa thượng Thích Mãn Giác, sanh năm Kỷ Tỵ (1929) tại Cố Đô Huế, nguyên gốc làng Phương Lang, quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Xuất gia học Phật từ thuở nhỏ. Đã đảm nhận nhiều trọng trách trong Giáo hội: Nguyên Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Thanh Niên, Tổng Vụ Văn Hóa và Hội Viên Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Sau khi tốt nghiệp Đại Học Phật Giáo Báo Quốc, Hòa Thượng được Tổng Hội PGVN Trung Phần công cử làm Giảng Sư, Hội Trưởng Hội Phật Giáo Đà Lạt từ năm 1953 và sau đó, vào năm 1957, đại diện Tổng Hội ở 5 tỉnh Cao Nguyên Trung Phần.

Đến năm 1960, được học bổng đi du học Nhật Bổn, Tokyo. Cuối năm 1965, tốt nghiệp Tiến Sĩ Triết Học, được Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa mời về làm Giáo Sư Đại Học Văn Khoa Sài gòn, chuyên phụ trách giảng dậy Triết Học Ấn Độ Đông Phương. Trong khi đó, Viện Hóa Đạo công cử Hòa Thượng giữ trách vụ Khoa Trưởng Phân Khoa Phật Học, Phó Viện Trưởng Đặc Trách Điều Hành Viện Đại Học Vạn Hạnh. Ngoài ra Hòa Thượng cũng đảm trách giảng dạy Đại Học Văn Khoa Huế về Triết Học Đông Phương và Văn Học Đại Cương. Hòa Thượng có viết nhiều sách, trong số có 5 thi phẩm mà được mọi người mến mộ qua đạo hiệu Huyền Không.

Cuối tháng 6 năm 1977, Hòa Thương đã đến Mã Lai tỵ nạn bằng thuyền đánh cá. Sau thời gian ba tháng tạm trú trong Trại tỵ nạn, vào 12 tháng 10 năm 1977, Hòa Thượng đã giã từ Trại Tỵ nạn lên đường đi Paris, Pháp Quốc. Sau 3 tháng đi khắp Âu Châu, Hòa Thượng đã tiếp xúc với báo chí, Hội Ân Xá Quốc Tế, Đài BBC Luân Đôn… và đến tháng giêng năm 1978 đến Hoa Kỳ.

Cuối năm 1978, Hòa Thượng đã mời tất cả Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ về Los Angeles, Đại Hội để thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ. Từ 1978 tới 1998, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ đã đóng góp nhiều vào công cuộc hoằng dương chánh pháp nơi hải ngoại.
 blankTừ phải: Thượng Tọa Thích Minh Hải, và Cư sĩ Nguyên Giác tại 1 tiệm cơm chay ở Quận Cam.  

Các độc giả quan tâm về tuyển tập thơ Kẻ Lữ Hành Cô Độc của nhà thơ Huyền Không, hay các tác phẩm khác của Hòa Thượng Thích Mãn Giác, có thể liên lạc với:

Thượng Tọa Thích Minh Hải

Trụ trì Tổ Đình Chùa Việt Nam Los Angeles

863 S Berendo St, Los Angeles, CA 90005

 

Ngày Thứ Sáu, 27 tháng 5 vừa qua, chúng tôi tới nhà thờ Saint Louise ở Bellevue, nơi hai đứa cháu ngoại lên 9 và 11 của chúng tôi học để dự một Thánh Lễ. Trường chỉ có từ lớp Mẫu Giáo tới lớp 8. Hằng năm đều có một ngày trường học Công Giáo này tổ chức một buổi Lễ trong nhà thờ, gọi là ngày của Ông Bà. (Grandparents’ Mass) cho các cháu nhớ đến tình thương và công ơn của ông bà nội, ngoại...
Soạn giả hài kịch Ngô Tấn Triển đã từ giã nhân thế sau cơn bạo bệnh vào ngày 31-5-2022, hưởng thọ 73 tuổi. Nhiều năm trước tôi có nhiều lần trò chuyện, ngưỡng mộ tài viết hài kịch và có viết một bài về sự nghiệp viết hài kịch của anh. Mời quí vị đọc bài viết vào năm 2015 về buồn vui nghề viết hài kịch của soạn giả Ngô Tấn Triển. Thương tiếc giã biệt anh...
Kinh Kim cang là một trong những bản kinh quan trọng và sớm nhất trong kinh điển Phật giáo Đại thừa. Ở đây, chúng ta sẽ trình bày ý nghĩa của đề kinh Kim cang từ nguyên gốc tiếng Phạn và từ được dịch sang tiếng Hán. Đề kinh Kim cang gồm hai phần. Tên tiếng Phạn là Vajrachedikā Prajñāpāramitā, trong đó phần đầu là tính từ phẩm định cho từ theo sau. Prajñāpāramitā phiên âm tiếng Hán là Bát-nhã Ba-la-mật-đa, nó có khả năng cắt chém như kim cang, hay chính xác: như sấm sét (búa thiên lôi). Hiện nay có hai bản dịch phổ biến: một là Kim cang Bát-nhã ba-la-mật do ngài La-thập dịch sang Hán; hai là Kim cang năng đoạn Bát-nhã ba-la-mật đa của Ngài Huyền Trang dịch.
Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden hôm thứ Sáu cho biết thâm hụt ngân sách đã giảm trong cả hai năm cầm quyền của ông cho đến nay, không giống như người tiền nhiệm Donald Trump. "Trên thực tế, Bộ Ngân khố đang có kế hoạch thanh toán khoản nợ quốc gia trong quý này, điều chưa từng xảy ra dưới thời ông tiền nhiệm của tôi", ông nói.
Santa Ana – Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) sẽ mở hai cuộc triển lãm mang chủ đề “Rewind, Reverse” (“Tua Lại, Ngược Lại”) tại hai thành phố Santa Ana và Garden Grove. Cuộc triển lãm sẽ trưng bày tác phẩm của các em thanh thiếu niên trong khóa học nghệ thuật kéo dài ba tháng qua. Lấy cảm hứng từ nội dung của cuốn hồi ký truyện tranh “The Best We Could Do” của nhà văn Thi Bùi, các học viên của khóa học chú trọng vào các đề tài như dựng lại trí nhớ, cảm xúc, và những đào sâu vào kinh nghiệm sống, văn hoá và bản sắc của gia đình di dân, tị nạn đến Hoa Kỳ. Và những kinh nghiệm này liên tục thay đổi từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Thông thường, khi người Mỹ gọi là "Big Lie", tương đương với "nói láo". Sự phân chia trong ngôn ngữ Việt, giúp con người xử lý với nhau theo mức độ nặng nhẹ. Bạn bè nói tào lao, nói xạo là chuyện bình thường. Nói xạo cao cấp gọi là "nổ". Nổ thường xuyên, nổ lớn, nhiều người tránh xa. Vợ chồng nói dối với nhau cũng là chuyện hay xảy ra, nhưng không có hậu quả lớn, thường chỉ khóc lóc, cãi cọ, quát tháo hoặc năn nỉ. Có bồ bịch bên ngoài mà về nhà nói với vợ hoặc chồng là không có, điều này là "nói láo", có khả năng đưa đến ly thân hoặc ly dị và đôi khi, giải quyết bằng thuốc chuột đưa đến tử vong. Vợ chồng có thể nói dối, đừng bao giờ nói láo. Xét chung, nói không đúng sự thật, dù có tên gọi khác nhau, vẫn có mẫu số chung là "không đúng sự thật." Muốn luận tội phải xem xét hậu quả của ý đồ và sự thiệt hại. Vì vậy, những tên gọi khác nhau có thể nhìn như tội danh khác nhau như ăn cắp vặt và ăn cướp ngân hàng.
Nhiều người đã đổ lỗi cho nhiều thứ, từ bệnh tâm thần đến chưa đủ an ninh, là nguyên do khiến các vụ xả súng hàng loạt thương tâm đang xảy ra với tần suất ngày càng cao ở các trường học, văn phòng và rạp hát trên khắp đất nước. Vụ mới nhất, xảy ra vào ngày 24 tháng 5 năm 2022, tại một trường tiểu học ở Texas và khiến ít nhất 19 trẻ em và 2 giáo viên thiệt mạng, là vụ xả súng hàng loạt thứ 213 trong năm nay - và là vụ thứ 27 diễn ra tại một trường học. Tuy nhiên, trong phần lớn các cuộc tranh cãi về nguyên nhân gốc rễ của bạo lực súng đạn hiện nay ở Hoa Kỳ, các nhà sản xuất súng lại thường không bị nhắc tới. Là một nhà nghiên cứu về sức khỏe cộng đồng, giáo sư Michael Siegel cho rằng điều này thật kỳ quặc, vì có bằng chứng cho thấy văn hóa xung quanh việc sở hữu súng góp phần đáng kể vào bạo lực súng đạn. Và các nhà sản xuất súng giữ một vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến văn hóa súng đạn của người dân Hoa Kỳ.
Một cõi mênh mông các cảnh giới. Cũng là một chiếc kén bé nhỏ gói bí ẩn về giấc mơ một ngày kia sẽ tung ra muôn trùng tơ quấn quít hiện thực. Một khung cửa khép với chờ đợi, với cô lẻ số phận. Một bầu trời cao rộng với những đường bay mạnh mẽ hoan lạc của cánh chim tự do. Một mặt biển bị xao động bởi những con sóng ngầm làm ngạc nhiên thinh lặng của vực sâu. Là cánh cửa được mở tung bởi ngôn ngữ như những tiếng gõ dồn dập. Là bức tường bức phá bởi sức mạnh của ý tưởng. Là con đường hiểm hóc hay mượt cỏ, những bước chân vẫn đi tới đi tới. Ở đó bạn nghe được khát vọng tìm hạnh phúc chân thực như trở về cội nguồn tâm sâu thẳm. Ở đó bạn sẽ thấy cảm xúc mình bung ra như sắc mầu của chiếc kính vạn hoa. Ở đó, những con chữ như nam châm hút cảm xúc người đọc. Ở đó, từ trường say đắm thơ mộng của Đinh Thị Như Thúy, Phạm Thị Ngọc Liên, Nguyễn Thùy Song Thanh, Vũ Quỳnh Hương.
Trong 20 năm qua, Trung Quốc là nguồn tăng trưởng lớn nhất và đáng tin cậy nhất của nền kinh tế thế giới. Họ đã góp 25% tăng trưởng vào tổng sản lượng GDP toàn cầu trong thời kỳ này và phát triển mở rộng 79/80 quý. Trong phần lớn thời gian Trung Quốc mở cửa từ sau khi ông Mao qua đời, Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã thực hiện một cách tiếp cận thực tế để làm giàu cho đất nước, kết hợp cải cách thị trường trong khuôn khổ kiểm soát của nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay, nền kinh tế Trung Quốc đang có nhiều rủi ro.
Trung Tâm Nghệ Thuật Đương Đại Orange County Center For Contemporary Art đã khai mạc phòng triển lãm tranh của hai họa sĩ Ann Phong và họa sĩ Beverly Jacobs vào hôm qua, ngày 2 tháng Sáu với sự tham dự đông đủ của giới thưởng lãm nghệ thuật quận Cam và quận Los Angeles. Họa sĩ Ann Phong cho biết “Tôi rất hân hạnh được OCCCA, một trong những galery lớn, triển lãm tranh đương đại, lại tọa lạc gần Little Sài Gòn, gầnvới cộng đồng người Việt ở Orange County. Tôi mong sẽ được gặp đông đủ các khuôn mặt bạn bè trong giới hội họa cũng như người Việt yêu nghệ thuật ở đây.”
Viện Phật Học Bồ Đề Phật Quốc (tọa lạc tại số 3404 Westminster Ave., Santa Ana CA 92703) do Thượng Tọa Thích Huyền Châu Giám Viện đã long trọng tổ chức tuần Pháp Hội Phật Đản Năm 2022 với những sự kiện quan trọng gồm có: -Lễ Lạc Thành và Sái Tịnh Đất Già Lam mới –Tưởng niệm đức Phật Đản Sinh lần thứ 2646 – Tổ chức Đại Giới Đàn Ưu Bà Cúc Đa, truyền trao thánh giới – Lễ tốt nghiệp và khai giảng khóa học mới – Hội thảo Phật học với chủ đề: Giáo Dục Phật Giáo tại Hoa Kỳ - Đặt đá xây dựng hạng mục đầu tiên cho viện Phật Học Bồ Đề Phật Quốc – Đại trai đàn Trai Tăng Chẩn Tế
Tại hội trường Châu Đạo Cao Đài Nam California trên đường Chestnut, thành phố Westminster vào lúc 10 giờ sáng thứ Bảy, ngày 28 tháng 5, 2022, Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam tại Hoa Kỳ đã long trọng tổ chức lễ tưởng niệm tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ, đồng minh và Ukraine Nhân ngày lễ Chiến Sĩ Trận Vong, để cầu nguyện cho những người đã hy sinh vì lý tưởng tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam cũng như trên thế giới.
Tại Tượng Đài Chiến Sĩ vào lúc 9 giờ sáng Thứ Hai ngày 30 tháng 5 năm 2022. Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Nam California đã trang nghiêm tổ chức lễ Tưởng Niệm ngày Chiến Sĩ Trận Vong (Memorial Day) với sự tham dự đông đão quý niên trưởng, quý chiến hữu thuộc các quân binh chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Cảnh Sát Quốc Gia. Quý niên trưởng có: Niên Trưởng Cổ Tấn Tinh Châu, La Tinh Tường, NT. Nguyễn Minh Chánh… các chị trong ban hợp ca Tập Thể Chiến Sĩ, Liên Hội Cựu Chiến Sĩ, một số các cơ quan truyền thông.
hương trình Đào Tạo Thực Tập Tự Chọn (tức Optional Practical Training, gọi tắt là OPT) giúp du học sinh ngoại quốc đã hoàn tất chứng chỉ tốt nghiệp được quyền làm việc để thực tập ngành nghề mà họ đã học. Người sinh viên này phải chọn những công việc thực tập liên quan đến những ngành học của mình. Nhiều du học sinh ngoại quốc nộp đơn xin thẻ OPT và sau thời gian thực tập OPT nộp đơn xin chiếu khán (visa) H1B. Tiếc thay, chiếu khán H1B có chỉ tiêu 65,000 mỗi năm và sở di trú chỉ nhận 130,000 đơn vào ngày 1 tháng 4 hàng năm. Sau đó chọn ngẫu nhiên bằng hệ thống máy điện toán như cách xổ số. Ứng viên trúng tuyển sẽ lập thủ tục phần 2 để xin chiếu khán H1B và có thể bắt đầu làm việc vào ngày 1 tháng 10 cùng năm. Hạn kỳ H1B có thời gian 3 năm và gia hạn thêm 3 năm, tổng cọng 6 năm. Ứng viên không được chọn sẽ chờ đợt mới vào năm sau.
Sky River Casino, địa điểm đánh bài mới được nhiều người háo hức trông đợi từ lâu ở Bắc Cali được hoạch định khai trương vào Mùa Thu 2022. Được chính thức động thổ vào ngày 9 Tháng Ba 2021, cơ sở đánh bài trị giá 500 triệu đôla này tọa lạc ở Elk Grove, Nam Sacramento, ngay cạnh Highway 99, vô cùng thuận tiện cho việc tới lui từ các thành phố kế cận. Sòng bài Sky River đã được thiết kế với những nét lập tức tạo được cho mọi người cảm giác về một điểm đến vô cùng thân quen cho các vị khách Á Châu. Ngoài việc tạo dựng một cái tên bằng tiếng Trung Hoa cho cơ sở, biểu tượng Chu Tước, loại chim sắc đỏ son, một dấu hiệu báo điềm may, đã được vẽ kiểu và thêm vào 'logo' của sòng bài. Loại chim thanh lịch và quý phái này là biểu trưng của sự thịnh vượng và nét thanh lịch, mang lại sự hãnh diện và thịnh vượng cho mọi khách quý Á Châu.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.