Hôm nay,  

Quốc Kỳ Đang Bay Cao, Nhưng Chiến Tranh Chưa Kết Thúc

25/05/202616:16:00(Xem: 1066)

blank

Người cựu chiến binh quỳ gối, gục đầu trước tấm đá hoa cương đen của Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam. (Hình: Việt Báo)

 

Quốc Kỳ Đang Bay Cao, Nhưng Chiến Tranh Chưa Kết Thúc
 

Kalynh Ngô
 

Cứ mỗi thứ Hai cuối tháng Năm, nước Mỹ dừng lại, một nhịp.

Không phải dừng theo nghĩa đen. Trên đường phố, dòng xe vẫn lưu thông. Hàng quán vẫn mở cửa. Các khu mua sắm vẫn tấp nập. Chỉ có trường học, công sở, được nghỉ theo luật liên bang. Nhưng có một sự dừng lại khác, lặng lẽ hơn, nằm ở phía bên trong lồng ngực của những người hiểu được ngày này là gì. Cờ được kéo xuống nửa cột, trong nửa ngày. Những hàng mộ bia trắng trải dài trên bãi cỏ xanh mướt của Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington, điểm tô thêm những lá quốc kỳ trước mỗi tảng bia trắng. Đều tăm tắp đến ám ảnh, và đẹp đến nao lòng. Trời hay đổ mưa vào ngày này hằng năm.

Tại Bức Tường Đen hình chữ V nổi tiếng ở Washington DC, còn gọi là Đài Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh Chiến Tranh Việt Nam, trên đó khắc tên hơn 58,000 binh sĩ Mỹ đã tử trận hoặc mất tích, có những cựu chiến binh lặng im theo cách mà không cần ai giải thích thêm. Những đứa trẻ đặt hoa lên những tấm bia mà chúng chưa đủ lớn để đọc hiểu.

blank

           Hình: Việt Báo
 

Memorial Day sinh ra từ tang thương. Từ một quốc gia bị cuộc nội chiến xé toạc đến mức các cộng đồng ở cả miền Bắc lẫn miền Nam, khởi thủy là riêng lẻ, rồi sau đó là cùng nhau, dành riêng một ngày để tôn vinh những người đã chết. Hơn một thế kỷ trôi qua, ngày ấy đã gánh thêm tên tuổi của mọi người lính Mỹ hy sinh trong mọi cuộc chiến kể từ đó. Một ngày thấm đầy trong sự kính cẩn, biết ơn, và bên dưới tất cả những điều đó, là một nỗi đau không bao giờ thật sự lành.

Nhưng năm nay, Memorial Day năm 2026 này, những lá cờ có vẻ nặng nề hơn thường lệ. Bởi vì thế giới bên ngoài biên giới, và ngay trong lòng nước Mỹ vẫn không yên. Bởi vì những câu hỏi chúng ta đặt ra cho những người lính đã ngã xuống: Điều đó có xứng đáng không? Thế giới an toàn hơn chưa? Nhân bản hơn chưa? Và bởi vì đâu đó ở phía kia trái đất, những bà mẹ khác cũng đang đứng trên những nấm mộ, hỏi cùng một câu bằng những ngôn ngữ mà chúng ta không nói được, nhưng bằng một nỗi đau mà cả nhân loại đều hiểu.
 

‘Imaging’

Năm 1971, John Lennon đã cầu xin thế giới hãy thử cùng nhau tưởng tượng…

Ông kêu gọi ta hình dung một thế giới không còn những ranh giới vô hình đẩy con người vào chỗ chém giết nhau. Một thế giới mà ý thức hệ, biên giới và hận thù cổ xưa không còn đủ quyền lực để bắt một chàng trai 19 tuổi cầm súng, chĩa vào một chàng trai 19 tuổi khác, người cũng chỉ muốn được già đi bình thường theo luật thời gian, được cùng người yêu dạo bước những mùa lễ hội, được ngồi ăn sáng với gia đình mỗi buổi sáng không có tiếng bom.

Bài hát của Lennon không phải là ảo tưởng. Đó là tiếng kêu của sự tuyệt vọng được khoác lên chiếc áo của một bài hát ru, một lời cầu nguyện thì thầm bên trong giai điệu. Có lẽ vì cầu nguyện bằng tiếng thét vào khoảng không đã chưa bao giờ có tác dụng.

Hơn nửa thế kỷ sau, bài hát ấy vẫn vang lên trên đài phát thanh. Và hơn nửa thế kỷ sau, thế giới mà nó tưởng tượng vẫn chưa tồn tại.

Hãy nghĩ đến Ukraine. Đã hơn bốn năm kể từ khi xe tăng Nga vượt qua biên giới, và cuộc giết chóc vẫn tiếp diễn. Những người đàn ông trẻ Ukraine, họ đâu đó là nông dân, giáo viên, kỹ sư phần mềm, những người cha, bị huy động vào một cuộc chiến họ không chọn. Họ chiến đấu vì ngôi nhà của họ đang bị ném bom, vì những đứa con của họ cần chỗ ngủ an toàn, vì rút lui đồng nghĩa với bị xóa sổ. Nhưng họ có muốn điều này không? Hỏi bất kỳ người lính nào đang ngồi thu mình trong chiến hào ở Kyiv, câu trả lời gần như chắc chắn là không. Họ muốn chiến tranh kết thúc. Họ muốn về nhà.

Và ở phía đối nghịch? Cũng có những chàng trai trẻ, đến từ những vùng quê đẹp yên bình của nước Nga, từ chối lệnh nhập ngũ là điều gần như không thể được. Người ta buộc họ khoác lên người bộ quân phục. Và bây giờ họ đang chết trong một cuộc chiến mà chính phủ của họ gọi là "chiến dịch quân sự đặc biệt" – như thể đặt lại tên cho sự tàn sát có thể biến nó thành thứ gì đó khác. Gia đình họ khóc thương trong im lặng, đôi khi bị cấm ngay cả việc nói ra từ chiến tranh.

Hãy nghĩ đến Gaza. Dù người ta có tin vào điều gì đó gọi là chính trị, về lịch sử dài và rắc rối, về trách nhiệm của bên này bên kia, thì nỗi đau khổ của những người dân thường là điều không thể tranh cãi. Những gia đình chẳng có liên quan gì đến bất kỳ quyết định nào của bất kỳ chính phủ nào đã mất tất cả. Một người phụ nữ ở Gaza thức dậy vào một buổi sáng chỉ muốn nuôi con, không phải để trở thành biểu tượng của bất cứ điều gì. Bà ấy không chọn gì cả, không chọn phe nào, không chọn lực lượng nào. Nhưng chiến tranh lại chọn bà.

Hãy nghĩ đến Iran. Trong cái bóng của thần quyền và trừng phạt kinh tế, là những người Iran bình thường, nhiều người trẻ, học thức, mơ về một tương lai khác tốt đẹp hơn. Nhưng họ đang sống dưới mối đe dọa thường trực của việc bị cuốn vào một cuộc xung đột họ không phải tác giả. Những cuộc biểu tình, những đợt đàn áp, mối đe dọa của không kích trả đũa và leo thang… Tất cả đè nặng lên những con người chỉ muốn được sống, được thở, được hy vọng. Một đứa trẻ ở Tehran không nằm thức đêm nghĩ đến địa chính trị. Nó nghĩ đến ngày mai có được đến trường gặp bè bạn hay không.

Đây là điều về chiến tranh mà những bài diễn văn trong ngày Memorial Day đôi khi quên nói đủ rõ: Hầu hết những người chết trong chiến tranh đều không muốn ở đó.

blank

        Hình: Việt Báo
 

Memorial Day tôn vinh những người đã phục vụ và hy sinh vì sự tồn vong của quê hương của họ. Sự tôn vinh đó không có giới hạn. Nhưng tôn vinh người đã khuất không nên nhầm lẫn với việc tán dương những điều kiện đã dẫn đến huy chương anh hùng của họ. Để thật sự tưởng nhớ một người lính đã ngã xuống, nên chăng hãy thử ước ao, tưởng tượng, bằng tất cả những gì mình có: rằng thế giới lẽ ra có thể tìm ra một con đường khác.

Có một sự thật khôi hài khi trong cùng một tuần, vừa nhìn thấy lễ tưởng niệm tại Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington, vừa thấy những thước phim mới nhất từ một bệnh viện bị ném bom ở đâu đó xa xôi trên thế giới. Đó là nỗi đau của việc nhận ra rằng chúng ta vẫn chưa học được điều ta cứ nói mình đã học. Rằng "không bao giờ được để xảy ra nữa" là một câu nhân loại đã nói quá nhiều lần đến mức nó bắt đầu mất đi hình dạng.

Trong bài hát đã trở thành bất hủ và gây nhiều tranh cãi, John Lennon đã tưởng tượng về một thế giới sống trong hòa bình. Ông không tuyên bố điều đó sẽ dễ dàng. “Freedom Is Not Free.” Ông chỉ xin chúng ta hãy thử tưởng tượng – hãy giữ lấy khả năng đó, hãy để nó sống, hãy từ chối để sự hoài nghi thuyết phục ta rằng chiến tranh là điều kiện đoạt lấy chiến thắng, quyền lực vĩnh cửu của loài người.

 

blank

Một người lính Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam. Hình của ông đặt tại Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam (Hình: Việt Báo)
 

Không phải như vậy.

Memorial Day năm nay, như nhiều năm khác, quốc gia hãy tưởng nhớ những người Mỹ đã ngã xuống. Đó là những thanh niên đã thở hơi thở cuối cùng ở những địa danh vốn đã phai mờ trên các trang báo cũ. Nhưng sự hy sinh của họ, với tất cả sự trang nghiêm xứng đáng, là bất tử.

Rồi sau đó, nếu bạn có thể, hãy mở rộng sự tưởng nhớ đó ra xa hơn. Đến những người lính đã ngã xuống ở Ukraine. Đến người phụ nữ và gia đình ở Gaza. Đến những gia đình Iran nằm thức trong đêm vì nhớ người thân của mình đã chết trong phận pháo kích của kẻ thù. Đến những người dân bình thường đang bị kẹt trong một cuộc xung đột mà họ không thiết kế và không thể thoát ra.

Những người ấy không phải kẻ thù của chúng ta. Họ không khác gì mấy so với những người lính có tên được khắc trên tấm đá hoa cương đen của Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam, hay được khắc trên đá cẩm thạch ở Normandy American Cemetery, hay được những bậc cha mẹ già thì thầm bên những nấm mộ ở những thị trấn nhỏ nước Mỹ. Họ là những con người muốn được sống.

Người cựu chiến binh quỳ gối, gục đầu trước tấm đá hoa cương đen của Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam.

Đôi vợ chồng già đưa tay lần tìm những cái tên quen, rồi nhẹ nhàng đặt một cành hoa hồng bên dưới.

Điều tối thiểu chúng ta có thể làm hôm nay, tối thiểu thôi, là hình dung về một thế giới không bom đạn, không chiến tranh, và nỗ lực làm những gì mình có thể.

 

Vinh danh cộng đồng A100 và AAPI trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, vì biểu cảm chống người Á châu đã dâng trào sau đại dịch COVID-19. Dừng AAPI Hate, một dự án theo dõi các sự cố thù ghét đối với người Mỹ gốc Á, đã nhận được hơn 1.135 báo cáo chỉ trong hai tuần. Crisis Text Line (Văn Bản Khủng Hoảng) báo cáo rằng AAPIs, đại diện cho khoảng 6% dân số Hoa Kỳ, chiếm 16% trong tất cả các văn bản khủng hoảng liên quan đến coronavirus. Đây chỉ là một vài trong số những con số được báo cáo mà cộng đồng AAPI đã phải đối mặt trong những tuần gần đây - một cộng đồng liên tục chịu sự chênh lệch giàu nghèo lớn nhất của bất kỳ nhóm chủng tộc nào, và ít có khả năng được thăng chức lên quản lý, tìm kiếm các dịch vụ sức khỏe tâm thần hoặc được tính trong cuộc Tổng Kiểm Tra Dân Số.
Hàng triệu người Mỹ đã nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp vào tuần trước, cho thấy việc sa thải đang lan sang nhiều ngành nghề ban đầu không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi việc đóng cửa và gián đoạn kinh doanh liên quan đến vi khuẩn corona. Phúc trình đơn khai thất nghiệp hàng tuần của Bộ Lao Động Hoa Kỳ hôm Thứ Năm, 30 tháng 4 theo sau các tin hôm Thứ Tư nói rằng kinh tế trong quý đầu đã bị thiệt hại nặng nề kể từ thời kỳ Đại Suy Thoái.
Hôm Thứ Năm, 30 tháng 4, Tổng Thống Trump nói rằng ông đã thấy bằng chứng để chứng minh rằng đại dịch vi khuẩn corona truyền nhiễm từ một phỏng thí nghiệm tại Vũ Hán, Trung Quốc, nhưng ông đã không đưa ra chi tiết cái gì là bằng chứng. “Tôi không được phép nói với bạn điều đó,” theo ông cho biết tại cuộc họp báo ở Bạch Ốc nơi mà ông đã nhiều lần cáo buộc chính quyền TQ về việc làm ngơ trong trách nhiệm của họ đối với vi khuẩn, trong khi bỏ ngỏ khả năng nó lây lan một cách cố ý.
Newsom nói rằng các bãi biển tại miền nam California, gồm các bãi biển tại Quận Cam, Los Angeles và San Diego, đã reo chuông báo động, gồm các hình ảnh người tụ tập ở đó và không tuân theo các hướng dẫn giữ khoảng cách xã hội. Ông cho biết tiểu bang muốn làm việc sát cánh với các viên chức địa phương, và nếu họ có thể đưa ra các hướng dẫn tốt hơn, thì các bãi biển có thể “tái mở cửa rất rất nhanh.”
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Hơn một chục người biểu tình, một số trong đó có vũ khí, đã tụ tập hôm Thứ Năm, 30 tháng 4 bên trong tòa nhà Quốc Hội của Michigan để lên tiếng phản đối lệnh cho người dân phải ở trong nhà của Thống Đốc Gretchen Whitmer, với căng thẳng lên cao khi các nhà lập pháp sẵn sàng tranh luận về sự gia hạn của tuyên bố này.
nhiều phó phẩm, nào là tuồng hát bội Kiều, tuồng chèo Kiều, thơ Vịnh Kiều, thơ Xử Án Kiều, Kim Vân Kiều Ca, Kim Vân Kiều Diễn Ca, Túy Kiều Phú… và hàng trăm bài thơ lẫy Kiều nhiều cách ngắn dài, kể cả có người viết lại toàn thể truyện Kiều
Tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, thành phố Westminster, miền Nam California vào lúc 9 giờ sáng Thư Năm ngày 30 tháng Tư năm 2020 lễ đặt vòng hoa và thắp nhang tưởng niệm 45 năm quốc hận 30 tháng Tư đã được long trọng tổ chức, vì tình hình bệnh dịch Covid-19 nên năm nay không được tổ chức đông đúc như những năm trước đây, mặc dù vậy một số các tổ chức cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể cũng đã trang nghiêm tổ chức lễ đặt vòng hoa, thắp nhang tưởng niệm 250,000 Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa, 58,000 quân nhân Hoa Kỳ đã hy sinh trong trận chiến bảo vệ Miền Nam Việt Nam, cùng hàng triệu đồng bào đã bỏ mình trên đường vượt biên, vượt biển tìm tự do, hàng ngàn quân dân các chính VNCH đã bỏ mình trong các trại lao tù cộng sản.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Kể từ sau đệ Nhị Thế chiến, Việt Nam đã hai lần trễ chuyến tàu lịch sử để toàn dân xây dựng đất nước, chỉ vì những khúc quanh oan nghiệt do Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành. Cơ hội thứ ba đang tới, những người cộng sản đang cầm quyền tại Việt Nam có biết chủ động nắm lấy nhằm thoát Tàu và thoát Cộng để chuộc lại phần nào những nỗi oan khiên đã gây ra cho cả dân tộc suốt từ sau Thế chiến Hai đến nay hay không?
Nhìn chung, CSBV và MTGPMN có ba thắng lợi: một là toàn bộ binh sĩ Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam; hai là công nhận sự hiện diện của 140.000 quân của QĐNDVN ở miền Nam và chính phủ ”ma” MTGPMN; ba là quy chế khu phi quân sự sẽ không đuợc luật quốc tế công nhận và không ai sẽ can thiệp khi vi phạm. VNCH phải chịu thất bại nặng nề, vì không có tiếng nói chính thức trong hội nghị. Hai mục tiêu duy trì binh sĩ Hoa Kỳ để tiếp tục hỗ trợ QLVNCH chiến đấu và trục xuất binh sĩ CSBV ra khỏi miền Nam đều không có kết quả. Hoa Kỳ thắng lợi vì mang binh sĩ hồi hương, một lối thoát trong danh dự của Nixon mà Kennedy và Johnson không đạt được. Hà Nội phải công nhận VNCH là một thực thể chính trị để đối thoại, phải từ bỏ yêu sách một chính phủ liên hiệp không có chính quyền Thiệu tham gia.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Từ năm 75 đến thập niên 80 có lối trên một tiệu người Việt Nam liều chết vượt biển để tìm tự do và cuối cùng một số người may mắn đã đến được bến bờ tự do. Thống kê (2007 ?) cho biết có khoảng trên 35.000 người Việt Nam sinh sống tại thành phố Montréal. Họ được gọi là Les Vietnamiens de Montréal hay Les Viéto-Montréalais. Theo thời gian, cộng đồng người Việt Montréal dần dần lớn mạnh thêm, thích nghi và hội nhập một cách êm ái vào xã hội Québec.
Trong sự hỗn loạn của chiến tranh kéo dài nhiều năm, hầu như không có một gia đình người Việt nào trong thế kỷ 20 mà không bị bức hại và phải đào thoát. Chiến tranh Việt Nam đã tạo ra hàng triệu nạn nhân, với bao người tàn phế, cô nhi, chấn thương tâm lý và để lại một đất nước hoang tàn.
Từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến ngày 30 tháng 4 năm 2020 thời gian 45 năm. Đây là một khoảng thời gia rất dài trong đời người và thời gian đủ để một quốc gia, dưới sự lãnh đạo của một tập thể hoặc cá nhân sáng suốt, có thể đưa cả một dân tộc đi lên và xoay chuyển vận mệnh như Minh Trị Thiên Hoàng của Nhật Bản, Tổng Thống Mustafa Kamal Ataturk của Thổ Nhĩ Kỳ hoặc Tổng Thống Phác Chính Hy của Nam Hàn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.