Hôm nay,  

Vn Huấn Luyện Sư Đoàn Dư Luận Viên Và Ai Để Làm Tin Giả Nhuộm Đỏ Cả Nước

08/05/202610:37:00(Xem: 1622)
blank

Bị Mỹ cưỡng ép VN mở rộng kinh tế và tăng quyền cho người lao động, CSVN huấn luyện sư đoàn dư luận viên và AI để làm tin giả nhuộm đỏ cả nước: dẫn dắt cả nước thảo luận xã hội và tự động xóa bỏ nội dung bất đồng chính kiến. Mỹ muốn giúp VN ổn định để khỏi nghiêng về TQ

Theo báo The Standard và Reuters, Đảng Cộng sản Việt Nam dự định sử dụng người nổi tiếng và trí tuệ nhân tạo AI trong chiến dịch tuyên truyền kỹ thuật số. Đảng Cộng sản cầm quyền Việt Nam chuẩn bị cải tổ triệt để bộ máy tuyên truyền của mình, chuyển từ lối hùng biện truyền thống sang chiến lược ưu tiên kỹ thuật số, sử dụng người nổi tiếng trên mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo.

Các tài liệu nội bộ mà Reuters thu được tiết lộ một lộ trình đầy tham vọng nhằm hiện đại hóa ảnh hưởng của nhà nước. Chiến lược này đặt mục tiêu xây dựng mạng lưới ít nhất 1.000 người nổi tiếng và 5.000 chuyên gia trí tuệ nhân tạo vào năm 2030.

Mục tiêu là làm ngập tràn không gian kỹ thuật số bằng nội dung “tích cực”, đảm bảo hệ tư tưởng của đảng gây được tiếng vang với thế hệ trẻ am hiểu công nghệ, những người ngày càng xa lánh truyền hình nhà nước để chuyển sang TikTok và Facebook.

Tạo ra “Miễn dịch ý thức hệ” (‘Ideological Immunity’): Chiến lược được đề xuất được thiết kế để tạo ra cái mà các tài liệu mô tả là “miễn dịch ý thức hệ” trong toàn xã hội. Bằng cách chi phối câu chuyện, chính quyền hy vọng sẽ bảo vệ công chúng khỏi những gì họ cho là “thông tin có hại, độc hại và sai lệch”.

Dưới sự lãnh đạo của Bí thư Đảng kiêm Chủ tịch Tô Lâm, một cựu lãnh đạo an ninh nội địa, đảng đang siết chặt kiểm soát đối với dư luận. Dự thảo đặt ra mục tiêu rõ ràng: đến cuối thập kỷ này, 80% nội dung tiếng Việt trên mạng phải là “tích cực”.

Để đạt được điều này, đảng dự định triển khai các công cụ trí tuệ nhân tạo do các công ty công nghệ trong nước phát triển để “dẫn dắt thảo luận xã hội” và tự động xóa bỏ nội dung bất đồng chính kiến. Mục tiêu là loại bỏ 90% bài đăng “vi phạm” trong vòng 24 giờ kể từ khi đăng tải.

Sự trỗi dậy của những người có tầm ảnh hưởng được nhà nước tài trợ: Để thu hẹp khoảng cách với giới trẻ, đảng đang chuyển hướng sang các hình thức dễ tiếp cận hơn, bao gồm podcast, video ngắn và các chiến dịch truyền thông xã hội có mục tiêu cụ thể.

Những người có tầm ảnh hưởng được tuyển dụng dự kiến ​​sẽ đăng tải các tài liệu đã được phê duyệt và quảng bá các hoạt động của chính phủ để đổi lấy các đặc quyền như các chuyến đi được tài trợ, mặc dù được cho là không có khoản bồi thường tài chính trực tiếp nào trong gói tiêu chuẩn.

Tuy nhiên, việc thúc đẩy “sự sáng tạo” này tiềm ẩn những rủi ro đối với một chế độ vốn quen với việc kiểm soát tuyệt đối. Một bài hát gần đây có tựa đề “Bác tôi”, so sánh Chủ tịch Tô Lâm với nhà lãnh đạo nhân dân tộc Hồ Chí Minh, được cho là đã gây khó chịu cho các quan chức đảng vì “không phù hợp”.
Mặc dù đang nỗ lực thúc đẩy sự tham gia của quần chúng hiện đại, đảng vẫn thận trọng với bất kỳ nội dung nào từ cơ sở, ngay cả những nội dung ủng hộ, có thể vô tình làm suy yếu uy tín được xây dựng cẩn thận của giới lãnh đạo cấp cao. (Ghi chú của người dịch: mới vài ngày trước, báo chí loan tin bà Ngô Phương Ly, phu nhân của Tổng Bí Thư Tô Lâm, được "suy tôn" làm Chủ tịch Danh dự Hội Bảo vệ Quyền Trẻ em Việt Nam. Có phải đây là dấu hiệu VN đang làm theo mô hình Bắc Hàn?)
.
Theo tin UPI hôm 7 tháng 5/2026, phân tích của chuyên gia về Biển Đông James Borton qua bài "U.S.-Vietnam trade talks risk strategic misstep in Indo-Pacific balance". James Borton hiện là Nghiên cứu viên cao cấp không thường trú tại Viện Chính sách Đối ngoại thuộc Trường SAIS (Đại học Johns Hopkins), đồng thời là tác giả cuốn sách "Harvesting the Waves: How Blue Parks Shape Policy, Politics, and Peacebuilding in the South China Sea" (Gặt hái những con sóng: Cách các Công viên Xanh định hình Chính sách, Chính trị và Kiến tạo Hòa bình tại Biển Đông). Ông Borton cũng đảm nhiệm vai trò Chủ Bút ấn phẩm South China Sea NewsWire (Thông Tấn Biển Đông). James Borton lý luận rằng trong khi Mỹ hối thúc VN mở rộng kinh tế vả tăng quyền cho công nhân, cần giữ mức cân bằng để giữ VN khỏi nghiêng về TQ. Bài viết như sau.

Các cuộc đàm phán thương mại Mỹ-Việt đứng trước nguy cơ gây ra bước đi sai lầm chiến lược đối với cán cân tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Khi Washington và Hà Nội bước vào một giai đoạn ngoại giao thương mại đầy bận rộn, những tuần tới sẽ là phép thử để xem liệu một trong những mối quan hệ đối tác kinh tế thực dụng nhất tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương có thể duy trì đà phát triển của mình, hay sẽ bị vướng mắc vào chính những mâu thuẫn mà hai bên đã nỗ lực tránh né.

Một loạt các cuộc họp -- bao gồm các phiên điều trần theo Mục 301 về năng lực sản xuất công nghiệp diễn ra từ thứ Ba đến thứ Sáu tuần này, các cuộc thảo luận về vấn đề lao động cưỡng bức từ ngày 28 tháng 4 đến ngày 1 tháng 5, và các cuộc tham vấn song phương vào thứ Hai và thứ Ba tuần tới -- đang diễn ra vào một thời điểm mang tính bước ngoặt.

Những cuộc họp này sẽ giúp xác định liệu Hoa Kỳ và Việt Nam có thể duy trì mối quan hệ thương mại vốn đã trở thành trọng tâm đối với sự kiên cường của các chuỗi cung ứng, lợi ích kinh doanh của Hoa Kỳ, cũng như đà thăng tiến kinh tế liên tục của Việt Nam hay không.

Về bản chất cốt lõi, Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện giữa Hoa Kỳ và Việt Nam không chỉ được xây dựng dựa trên nền tảng ngoại giao đơn thuần, mà còn dựa trên những logic kinh tế vững chắc.

Mối quan hệ đối tác được xây dựng dựa trên sự bổ trợ lẫn nhau

Trong suốt thập niên qua, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những đối tác thương mại tăng trưởng nhanh nhất của Hoa Kỳ, được thúc đẩy bởi sự hội tụ của những lợi ích mang tính cấu trúc. Khi các doanh nghiệp Mỹ đa dạng hóa hoạt động sản xuất ra ngoài phạm vi Trung Quốc, Việt Nam đã trở thành một điểm đến được ưu tiên lựa chọn, nhờ mang lại lợi thế cạnh tranh về chi phí, sự ổn định chính trị, cùng mức độ hội nhập ngày càng sâu rộng vào các chuỗi giá trị toàn cầu.

Số liệu thống kê từ phía Hoa Kỳ cho thấy Việt Nam đã đạt mức thặng dư thương mại 123,5 tỷ USD với Hoa Kỳ trong năm ngoái -- mức chênh lệch thương mại lớn thứ tư, chỉ sau Trung Quốc, Liên minh Châu Âu và Mexico. Đây là một con số đang thu hút sự chú ý và xem xét ngày càng kỹ lưỡng tại Washington, ngay cả khi nó phản ánh chiều sâu của sự hội nhập thương mại song phương giữa hai nước.

Từ các mặt hàng điện tử, may mặc cho đến hàng tiêu dùng, hoạt động sản xuất tại Việt Nam thường được lồng ghép chặt chẽ vào các chuỗi cung ứng do chính các doanh nghiệp Hoa Kỳ và các đối tác đồng minh thiết kế và tài trợ. Các công ty Mỹ được hưởng lợi từ chi phí sản xuất thấp hơn và sự đa dạng hóa rủi ro, trong khi các mặt hàng xuất cảng của Việt Nam lại giúp duy trì đà tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm ngay tại quê nhà.
Việc phá vỡ hệ sinh thái này thông qua các biện pháp thương mại cứng rắn và thiếu linh hoạt sẽ tiềm ẩn nguy cơ gây tổn hại chính đến những doanh nghiệp mà Washington đang nỗ lực bảo vệ.

Hà Nội đã liên tục phát đi những tín hiệu thể hiện thiện chí và sự sẵn sàng đối thoại. Việt Nam tiếp cận các căng thẳng thương mại không phải bằng thái độ đối đầu, mà bằng tinh thần đàm phán -- một lập trường hoàn toàn tương phản với những mối quan hệ kinh tế mang tính đối địch hơn. Các cuộc tham vấn sắp tới cần phải củng cố thêm quỹ đạo hợp tác này, thay vì làm chệch hướng nó.

Suy nghĩ lại về vấn đề "dư thừa năng lực sản xuất"
Cuộc tranh luận xoay quanh vấn đề "dư thừa năng lực sản xuất" đã trở thành một trọng tâm trong các cuộc thảo luận thương mại của Hoa Kỳ, đi kèm với những lo ngại rằng thuật ngữ này đang bị áp dụng một cách quá rộng rãi cho nhiều mô hình kinh tế khác nhau.
Trong trường hợp của Việt Nam, các quan chức và giới quan sát ngành nhận định rằng sự tăng trưởng sản xuất chủ yếu được thúc đẩy bởi các khoản đầu tư dựa trên cơ chế thị trường và sự dịch chuyển của các chuỗi cung ứng toàn cầu, thay vì xuất phát từ tình trạng dư thừa công nghiệp do nhà nước chỉ đạo.

"Tình trạng dư thừa năng lực sản xuất tại Việt Nam khác biệt rất nhiều so với Trung Quốc," ông Murray Hiebert, Trưởng bộ phận nghiên cứu tại Bower Group Asia, cho biết. "Các nhà máy tại Trung Quốc đang sản xuất ra lượng hàng hóa dư thừa khổng lồ, sau đó bán phá giá vào các thị trường thế giới với mức giá thấp hơn giá thị trường. Ngược lại, Việt Nam lại dựa vào các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài để sản xuất hàng hóa phục vụ xuất cảng."

Ông lưu ý rằng động lực xuất cảng của Việt Nam chủ yếu đến từ khối doanh nghiệp nước ngoài; theo đó, các công ty đa quốc gia—đặc biệt là những công ty đến từ Hoa Kỳ và Nam Hàn—chiếm khoảng 80% tổng kim ngạch xuất cảng, trong khi các nhà sản xuất nội địa chỉ đóng góp khoảng một phần năm.
"Nền kinh tế Việt Nam về cơ bản đóng vai trò là một nền tảng sản xuất cho các doanh nghiệp nước ngoài," ông Hiebert nhận định. "Các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ cần thấu hiểu rằng Việt Nam không tạo ra tình trạng dư thừa năng lực sản xuất thông qua việc trợ cấp cho ngành chế tạo, mà đạt được điều đó nhờ việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài—những đơn vị đã tận dụng Việt Nam như một cứ điểm sản xuất chi phí thấp để phục vụ các thị trường toàn cầu."



Sự mở rộng năng lực sản xuất tại Việt Nam được định hình bởi quá trình tái cơ cấu chuỗi cung ứng toàn cầu—vốn được thúc đẩy mạnh mẽ bởi những căng thẳng thương mại Mỹ-Trung cũng như các gián đoạn trong thời kỳ đại dịch—chứ không phải do những nỗ lực do nhà nước dẫn dắt nhằm ồ ạt đưa hàng hóa tràn ngập các thị trường quốc tế. Nhiều nhà máy đang hoạt động tại Việt Nam thực chất là những cơ sở đã được các công ty đa quốc gia di dời hoặc mở rộng quy mô nhằm duy trì khả năng tiếp cận với người tiêu dùng tại Hoa Kỳ.

Việc đánh đồng mô hình kinh tế này với tình trạng sản xuất dư thừa do trợ cấp sẽ dẫn đến nguy cơ chẩn đoán sai bản chất vấn đề, đồng thời gây bất lợi cho một đối tác vốn dĩ đã góp phần thúc đẩy, thay vì làm méo mó, các kết quả vận hành của thị trường.

Cải cách lao động và những tiến bộ trong chuỗi cung ứng

Những quan ngại liên quan đến các thực tiễn lao động và tính minh bạch của chuỗi cung ứng vẫn tiếp tục là một phần trong các cuộc thảo luận chính sách, đặc biệt là trong bối cảnh những tranh luận về vấn đề lao động cưỡng bức vẫn đang diễn ra. Tuy nhiên, những quan ngại này cần được xem xét một cách cân đối, dựa trên những bước tiến vững chắc—dù đôi khi chỉ mang tính tiệm cận—mà Việt Nam đã đạt được.

Trong những năm gần đây, Hà Nội đã thực hiện những cải cách lao động quan trọng, phù hợp với các tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO); bao gồm việc cập nhật Bộ luật Lao động, mở rộng quyền đại diện cho người lao động và tăng cường các cơ chế tuân thủ.
Việt Nam cũng đã ưu tiên vấn đề truy xuất nguồn gốc và tính minh bạch trong các lĩnh vực xuất cảng chủ chốt. Từ ngành thủy sản đến sản xuất chế tạo, các cơ quan chức năng đã đầu tư vào hệ thống giám sát, tăng cường công tác thanh tra và cải thiện năng lực quản lý – những bước đi nhằm đáp ứng kỳ vọng của các đối tác và thị trường quốc tế.

Đây là một quá trình đang tiếp diễn, chứ chưa phải là một quá trình đã hoàn tất. Tuy nhiên, xu hướng phát triển đã rất rõ ràng: Việt Nam đang hướng tới việc đạt được các tiêu chuẩn cao hơn, chứ không hề lùi bước khỏi những tiêu chuẩn đó.

Lập luận ủng hộ việc công nhận nền kinh tế thị trường

Một vấn đề chưa được giải quyết khác – việc Việt Nam bị xếp vào nhóm "nền kinh tế phi thị trường" theo luật thương mại của Hoa Kỳ – đang ngày càng trở nên khó biện giải.

Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và đã được hơn 70 quốc gia công nhận là nền kinh tế thị trường. Khu vực kinh tế tư nhân của Việt Nam đã mở rộng nhanh chóng; môi trường pháp lý tiếp tục được hoàn thiện; và quá trình hội nhập vào các thị trường toàn cầu ngày càng sâu rộng.

Việc duy trì quy chế "nền kinh tế phi thị trường" hiện tại đối với Việt Nam theo luật thương mại Hoa Kỳ đã gây ra những lo ngại trong giới hoạch định chính sách cũng như các nhóm doanh nghiệp; họ cho rằng quy chế này có thể ảnh hưởng đến việc áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại, cũng như làm suy giảm niềm tin của giới đầu tư. Vấn đề này lại nảy sinh đúng vào thời điểm Washington đang nỗ lực mở rộng các quan hệ đối tác kinh tế trên khắp khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Tránh những hệ quả không mong muốn

Vấn đề sở hữu trí tuệ đang nổi lên như một điểm căng thẳng mới trong quan hệ thương mại giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Đại sứ Jamieson Greer – Đại diện Thương mại Hoa Kỳ – đã xếp Việt Nam vào danh sách "Quốc gia nước ngoài cần ưu tiên [chú ý về vi phạm quyền sở hữu trí tuệ]" (Priority Foreign Country) – cấp độ phân loại nghiêm trọng nhất – trong báo cáo mới nhất về quyền sở hữu trí tuệ; động thái này mở ra khả năng Việt Nam phải đối mặt với một cuộc điều tra theo Mục 301 trong vòng 30 ngày tới.

Quy chế xếp hạng này – lần đầu tiên được áp dụng trong hơn một thập niên qua – phản ánh những lo ngại dai dẳng của Hoa Kỳ về công tác bảo hộ sở hữu trí tuệ tại Việt Nam, đồng thời có thể tác động đến tiến trình của các cuộc đàm phán thương mại hiện hành.

Việc áp dụng các biện pháp thương mại mang tính tổng thể, được thiết kế nhằm giải quyết các vấn đề mang tính cơ cấu, có thể sẽ gây gián đoạn chuỗi cung ứng, làm gia tăng chi phí cho cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng Hoa Kỳ, và làm suy yếu một mối quan hệ đối tác vốn đã mang lại những lợi ích thiết thực, rõ rệt. Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu vốn đã khá mong manh như hiện nay, những hệ quả như vậy sẽ hoàn toàn phản tác dụng.

Chính những lợi ích nội tại của Việt Nam cũng hoàn toàn gắn liền với sự ổn định. Sự tăng trưởng của quốc gia này phụ thuộc vào các thị trường mở, nguồn vốn đầu tư nước ngoài và việc tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế. Chính sự tương đồng về lợi ích này cần được nhìn nhận như một tài sản chiến lược. Ông Dan Harris, một đối tác tại hãng luật Harris Sliwoski, cho rằng Washington nên tránh nhìn nhận hồ sơ thương mại của Việt Nam qua lăng kính tập trung vào Trung Quốc. Việc coi Việt Nam là một trường hợp "dư thừa năng lực sản xuất" mà không có bằng chứng rõ ràng sẽ tạo ra rủi ro trừng phạt chính các doanh nghiệp Hoa Kỳ đã chuyển hoạt động sản xuất sang đó—một động thái hoàn toàn phù hợp với chính chủ trương của Washington nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào Trung Quốc và tăng cường khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng.

"Rốt cuộc, chúng ta sẽ lại trừng phạt chính những công ty đã làm theo những gì chúng ta yêu cầu," ông Harris cảnh báo.

Ông nói thêm rằng bối cảnh chiến lược rộng lớn hơn là một yếu tố quan trọng: Lịch sử lâu dài về xung đột và sự ngờ vực giữa Việt Nam và Trung Quốc đã tạo nên sự khác biệt giữa Việt Nam và Bắc Kinh, ngay cả khi Việt Nam đang vươn lên trở thành một đối tác ngày càng quan trọng của Hoa Kỳ tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.

Tuy nhiên, những hệ quả từ lập trường thương mại của Washington đối với Hà Nội không chỉ dừng lại ở khía cạnh kinh tế. Mô hình tăng trưởng dựa vào xuất cảng của Việt Nam—được thúc đẩy chủ yếu bởi nguồn vốn đầu tư từ các tập đoàn đa quốc gia chứ không phải bởi các khoản trợ cấp nhà nước—đã âm thầm đưa quốc gia này trở thành một trụ cột chiến lược tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.

Một Việt Nam ổn định và thịnh vượng không chỉ góp phần đa dạng hóa chuỗi cung ứng, mà còn củng cố trật tự dựa trên luật lệ tại Biển Đông.

Sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam không phải là một yếu tố thứ yếu trong chiến lược của Hoa Kỳ; ngược lại, đó là nền tảng để duy trì sự cân bằng tại các vùng biển đang có tranh chấp trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Chính sách thương mại không thể tách rời khỏi thực tế chiến lược: Một nền kinh tế Việt Nam suy yếu sẽ gây ra những hệ quả nghiêm trọng hơn nhiều so với việc chỉ làm gián đoạn dòng chảy sản xuất. Nó có thể làm suy yếu một trong những đối trọng quan trọng nhất trong khu vực nhằm kiềm chế sự bành trướng hiện diện trên biển của Trung Quốc.

Cân bằng giữa thương mại và các liên kết an ninh

Những rủi ro ngày càng gia tăng từ các bước đi chính sách sai lầm có thể phải trả giá bằng những tổn thất chiến lược. Các chuyên gia phân tích cảnh báo rằng những biện pháp thương mại mang tính trừng phạt quá mức từ phía Hoa Kỳ—đặc biệt là những biện pháp xuất phát từ sự hiểu sai về mô hình kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường của Việt Nam—có thể đẩy Hà Nội tìm kiếm các liên kết kinh tế thay thế, qua đó làm thay đổi cấu trúc chuỗi cung ứng khu vực và làm suy yếu tầm ảnh hưởng của Hoa Kỳ trong một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương ngày càng trở nên cạnh tranh khốc liệt.

Các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ đang cân nhắc những biện pháp mang tính hợp tác và trọng tâm hơn nhằm giải quyết các mối quan ngại về thương mại với Việt Nam; trong đó bao gồm cơ chế giám sát chuỗi cung ứng song phương, việc mở rộng chia sẻ dữ liệu về năng lực sản xuất công nghiệp, cũng như khả năng thành lập một nhóm công tác thường trực về thương mại và tiêu chuẩn giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.

Cách tiếp cận này nhằm mục đích giải quyết các vấn đề liên quan đến quy định pháp lý và tính minh bạch, đồng thời duy trì sự ổn định trong khuôn khổ quan hệ đối tác kinh tế rộng lớn hơn.

Thách thức đối với Washington nằm ở sự nhất quán—cụ thể là việc chuyển hóa những lập luận kinh tế thành một yêu cầu chiến lược thiết yếu. Điều này đồng nghĩa với việc nhìn nhận Việt Nam không chỉ đơn thuần là một "vấn đề thương mại" cần được quản lý, mà thay vào đó là một đối tác có quỹ đạo phát triển kinh tế ngày càng đóng vai trò trọng tâm đối với sự ổn định và an ninh của khu vực.

Vượt ra ngoài phạm vi của các dòng chảy thương mại và những con số đầu tư, mối quan hệ kinh tế giữa Hoa Kỳ và Việt Nam còn mang ý nghĩa chiến lược sâu rộng hơn. Mối quan hệ này giúp củng cố một khuôn khổ dựa trên luật lệ tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, đồng thời thúc đẩy sự hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác nhau, từ công nghệ cho đến an ninh hàng hải.

Bất kỳ sự leo thang nào trong căng thẳng thương mại giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đều có nguy cơ làm gián đoạn các mối quan hệ thương mại, cũng như đe dọa đến sự hợp tác chiến lược trên bình diện rộng hơn—đúng vào thời điểm cả hai bên đang nỗ lực duy trì những thành quả đạt được gần đây trong các hoạt động hợp tác về kinh tế và an ninh.



Tôi đến với cõi Thi Ca và Tư Tưởng của Nguyễn Lương Vỵ (NLV) bằng con đường rất tự nhiên của một độc giả yêu thơ, thường theo dõi thơ trên các tạp chí và nhất là các trang mạng văn học nghệ thuật. Còn nhớ lúc đó vào cuối năm 2012, khi tôi đang ngồi lướt mạng, tình cờ đọc được bài thơ “Hòa Âm Âm Âm Âm... ” của NLV trên một trang văn học, tôi đã rất sững sờ và rung động vì ý tứ của bài thơ rất lạ và cũng rất thâm sâu:
331 năm trước Công nguyên, ngay sau chiến thắng Gaugamèles khi tiến vào thành Babylone, đại đế Alexandre nói trước hàng quân: “Chiến thắng này cho vinh quang và tự do”. Võ Nguyên Giáp khó tuyên ngôn như vậy trước lịch sử, vì Điện Biên Phủ không đem đến tự do cho dân Việt mà ngược lại, áp đặt một chế độ tàn khốc. Tự do nào sau đấu tố phi nhân, sau Cải cách ruộng đất, nông dân chỉ có thể cày thuê cho hợp tác xã? Và tự do nào khi dân Bắc di cư rồi dân Nam chạy theo lính Cộng hòa mỗi một khi “giải phóng” vùng “tạm chiếm”? Võ Nguyên Giáp hẳn nhiên muốn giữ lại vế đầu của Alexandre đại đế: “Điện Biên Phủ là một chiến thắng vinh quang.” Tất nhiên và không ai chối cãi, vì lần đầu tiên da vàng chiến thắng da trắng và lần đầu tiên một thuộc địa thắng đế quốc. Nhưng phía sau tấm huân chương là vinh quang cay nghiệt: Đẩy cả một dân tộc vào chiến tranh, mục đích của Hồ Chí Minh là giành độc lập, thống nhất 3 kỳ, nhưng Hiệp định Genève chỉ cho Hồ Chí Minh Bắc kỳ, Nghệ Tĩnh và Quảng Bình,
Tôi có thể giữ được chủ quan về Mưa Thuận Thành hay không, sau tất cả những huyền thoại đã nghe về Hoàng Cầm? Ông là tác giả của Về Kinh Bắc, tập thơ cho đến bây giờ vẫn tiếp tục mang vầng hào quang riêng của những tác phẩm nằm lâu trong ngăn kéo mà chỉ cái tên của nó đã hứa hẹn, và hơn cả hứa hẹn: đã thiết lập hẳn một không gian tinh thần đặc trưng, là điều mà đa số các tập thơ hiện nay không làm nổi. Nhiều người sành điệu rỉ tai nhau, rằng ông là một trong số hiếm hoi những thi sĩ thực thụ còn tồn tại. Tên ông, ngay sinh thời, dường như đã được nối vào danh sách không dài lắm của những tên tuổi được mụ thời gian tính khí rất thất thường đồng ý lưu lại. Nhưng tác phẩm của Hoàng Cầm lại đến với công chúng muộn mằn, và phải chở trên lưng một quá khứ nguy hiểm.
(Robert Mullins International) Tuần này, Sở di Trú Hoa Kỳ đã công bố lời Tuyên bố sứ mệnh mới. Lời tuyên bố mới bổ túc các từ ‘tôn trọng’ và ‘hoan nghênh’. Đây là những từ đã thiếu của chính quyền Nhà Trắng trước đây, khi chính phủ kiên quyết chống đối người di dân. Lời tuyên bố mới nhấn mạnh rằng, Hoa Kỳ "là một quốc gia của sự hoan nghênh và có khả thi" đối với những người di dân, và nói rõ Hoa Kỳ là "một quốc gia của những người di dân." Chính quyền trước luôn cố gắng hạ bớt những đóng góp quý giá mà những người di dân đã đóng góp cho Hoa Kỳ. Nhưng thực tế là Hoa Kỳ đã, đang và sẽ tiếp tục là một Quốc gia của những người di dân.
Chúng ta dường như đang bước vào thời điểm bớt căng thẳng hơn trong đại dịch. Số ca nhiễm coronavirus trung bình hàng ngày ở Hoa Kỳ đã giảm hơn 60 phần trăm trong hai tuần qua. Và với nhiều phương pháp chống dịch hữu hiệu hơn, chúng ta có thể thấy những kết quả tốt hơn nữa khi bước vào mùa xuân. Tiêm chủng ngừa vẫn là một cách chống dịch hiệu quả nhất và ngày càng chứng tỏ mức độ an toàn và hiệu nghiệm.
PETROPOLIS – Các quan chức địa phương cho biết, số người chết do lũ lụt và lở đất tràn xuống thành phố núi Petropolis ít nhất là 117 người, và vẫn còn 116 người hiện đang mất tích, theo APnews đưa tin ngày Thứ Năm, 17 tháng 2 năm 2022.
WENTZVILLE – Hai học sinh kiện một khu học chánh ngoại ô St. Louis vì đã loại bỏ một số sách ra khỏi các thư viện trường, theo tin Times ngày Thứ Năm, 17 tháng 2 năm 2022.
AUSTIN – Một đại bồi thẩm đoàn ở Texas đã truy tố 19 cảnh sát Austin với tội tấn công bằng vũ khí gây chết người khi đàn áp các cuộc biểu tình về chủng tộc lan rộng toàn quốc sau cái chết của George Floyd năm 2020, theo APnews đưa tin ngày Thứ Năm, 17 tháng 2 năm 2022.
HOA KỲ – NYTimes đưa các tin tức về những quy định mới dành cho COVID-19 ngày Thứ Năm, 17 tháng 2 năm 2022, bao gồm:
Quả cam không phải là quả quít. Nếu cả đời chỉ biết quả cam thì khi gặp quả quít nhầm tưởng là quả cam, là điều có thể hiểu được. Nhưng nếu năm này qua tháng khác gặp vô số quả quít rồi mà vẫn chưa nhìn ra được sự khác biệt, thì đó là vấn đề trình độ. Hoặc trong một số trường hợp là một sự cố tình gượng ép để đạt mục đích riêng tư. Cả hai đều gây bất lợi cho sự tiến triển tích cực.
Ý kiến của 3 nhà văn về ngày 17/2/1979. Mong nhận được thêm ý kiến của bạn đọc xa gần.
Bộ Trưởng Tư Pháp New York Letitia James có quyền thẩm vấn Donald Trump và hai con của ông trong cuộc điều tra dân sự về hoạt động kinh doanh của ông, một thẩm phán đã ra phán quyết, bác bỏ nỗ lực của Trump để chặn cuộc thẩm vấn. Engoron tuyên bố Trump và hai con của ông phải ra hầu tòa trả lời những câu chất vấn trong vòng 21 ngày. Engoron đã đưa ra phán quyết sau cuộc điều trần kéo dài hai giờ với các luật sư của văn phòng Trump và James.
Thuyết trình qua Zoom: Sự Lừa Gạt Về Sản Phẩm Sức Khỏe cùng Ông Viên Lê, đến từ Cơ Quan Quản Lý Thực Phẩm và Dược Phẩm vào Thứ Sáu, 25 tháng 2, 2022, 4.00PM – 6.00PM. Quý vị sẽ có dịp tìm hiểu thêm về các sản phẩm được quảng cáo là có hiệu quả phòng ngừa, điều trị, hoặc chữa khỏi bệnh. Khi tham dự, quý vị cũng sẽ nhận được một phần quà đặc biệt từ Hội Ung Thư Việt Mỹ. Nếu quý vị cần được hướng dẫn sử dụng chương trình gọi video Zoom, vui lòng liên lạc với Hội Ung Thư Việt Mỹ. Quý vị vui lòng ghi danh cho buổi thuyết trình tại: https://tinyurl.com/healthfraud225 Chích ngừa COVID-19 vào Thứ Bảy, 26 tháng 2, 2022, 9.30AM – 11.00AM tại văn phòng Hội Ung Thư Việt Mỹ. Địa chỉ là 17150 Newhope Street, Suite 203, Fountain Valley, CA 92708. Quý vị có thể ghi danh trước để tránh chờ đợi lâu tại https://tinyurl.com/vax0226 hoặc walk-in vào hôm đó. Lớp Project ALERT: Các bạn học sinh trung học và phổ thông đang sống tại thành phố Santa Ana hãy cùng VACF tham dự lớp Project ALERT để tìm hiểu và g
Một tin nhắn qua điện thoại gửi vài ngày trước ngày bạo loạn 6/1/2021 từ một dân biểu Cộng Hòa trong nhóm cực hữu House Freedom Caucus gửi Bạch Ốc cho thấy kế hoạch cho ngày 6/1/2021 đã được chia sẻ giữ một số dân cử Cộng Hòa.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.