Hôm nay,  

Lời khuyên đừng tranh cãi

03/10/202620:03:00(Xem: 1432)
blank

Lời khuyên đừng tranh cãi

Nguyên Giác
 

Tôi từng được Thầy bổn sư dạy rằng, "Con đừng nên tranh cãi." Thế rồi nhiều năm sau, tôi bước vào nghề báo. Và thế rồi, tôi tự nhận thấy, từng dòng chữ mình viết xuống, từ trong thời chưa có máy vi tính, và từng chữ gõ xuống bàn phím từ khi có vi tính, là đi giữa những trận đồ tranh cãi. Thí dụ, chữ "máy vi tính" tôi vừa gõ hiển nhiên là một lựa chọn, và những lý luận, rằng tại sao không gõ chữ "máy điện toán" và rằng chữ này hay chữ kia là mang theo cả một khung trời giáo dục. Hay lựa chọn giữa chữ "tàu sân bay" và "hàng không mẫu hạm" và rất nhiều nữa.

Tại sao không nên tranh cãi? Về sau, tôi đọc phần Chánh ngữ, chỉ thấy nói rằng hãy từ bỏ nói dối, từ bỏ nói kiểu kích động hai đầu, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm. Tức là phải nói sự thật, nói dịu dàng, nói xây dựng, không nói chuyện vô ích. Thế rồi tôi tập quen tới mức lòng mình tịch lặng, nhiều ngày không thấy chữ nào hiện lên trong tâm (bất kể mình sắp phải gõ vài ngàn chữ cho tờ báo buổi chiều), và rồi không còn bận tâm chữ này hay chữ kia nữa ngay cả khi theo dõi các cuộc tranh luận ở cõi thế gian (nhiều vô số kể, hễ mở TV là thấy rồi) hay các biện luận về pháp xuất thế gian (tôi vẫn theo dõi các nhà sư Mỹ, Úc, Anh... thảo luận trên mạng).

Tôi nghiệm ra rằng lời khuyên "chớ nên tranh cãi" có một sức mạnh huyền bí. Bởi vì, tranh cãi là trận chiến của chữ, của ý nghĩa, của lựa chọn, của một mặt trận trong tâm từng người, trước khi trở thành một cuộc chiến trên trang báo giấy hay trên màn hình TV. Nghĩa là, một cách tự nhiên, chữ sẽ biến mất trong tâm của bạn, cho dù bạn vẫn duy trì khả năng viết cả ngàn chữ mỗi ngày.  Khi bạn dứt bặt tranh cãi trong tâm là bạn sẽ thấy tịch lặng ngay cả khi ngồi giữa chợ.

Thêm nữa, tôi suy đoán rằng lời khuyên đừng tranh cãi hẳn là chớ nên giữ kiểu suy nghĩ "mình đúng, còn họ thì sai" -- kiểu suy nghĩ như thế dễ nảy sinh lòng kiêu hãnh và gây chia rẽ. Xin nói rõ, trong cộng đồng, tôi là một kẻ ba phải, nghe ai nói gì thì mình cũng im lặng; đôi khi về nhà, liền tìm bản tin xác thật để dịch ra cho đồng bào đọc, và tự nhủ, "Hơi đâu cãi nhau, mình chỉ cần dịch bản tin này là đủ để nêu lên sự thật."
 

Trong Kinh MN 139, Đức Phật dạy, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: "Chớ có hành trì dục lạc, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Và cũng không nên hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Từ bỏ hai cực đoan ấy, có con đường Trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Nên biết tán thán và nên biết chỉ trích. Sau khi biết tán thán và sau khi biết chỉ trích, không tán thán, không chỉ trích, chỉ nên thuyết pháp." (1)
 

Nghĩa là, phải có trình độ để biết tán thán cách sống nào của thân, khẩu, ý phù hợp với Chánh pháp, và cần biết chỉ trích nếu cách sống nào không phù hợp. Sau đó thì không cần bận tâm chuyện tán thán với chỉ trích, mà hãy tùy duyên thuyết pháp. Bất kể ai nói rằng mình không đủ kiến thức để tranh biện, hay là có cãi cũng thua. 

Thêm nữa, đối với người thường trực sống với niệm vô thường, chuyện tranh cãi như dường là xa xỉ. Vì không chắc gì mình còn sống để nói dứt một câu nói. Trong Kinh Pháp Cú, bài kệ số 6, có một tích truyện về tranh cãi. Lúc đó, trong thời gian an cư tại tu viện Jetavana ở Savatthi, Đức Phật đã thuyết giảng Kệ số 6 của Pháp Cú, liên quan đến các vị tỳ-kheo ở Kosambi.

Các tỳ-kheo tại Kosambi đã chia thành hai nhóm: một nhóm theo vị thầy thông thạo Luật tạng (Vinaya) và nhóm kia theo vị thầy thông thạo Giáo pháp (Dhamma); họ thường xuyên tranh cãi lẫn nhau. Ngay cả Đức Phật cũng không thể ngăn họ tranh cãi; vì vậy, Ngài đã rời bỏ họ và trải qua mùa an cư kiết hạ một mình tại rừng Rakkhita, gần khu rừng Palileyyaka. Tại đó, con voi Palileyya đã hầu cận Đức Phật.

Các cư sĩ tại Kosambi, khi biết lý do Đức Phật rời đi, đã từ chối cúng dường cho các vị tỳ-kheo còn lại. Điều này khiến họ nhận ra sai lầm của mình và đi đến hòa giải với nhau. Tuy nhiên, các cư sĩ vẫn không còn đối đãi với họ đầy tôn kính như trước nữa, cho đến khi họ khai nhận lỗi lầm của mình với Đức Phật. Nhưng lúc đó Đức Phật đang ở xa và đang giữa mùa an cư, nên các tỳ-kheo Kosambi đã phải trải qua mùa an cư trong sự khổ sở và gian nan.

Khi mùa an cư kết thúc, Tôn giả Ananda cùng năm trăm vị tỳ-kheo đã đến gặp Đức Phật và chuyển lời thỉnh cầu từ ông Anathapindika cùng các cư sĩ khác, mong Ngài trở về. Sau đó, Đức Phật đã trở lại tu viện Jetavana ở Savatthi. Các tỳ-kheo đi theo Ngài về đó, đảnh lễ dưới chân Ngài và thú nhận lỗi lầm. Đức Phật quở trách họ vì đã không vâng lời Ngài. Ngài nhắc nhở họ rằng ai rồi cũng sẽ phải chết, do đó họ cần chấm dứt tranh cãi và không được hành xử như thể mình sẽ bất tử.

Sau đó, Đức Phật đã thuyết giảng bài kệ Pháp Cú 6 như sau: Những người không có trí tuệ thường không nhận thức được rằng trong thế gian này rồi ai cũng sẽ phải chết (và vì không nhận thức được điều đó, họ cứ tiếp tục tranh cãi). Người có trí tuệ thì nhận thức được điều này, và nhờ đó, những tranh cãi của họ được chấm dứt.

 
Như thế, hễ ai sống được với vô thường, họ sẽ không bận tâm tranh cãi nữa. Thế nào là sống với vô thường. Nếu bạn nhớ, trong các bản kinh về vô thường, câu đầu tiên Đức Phật thường hỏi là, "mắt có vô thường không?" Do vậy, chúng ta có thể niệm vô thường bắt đầu bằng tất cả những cái đang chuyển biến vô thường quanh mình: những cái được thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm xúc, tư lường (nhóm này gọi là sắc, hay là form). Và tất cả những cái được thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm xúc, tư lường đều là vô thường, do vậy vô ngã, do vậy vô tự tánh. Chỉ cần sống với kinh nghiệm này thôi, không cần tranh cãi gì hết.

Tương tự, trong Kinh SN 22.94, Đức Phật nói rằng: "...Này các Tỷ-kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỷ-kheo, người nói Pháp không tranh luận bất cứ với một ai ở đời... Sắc, này các Tỳ-khưu, là pháp thế gian. Pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri, sau khi chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ. Và ai, khi Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ như vậy, vẫn không biết, không thấy, thì đối với người ấy, Ta xem là vô tích sự, là kẻ ngu si, phàm phu, mù lòa, không có mắt, không có biết, không có thấy." (Tương tự với Thọ, Tưởng, Hành, Thức) (2)
 

Nhìn lại lịch sử Phật giáo, chúng ta nhận thấy rất nhiều vị sư dựa vào kỹ năng tranh biện trong khi hoằng pháp. Phật giáo Tây Tạng đã lấy tranh biện làm công cụ, như một phương tiện trong khi hoằng pháp. Tranh luận trở thành một môn học tại các tu viện Phật giáo Tây Tạng. Bạn dễ dàng tìm thấy những cuộc tranh luận này trên các băng hình YouTube. Tranh luận trong các tu viện Tây Tạng không phải để cãi nhau hơn thua. Mục tiêu là giúp nhau đưa ra các lý luận sắc bén, bạn học đồng môn sẽ giúp nhau bộc lộ những lỗ hổng, sự mơ hồ hoặc hiểu sai về các khái niệm sâu xa như Tánh Không hay Vô Thường.


 

Nơi đây, chúng ta sẽ dịch sơ lược bài "The Purpose and Benefits of Debate" (Mục đích và lợi ích của việc tranh biện) của Đại sư Tsenshap Serkong Rinpoche II:

"Trong Phật giáo, tranh biện không nhằm mục đích đánh bại người khác bằng những lý lẽ khôn khéo. Mục đích của nó là giúp người học củng cố sự hiểu biết của mình, để họ không còn hoài nghi khi thực hành thiền định. Trong lớp học, mỗi học viên sẽ thách thức bạn học bảo vệ quan điểm của mình bằng cách đặt câu hỏi và chỉ ra những điểm bất hợp lý trong câu trả lời của đối phương. Kết quả là cả hai bên đều cùng tiến bộ.

Một trong những mục đích chính của việc tranh biện trong quá trình tu học Phật giáo là giúp bạn phát triển nhận thức kiên định. Bạn đưa ra một quan điểm và người bạn tranh biện sẽ thách thức quan điểm đó từ nhiều góc độ khác nhau. Nếu bạn có thể bảo vệ quan điểm của mình trước mọi sự phản bác, đồng thời nhận thấy nó không có điểm bất hợp lý hay mâu thuẫn nào về mặt logic, bạn có thể tập trung vào quan điểm hoặc cách nhìn đó với một nhận thức hoàn toàn kiên định, không gì lay chuyển nổi. Trạng thái tâm trí này còn được gọi là niềm tin vững chắc. Bạn cần có nhận thức xác tín và niềm tin vững chắc này khi thực hành thiền định chuyên chú vào bất kỳ đề tài nào, chẳng hạn như tính vô thường, sự bình đẳng giữa bản thân và người khác, coi người khác quý giá hơn bản thân, tâm Bồ-đề, tính Không, v.v. Nếu tự mình phát triển nhận thức xác tín đó—ví dụ như thông qua thiền quán (thiền phân tích) hoặc chỉ suy ngẫm về Giáo pháp—bạn sẽ không bao giờ có thể tự đặt ra nhiều câu hỏi phản biện cho sự hiểu biết của mình như khi tranh biện cùng nhiều bạn học am hiểu. Người khác có thể dễ dàng nhận ra những điểm bất hợp lý hoặc sai sót trong lập luận của bạn hơn chính bản thân bạn.

Hơn nữa, tranh biện tạo ra môi trường thuận lợi hơn thiền định để người mới bắt đầu rèn luyện khả năng tập trung. Những thách thức từ bạn tranh biện và sự hiện diện của các bạn học đang lắng nghe buộc bạn phải tập trung cao độ. Khi thiền định một mình, chỉ có ý chí mới giúp bạn ngăn tâm trí xao nhãng hoặc tránh bị buồn ngủ. Ngoài ra, tại các sân tranh biện trong tu viện, nhiều cuộc tranh biện thường diễn ra đồng thời với âm thanh rất lớn. Điều này cũng buộc bạn phải tập trung. Nếu những cuộc tranh biện xung quanh làm bạn xao nhãng hoặc gây khó chịu, coi như bạn đã thất bại. Một khi đã rèn luyện được kỹ năng tập trung trên sân tranh biện, bạn có thể áp dụng nó vào việc thiền định, ngay cả khi thiền ở những nơi ồn ào.

Thêm vào đó, tranh biện còn giúp phát triển nhân cách của bạn. Bạn không thể vừa giữ thái độ rụt rè, e ngại mà vẫn tham gia tranh biện được. Bạn cần lên tiếng khi đối thủ đưa ra thách thức. Ngược lại, nếu tỏ ra kiêu ngạo hay nổi nóng, tâm trí bạn sẽ trở nên thiếu sáng suốt và chắc chắn bạn sẽ bị đối phương đánh bại. Bạn cần luôn giữ được sự cân bằng về mặt cảm xúc. Dù thắng hay thua, cuộc tranh biện vẫn mang lại cơ hội tuyệt vời để nhận diện cái "Tôi" cần phải bị bác bỏ. Khi bạn nghĩ hoặc cảm thấy "Mình đã thắng; mình thật thông minh" hay "Mình đã thua; mình thật ngu ngốc", bạn có thể nhận diện rõ ràng sự phóng chiếu của một cái "Tôi" kiên cố, đầy tự mãn mà bạn đang đồng nhất mình với nó. Đây chính là cái "Tôi" hoàn toàn hư ảo và cần phải bị bác bỏ.

Ngay cả khi chứng minh được rằng quan điểm của đối phương là phi lý, bạn cũng cần nhớ rằng điều đó không có nghĩa là bạn thông minh hơn còn họ thì ngu ngốc. Động cơ của bạn phải luôn là giúp đối phương phát triển sự hiểu biết sáng suốt và niềm tin vững chắc vào những điều có thể được chứng minh bằng lý luận." (3)
 

Như thế, mục đích của tranh biện là để thiết lập chánh kiến trước khi hành thiền, trong lộ trình (Văn-Tư-Tu), một phương pháp diệt trừ chấp ngã (giữa người hỏi và người đáp không có chuyện cãi thắng, cãi thua, chỉ là để học Phật thôi; không có chuyện kiêu hãnh khi cãi đúng Chánh pháp hay mắc cỡ khi nói chệch Chánh pháp). Việc đối diện trực tiếp với sự yếu kém của bản thân trong môi trường tranh biện ồn ào, công khai giúp người tham dự học cách buông bỏ lòng kiêu hãnh, giữ tâm bình thản và nhận diện rõ bản chất ảo tưởng của cái "Tôi". Bạn hãy hình dung thế này: hai nhà sư đang tranh biện nơi sân chùa nên được tự thấy như hai đám mây đang chuyển động của đất nước gió lửa đang rủ nhau gạn lọc Chánh pháp.
 

Ni trưởng Geshe Kelsang Wangmo trong video "The Art of Buddhist Debate" (Nghệ thuật Tranh biện Phật Giáo) trên YouTube kể lại rằng các tu viện Phật giáo Tây Tạng khuyến khích đặt câu hỏi về mọi thứ, yêu cầu xem xét kỹ lưỡng bất cứ điều gì giáo viên nói, chứ không phải chấp nhận nó chỉ vì giáo viên nói vậy. Trong video dài 10:22 phút có phụ đề tiếng Anh, tiếng Việt (nút cc: rồi chọn phụ đề) Ni trưởng Geshe Kelsang Wangmo kể về thực hành tranh biện trong Phật giáo Tây Tạng. 

https://youtu.be/QIamQnti3as?si=hR8ytqKWZj9Rth5-

 
Nhìn lại, tôi nghĩ rằng mỗi người có một cách ứng biến khác nhau cho tự thích hợp với môi trường. Cũng y hệt như con chim thì bay, và con cá thì lội, mỗi người sẽ tùy theo hành nghiệp riêng sẽ tự biết cách bay như chim hay lội như cá cho phù hợp Chánh pháp. Thêm nữa, với người phải tự quán sát chính mình, biết cách tự sống như một hòn đảo hiển nhiên là không thấy có gì để tranh cãi.

Do vậy, một trong những niềm vui thầm lặng mà tôi tìm thấy trong nghề báo không đến từ lúc hoàn thành bài viết, mà lại hiển lộ ngay khi tôi tạm dừng bút, tạm dừng gõ giữa chừng. Trong khoảnh khắc dừng lại ấy, tôi tự hỏi: Liệu chi tiết này có chính xác không? Có điều gì mình đã hiểu sai chăng? Mình có đang quậy phá ai không? Chữ của mình có từ ái không? Và những câu hỏi tương tự.
 

Những khoảnh khắc chiêm nghiệm này chuyển hóa công việc viết báo thành một kiểu tu tập. Các chủ đề gây tranh cãi, những ý kiến ​​trái chiều và các cuộc thảo luận công khai trở thành cơ hội để tôi tự hỏi xem mình chánh niệm ra sao. Khi thấy cộng đồng mình hiểu sai một vấn đề, mình nên viết ra sự thực cách nào để "giải ảo" mà sẽ không ai tự ái hay bị tổn thương?

Và viết chính là hạnh phúc. Thực sự như thế. Hạnh phúc là sống với không một chữ trong tâm, nhưng khi cần phải viết thì vô lượng chữ hiện ra. Hạnh phúc là viết với lòng yêu thương không ngừng, trong khi cân nhắc từng chữ của sự thật và từ ái. Hạnh phúc là khi ngồi viết với trí tuệ vô sanh, y hệt như một ngọn nến đang tỏa ra ánh sáng bằng toàn thân tự cháy trong khi chưa lụi tàn, và không bận tâm tranh cãi với bóng tối cõi này. 

   

GHI CHÚ:

(1) Kinh MN 139: https://suttacentral.net/mn139/vi/minh_chau   

(2) Kinh SN 22.94: https://suttacentral.net/sn22.94/vi/minh_chau    

(3) The Purpose and Benefits of Debate: https://studybuddhism.com/en/tibetan-buddhism/about-buddhism/how-to-study-buddhism/the-purpose-and-benefits-of-debate  

 




Người Ukraine là một dân tộc quật cường và dũng cảm. Phải quật cường và dũng cảm như thế nào mới đứng vững trước làn sóng xâm lăng hàng bao thế kỷ nay, hết Nga đến Đức, hết Đức đến Ba Lan, hết Ba Lan rồi lại Nga. Và ngày nay xứ sở của người dân yêu nước này đang đứng trước bờ vực thẳm, lấy đôi tay trần mà chống trả bom đạn của quân xâm lược Nga. Lòng yêu nước ấy của dân tộc Ukraine được ký thác vào cây đàn Bandura của họ. Cây đàn là biểu tượng cho tinh thần ái quốc trước sự xâm lược của ngoại bang.
Bình luận của tác giả Đào Như về tình hình chiến sự Ukraine.
Sau nhiều tuần căng thẳng leo thang, các cuộc sơ tán đại sứ quán và các lệnh trừng phạt ngoại giao, lực lượng xâm lăng Nga đã tấn công Ukraine bắt đầu vào tuần trước. Rạng sáng thứ Năm tuần trước ngày 24 tháng Hai, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã công bố "sự khởi đầu của một cuộc xâm lược của Nga" vào quốc gia láng giềng, ra lệnh tấn công quân sự và chính thức tuyên chiến. Đây là một điều mà người Ukraine đã lo sợ trong nhiều tuần, và chiến tranh – với ý định khôi phục đế chế Liên Bang Xô Viết và sự chán ghét chung của Putin đối với nền dân chủ Ukraine - là một cuộc xung đột mà ngay cả công dân Nga dường như cũng không muốn. Vài giờ trước khi khi chiến tranh bắt đầu, tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky đã có một bài phát biểu đầy xúc động trước người dân Ukraine, chuẩn bị tinh thần cho dân chúng về “thảm họa” sắp xảy ra. “Mục tiêu chính của chúng tôi là hòa bình ở Ukraine và sự an toàn của người dân Ukraine,” Zelensky nói. "Sẽ không có ai đảm bảo an ninh nữa."
Benjamin Franklin nói: “Wars are not paid for in wartime, the bill comes later.” (Giá chiến tranh không trả trong thời chiến, hóa đơn sẽ gửi sau.) Chúng ta hiểu câu này khá rõ ràng, nhưng có lẽ, hầu hết chúng ta cho rằng hóa đơn đó, liệt kê toàn những thiệt hại và thảm họa; những thế hệ sau phải trả góp cái giá đắt đỏ để được hưởng hòa bình. Trong thực tế, không có chuyện gì, việc gì, thoát ra khỏi định luật “âm dương”. Đã có thiệt hại, tất phải có đền bù. Đã có thảm họa, tất phải có sự cảm nhận sâu sắc về khổ đau và tìm thấy những gì để chữa lành thương tích. Nói một cách khác, tâm tư nhân loại sẽ lớn lên từ đám tàn tro của tàn phá. Chiến tranh Ukraine-Russia cũng không ngoại lệ. Những ngày qua, chúng ta theo dõi, nghe ngóng, bàn thảo, biết bao nhiêu tin tức thời sự, lý luận biết bao nhiêu lời nói, chia sẻ biết bao nhiều điều cảm động, cảnh tang thương. Người Việt trải qua những kinh nghiệm sống, mất còn, ly tán, thảm thiết của chiến tranh.
Cũng như họa sĩ, chúng ta ít nhiều đều nghĩ đến cuộc chiến tranh Ukraine hiện tại, hồi tưởng hình ảnh Việt Nam những ngày trước/sau 75. Câu hỏi được đặt ra từ TS Trần Tuệ Quân, giáo sư Dân Tộc Học, Chủng Tộc Học và Sử Học tại trường đại học Yale (tiểu bang Connecticut) khi xem tranh của họa sĩ Ann Phong: “Khi thế giới của chúng ta đổ vỡ, chúng ta đối phó với những hoàn cảnh xé toạc đi sự tồn tại của mình như thế nào. Chúng ta phải làm gì với những chấn thương tâm lý và mắt mát mà sự đổ vỡ đó gây ra? Làm thế nào mà chúng ta có thể tìm thấy niềm hy vọng giữa sự đau đớn và tuyệt vọng? Chúng ta đi đâu từ đó?” Cuộc triển lãm “Đánh Giá Lại Sự Bình Thường” của họa sĩ Ann Phong sắp tới tại Đại Học Cal State Fullerton (ngày 12 tháng 3 đến ngày 21 tháng 5, 2022) suy ngẫm về những câu hỏi trên và mở ra một khung trời nơi chúng ta có thể chiêm nghiệm, suy nghĩ về những thách thức hiện tại.
"Tôi tin văn hóa có thể tạo ra những khuôn mẫu cư xử nơi con người, và đó là những gì tôi muốn nói đến khi tôi viết về hệ lụy của đất mẹ, Yakimchuk nói về bài thơ nguyện cầu (prayer). "Đây chính là hệ lụy chúng ta gánh theo, và cuối cùng thì chúng ta phải sống hòa hoãn với nó. Và chúng ta nên sáng tạo ra những câu chuyện mới để tự kể cho mình. Nếu chúng ta không làm thế, kẻ thù chúng ta sẽ làm cho chúng ta."
Chiều Thứ Sáu 25.2.2022, Đức Giám Mục Kevin Vann, Giám Mục Giáo Phận Orange đã mở cuộc họp báo tại tòa nhà Văn Hóa trong khuôn viên nhà thờ chính tòa (nhà thờ kiếng) để loan báo việc ngài bổ nhiệm cha Thái Quốc Bảo làm đại diện cho ngài, điều hành mọi việc trong Giáo Xứ Chánh tòa và thánh đường chánh tòa Giáo phận Quận Cam.
Chiến tranh giữa Nga và Ukraine đã bắt đầu bùng nổ vào tối thứ tư ngày 23 tháng 2 năm 2022, giờ California, Hoa Kỳ. Sử sách thế giới sẽ ghi xuống hành động tấn công Ukraine này của Nga như một hành động xâm lược. Để bảo vệ tổ quốc, toàn dân và chính phủ Ukraine đã anh dũng đối đầu và chiến đấu chống lại Nga. Quân đội Nga tràn ngập Ukraine tứ phía. Cả hai phe đã cận chiến ngay trong thủ đô Kiev Máu đã đổ, đạn đã bay và người đã chết. Tan hoang và đổ vỡ khắp nơi. Còn đâu một quốc gia Đông Âu với những người dân hiền hoà, thành phố Kiev với kiến trúc cổ độc đáo cùng nét văn hoá mà ai đến thăm một lần cũng đều yêu mến.
Tháng Hai 2022 đánh dấu năm năm ngày thành lập hội PIVOT. Tháng 12 năm 2016, sau khi Donald Trump đắc cử tổng thống, một nhóm người Mỹ gốc Việt họp tại Virginia để tìm cách ngăn chận một chỉnh quyền mà họ tiên đoán là tham nhũng và lũng đoạn, có phương hại đến nền tự do dân chủ tại Mỹ và các dân tộc thiểu số. Vào tháng Giêng 2017, những cuộc họp tiếp tục tại nam và bắc Cali. Chúng tôi nhận thấy có rất nhiều tổ chức của người Mỹ gốc Việt tiếp tay thực hiện nhiều việc hữu ích tại địa phương của họ và Việt Nam. Nhưng không có một tổ chức toàn quốc nào hữu hiệu cho những người Mỹ gốc Việt cấp tiến muốn bắt tay vào chính trường Hoa Kỳ.
(Robert Mullins International) Dự luật Phân bổ ngân sách Omnibus và bất kỳ dự luật nào khác đang chờ xem xét tại Quốc hội, hiện giờ sẽ chỉ đứng ở vị trí phụ. Ngay bây giờ, trọng tâm ưu tiên của Quốc hội là làm thế nào để cung cấp cho Tổng thống Biden mọi thứ mà ông ấy cần để đáp lại hành động gây hấn của Nga. Tất cả các ưu tiên khác có thể bị trì hoãn, bao gồm cả các đề xuất di trú có thể được kèm vào trong Dự luật Phân bổ ngân sách Omnibus, trong đó có chương trình trung tâm vùng EB-5.
Trong thời gian gần đây tỉ số mắc bệnh cao kỷ lục, kể cả trẻ em. Biện pháp tốt nhất là chủng ngừa gấp, từ 5 tuổi trở lên, kể cả mũi bồi. Trong tinh thần phục vụ cộng đồng, chúng tôi mời bạn vào Thứ Bảy, 05/11 này đến Miyoco Clinic từ 8 giờ sáng đến 12 giờ trưa tại
UKRAINE Một nhà máy điện hạt nhân Zaporizhia ở đông nam Ukraine đã bị bốc cháy bởi những đợt pháo kích không ngừng trong đêm thứ năm rạng sáng thứ sáu, đám cháy đã được dập tắt, chính quyền Ukraine cho biết. nhưng quân đội Nga sau đó đã chiếm đóng nhà máy điện hạt nhân Zaporizhia này, theo tin Reuters
HOA KỲ – Do nhu cầu vắc xin COVID-19 ngày càng giảm, các tiểu bang đang hối hả sử dụng các liều dự trữ trước khi hết hạn bị lãng phí, theo APnews đưa tin ngày Thứ Năm, 3 tháng 3 năm 2022.
HOA KỲ – Hàng trăm trang tài liệu tòa án do Ủy ban 6 tháng 1 đệ trình đã cho thấy các chi tiết mới về mức độ áp lực mà Trump đã gây cho Cựu Phó Tổng thống Mike Pence, theo TheHill đưa tin ngày Thứ Năm, 3 tháng 3 năm 2022.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.