Hôm nay,  

Văn Phong và Kinh Phật

08/10/202605:27:00(Xem: 322)
blank

Văn Phong và Kinh Phật
 

Nguyên Giác

Nói về chữ "văn phong" hẳn là có những định nghĩa rất mực uyên bác trong sách vở. Một thời tôi đã từng học những thứ rất phức tạp trong các chứng chỉ Triết học, và bây giờ tôi đã quên sạch. Trong đầu tôi không còn chữ nào (không phải là vô niệm, như kiểu các Thiền sư nói; mà thực tế là vô tự, tức là không có chữ nào hiện lên trong tâm, và tôi không nhớ tôi đã tu tập kiểu nào mà lại ra như thế). Tôi cũng không phải chuyên gia về ngữ học. Nơi đây tôi chỉ muốn nói theo kiểu rất mực học trò thời mới lớn (may ra còn vài chữ), rằng văn phong là cái giọng mình nhận ra sau một cuộc nói chuyện với một ai đó. Thí dụ, bạn nhớ rằng hồi sáng, bạn nói chuyện gì đó với một thiếu nữ trên chuyến xe buýt, rồi bạn nhớ tới giọng Huế của cô này, tiếng cô cười dòn tan và dịu dàng khi từ biệt xuống trạm. Đọc một cuốn sách cũng thế, khi bạn gấp sách lại, bạn sẽ nhớ tới giọng riêng của từng tác giả và không khí truyện. Thí dụ, văn phong trong truyện Bố Già hiển nhiên là khác với trong Hoàng Tử Bé.
 

Tôi lớn lên ở Sài Gòn của nhiều thập niên trước, trong một thời mà sách là cánh cửa mở ra những chân trời rộng lớn nhất. Hiển nhiên là cánh cửa duy nhất, vì đó là thời chưa có TV và Internet. Những năm trung học của tôi gắn liền với niềm vui đọc sách và một thú vui đặc biệt: đọc sách là lắng nghe, và nhận ra giọng điệu riêng của từng nhà văn, từng tác phẩm. Mỗi cuốn sách là một dòng sông văn học khác nhau để tôi ngụp lặn và tắm gội. Hôm nay tôi đắm mình trong sương khói thiên cổ kỳ bút rất Việt Nam trong Truyền Kỳ Mạn Lục của cụ đồ Nguyễn Dữ thời thế kỷ 16. Ngày mai tôi lại theo chân những mưu lược biến ảo của danh tác Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, ngạc nhiên trước truyện kể tài thao lược của các bậc anh hùng và quân sư Trung Hoa. Rồi một ngày khác, các trang giấy đưa tôi bay theo những chuyến phiêu lưu thần kỳ trong Tây Du Ký của tác giả Ngô Thừa Ân, say mê trước trí thông minh, sự nghịch ngợm và năng lực biến hóa vô tận của Tôn Ngộ Không, một kiểu Phật tử rất là ngang bướng (À ha, tôi nhớ rồi, nhớ rằng chữ “vô tự” nằm trong phần cuối truyện này; hóa ra mình vô tình chôm chữ này của người xưa). Và không thể thiếu những đêm dài cùng các trang truyện võ hiệp của  Kim Dung, nơi giang hồ, nghĩa khí, tình yêu và lý tưởng bụi đời hòa quyện thành một thế giới vừa thực vừa mộng. Từ rất sớm, tôi đã học được rằng văn chương không chỉ kể chuyện mà còn có một âm vang riêng của một thế giới của chữ; và niềm vui của tôi trong khi đọc là lắng nghe.
 

Vậy đó, tôi lớn lên theo các trang sách thời đi học, nơi mỗi tác phẩm là một dòng sông có tiếng nói riêng, mang một màu nước trong trẻo riêng và có những nhịp chảy khác biệt. Tói đã lắng nghe tiếng thì thầm riêng của mỗi dòng sông. Truyện Kiều của Nguyễn Du là dòng sông lấp lánh ánh trăng, vừa đẹp đẽ vừa man mác buồn. Câu thơ uyển chuyển, tinh tế, thấm đẫm nỗi đau nhân thế khiến người đọc như nghe tiếng lòng của những kiếp người trôi nổi. Về sau, tôi ngờ vực cụ Nguyễn Du muốn viết văn phản chiến vì gia đình họ Nguyễn và gia đình bên vợ đều tòng quân theo hai chiến tuyến kình nhau của phò và chống Tây Sơn, nhưng cụ Nguyễn cứ phải làm thơ lục bát loanh quanh về cô Kiều vì sơ suất là sẽ bị chém đầu ba họ. Rồi văn phong ngậm ngùi trong Chinh Phụ Ngâm qua tài dịch của Đoàn Thị Điểm lại là dòng sông của nhớ thương và cô quạnh, với những làn sóng cảm xúc dạt dào, nơi tiếng lòng của người chinh phụ ngân lên như khúc nhạc buồn không dứt. Trong khi đó, truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu mang vẻ mộc mạc và khỏe khoắn như một con sông phương Nam. Văn phong giản dị, chân thành, đề cao nghĩa khí và đạo làm người, làm lòng người trẻ thêm tin yêu những điều ngay thẳng.

Đối với một cậu học trò mê đọc sách, được đi từ dòng sông tài hoa của Nguyễn Du sang dòng sông bi cảm của Đoàn Thị Điểm, rồi đến dòng sông nghĩa hiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một niềm vui lớn. Chính từ những chuyến du hành ấy, tôi bắt đầu nhận ra rằng văn chương không chỉ kể những câu chuyện khác nhau, mà còn cất lên những giọng nói khác nhau của tâm hồn dân tộc.
 

Thế rồi, trong làn sóng học Phật các năm cuối thập niên 1960s, cậu học trò tình cờ nhặt được bản dịch tiếng Việt mỏng manh của cuốn Tiểu Chỉ Quán. Tôi đã tự ngồi thiền trên căn gác gỗ tối lờ mờ, trong những lúc thư thả giữa các giờ học thi Tú Tài, ngỡ ngàng bước vào một thế giới hoàn toàn mới --- nơi của tịch lặng, êm đềm, tách biệt khỏi những ồn ào phố thị bên ngoài. Không còn là việc đọc những dòng chữ trên giấy, từng hơi thở ra vào tựa như từng trang sách ngát hương lặng lẽ của tâm mình. Đó là hạnh phúc thuần khiết, sâu thẳm mà tôi chỉ tới bên hàng hiên (hiển nhiên, chưa gọi là vào nhà, nói theo kiểu sách Thiền, may ra chỉ mới nhìn thấy vết chân trâu).

Khi bước chân vào đại học, thế giới đọc của tôi lại mở rộng thêm. Tôi đặc biệt yêu thích những tác phẩm dịch của Bùi Giáng. Trong các bản dịch của nhà thơ họ Bùi, ngôn ngữ Việt Nam bỗng trở nên phóng khoáng, tài hoa và đầy nhạc tính. Cùng lúc đó, tôi tìm thấy nơi các bản dịch của Ni sư Trí Hải một giọng văn sáng sủa, chuẩn xác và thấm đẫm tinh thần Phật học, giúp những tư tưởng sâu xa trở nên gần gũi và dễ tiếp cận.

Đó cũng là thời gian tôi khám phá những văn phong học thuật rất khác nhau. Nơi Giáo sư Nguyễn Văn Trung hay Lê Tôn Nghiêm, tôi gặp một lối lý luận mang đậm ảnh hưởng phương Tây: chặt chẽ, biện chứng, phân tích từng khái niệm đến tận nền tảng của nó. Đọc các tác giả ấy giống như bước vào một cuộc đối thoại triết học với những câu hỏi không ngừng được đặt ra và khảo sát.
 

Trong khi đó, nơi Linh mục Kim Định và Nguyễn Văn Thọ, tôi lại bắt gặp một thế giới tư tưởng đậm chất Đông phương. Các tác phẩm của họ không chỉ lập luận mà còn gợi mở, không chỉ phân tích mà còn dẫn người đọc trở về với những tầng sâu của văn hóa và trực giác. Tư tưởng hiện ra như một dòng chảy liên tục giữa triết học, lịch sử và tâm linh. Dù vậy, tôi ngờ vực về sự chính xác của lý luận Việt Nho và Triết Lý An Vi của LM Kim Định, có thể Thầy đã bác bỏ Hán Nho theo một kiểu quá nhiều suy đoán vì tự hào dân tộc Việt (?). Dĩ nhiên, hạnh phúc là tôi được học, được đọc quá nhiều, sau này tôi nghĩ tới hình ảnh cậu Thiện Tài Đồng Tử trong Nhập Pháp Giới của Kinh Hoa Nghiêm, phải đi học khắp giang hồ với 53 lần tham vấn. Dĩ nhiên, tôi không giỏi như thế, và cũng không có hạnh nguyện lớn như các vị trong Kinh.

Và rồi có những tác giả mang một giọng văn rất Việt Nam. Thầy Nhất Hạnh viết với sự trong sáng, bình dị nhưng thấm sâu vào lòng người như lời tâm tình bên tách trà; trong đó, Bông Hồng Cài Áo của Thầy là một đoản văn bất tử, dẫn tới ca khúc bất tử do Phạm Thế Mỹ phổ nhạc. Trong khi đó, nhà văn Hồ Hữu Tường lại đưa tôi đến những suy tư vừa dân tộc vừa nhân loại, vừa thực tế vừa lý tưởng; bất kỳ ai cũng phải suy nghĩ khi đọc Phi Lạc Sang Tàu của nhà văn học Hồ. Đọc các tác giả này, tôi nhận ra rằng tư tưởng không nhất thiết phải khoác chiếc áo hàn lâm; nó có thể cất tiếng bằng ngôn ngữ của làng xã, của lũy tre, của đời sống và của kinh nghiệm Việt Nam.
 

Nhìn lại, tôi thấy mình đã trưởng thành nhờ được tắm trong nhiều dòng sông văn học khác nhau. Mỗi tác giả, mỗi văn phong, mỗi truyền thống tư tưởng đã để lại một dấu ấn riêng. Và có lẽ món quà quý giá nhất mà việc đọc mang lại là khả năng nhận ra vẻ đẹp của sự đa dạng, đồng thời nuôi dưỡng lòng biết ơn đối với tất cả những người đã làm giàu cho đời sống tinh thần của mình qua từng trang sách.

Khi rời Việt Nam để sống nơi hải ngoại, tôi lại bước vào một dòng sông khác của đời mình: dòng sông kinh điển Phật giáo. Những năm tháng miệt mài đọc kinh trên SuttaCentral đã mở ra trước mắt tôi một thế giới vừa cổ kính vừa tươi mới. Các bản kinh Nikāya hiện lên với giọng văn giản dị, trực chỉ, sáng trong như nước nguồn. Ở đó không có những lớp trang sức của văn chương, nhưng từng câu, từng đoạn đều mang một sức mạnh đặc biệt, đưa người đọc trở về với sự tỉnh thức của hiện tại.
 

Trong khi làm báo, viết truyện ngắn (dĩ nhiên, mỗi năm phải viết một truyện tình rất mực lâm ly bi đát cho báo Xuân), làm thơ, và viết về Phật giáo nhiều thập niên qua, tôi nhận ra rằng không có dòng sông văn học nào thực sự rời khỏi mình. Các dòng sông vẫn lặng lẽ chảy trong từng trang viết. Có lúc, trong những đoạn văn đầy cảm thức về thân phận con người, tôi bắt gặp thấp thoáng dư âm của Nguyễn Du. Đó là sự cảm thông đối với những nỗi khổ niềm đau của kiếp người, là cái nhìn dịu dàng nhưng không né tránh sự thật. Khi viết về những biến động của xã hội hay những cuộc đời lưu lạc, dường như dòng nước của Truyện Kiều vẫn còn ngân vang đâu đó.

Có lúc, những bài báo hay khảo luận của tôi lại mượn thêm giọng lưỡi sắc bén của Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, với thói quen nhìn sự việc từ nhiều góc độ, khảo sát động cơ, nhân duyên và bối cảnh đằng sau các sự kiện. Không phải để bày trò mưu lược, mà để thấy như kiểu các thầy bàn nhìn thấy từ vô số điều kiện chằng chịt. Từ Tây Du Ký, có lẽ tôi học được tinh thần lên đường. Bên dưới nhiều bài viết Phật giáo vẫn thấp thoáng hình ảnh người lữ hành không ngừng vượt núi băng sông để tìm chân lý. Hành trình đến Tây Trúc của Đường Tăng và hành trình đi tìm tự tâm của người học Phật, xét cho cùng, đều là những cuộc viễn du. Thế rồi, chữ “vô tự” (không một chữ nào hiện ra trong tâm) thường trực ở với tôi (cũng có thể, vì tôi thường ngồi uống trà với Thầy Thường Chiếu ở Đồng Ông Cộ và nhiễm thói quen lặng lẽ của Thầy). Trong khi đó, từ Kim Dung, tôi nhận được tình yêu đối với con người. Trong thế giới võ hiệp, thiện và ác rất hiếm khi hoàn toàn tách biệt; con người luôn phức tạp, vừa đáng trách vừa đáng thương.
 

Còn từ kinh Phật, đặc biệt là các bản kinh Nikāya, tôi học được sự giản dị của ngôn ngữ. Sau tất cả những vẻ đẹp của văn chương, điều còn lại là nói cho rõ sự thật, nói bằng tâm từ bi, và viết để giúp người đọc bớt khổ đau hơn một chút.

Nhìn lại cả hành trình, tôi thấy mình như một người đã đi qua nhiều dòng sông. Có dòng sông Việt Nam, có dòng sông Trung Hoa, có dòng sông tư tưởng Đông phương và Tây phương, có dòng sông kinh điển Phật giáo. Tất cả đã gặp nhau trong đời sống chữ nghĩa của tôi. Không một nguồn nước nào là vô ích. Mỗi ngụm nước đã nuôi lớn một phần tâm hồn, mỗi dòng sông đã để lại một chút phù sa trong văn phong và suy nghĩ của tôi. Vì thế, khi cầm bút hôm nay, tôi chỉ còn một cảm xúc đơn giản: lòng biết ơn. Biết ơn những tác giả đã viết, những dịch giả đã chuyển ngữ, những bậc thầy đã khai mở con đường, và biết ơn tất cả những nguồn nước văn học, tư tưởng và tâm linh mà tôi đã có duyên được uống trong suốt cuộc đời mình.

Thói quen mê đọc của tôi hạnh phúc nhất là từ khi có điện thoại di động. Tôi ngả lưng xuống giường, chuẩn bị ngủ là mở điện thoại ra đọc Kinh Phật qua các trang Accesstoinsight, SuttaCentral...  Kinh Phật cũng có nhiều văn phong khác nhau. Đức Phật thuyết pháp cho nhiều hạng người nghe khác nhau, do vậy văn phong chuyển biến khác nhau.
 

Vào thời Đức Phật, Ấn Độ chưa có kỹ thuật in ấn. Kinh điển được truyền miệng từ thầy sang trò. Phần đông dân chúng, đặc biệt là phụ nữ, nông dân và thợ rừng, không biết đọc biết viết. Vì vậy, khi giảng dạy cho những người nghe này, Đức Phật nói bằng lời đơn giản, dễ nhớ và dễ thuộc lòng. Văn phong dễ hiểu này nổi bật là Kinh Pháp Cú (Dhammapada). Mỗi bài kệ chỉ gồm vài câu ngắn, dùng hình ảnh quen thuộc như hoa, nước, ngựa, người chăn bò hoặc bóng theo hình. Các bài kệ thường đi sau một sự tích, trình bày một ý đạo đức rõ ràng: tránh điều ác, làm việc lành, giữ tâm trong sạch. Người nghe chỉ cần nghe vài lần là có thể ghi nhớ.

Tương tự, văn phong dễ hiểu cũng là nhóm 112 kinh trong nhóm Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Đây là những lời dạy được nữ cư sĩ Khujjuttarā ghi nhớ rồi đọc lại cho năm trăm cung nữ của hoàng hậu Sāmāvatī. Nghe kinh không phải là các học giả Bà La Môn mà là những phụ nữ (có lẽ ít học) trong cung đình mong muốn tu tập. Vì vậy, các bài kinh thường ngắn gọn, mở đầu bằng câu “Đức Thế Tôn đã nói như vậy”, sau đó trình bày một giáo lý đơn giản rồi kết bằng một bài kệ tóm tắt. Văn phong rất ít lý luận.

Trong khi đó, nhóm Kinh Nhật Tụng thời Đức Phật sinh tiền lại có văn phong rất khó; đó là hai phẩm cuối của Kinh Tập trong Tiểu Bộ. Hai phẩm cuối của Kinh Tập (Sutta Nipāta) là Phẩm Tám (Aṭṭhakavagga) và Phẩm Con Đường Đến Bờ Kia (Pārāyanavagga) có văn phong rất cô đọng và khó hiểu. Nhiều học giả xem đây là nhóm văn học cổ nhất của Phật giáo. Những người nghe pháp trong hai phẩm này là các đạo sĩ và Bà La Môn trí thức. Họ đã được đào tạo nhiều năm về triết học, nghi lễ tế tự và biện luận. Vì vậy, Đức Phật không chỉ dạy những nguyên tắc đạo đức căn bản mà còn bàn đến những vấn đề rất sâu sắc như chấp thủ, tà kiến, bản ngã và sự giải thoát tối hậu. Và trong văn phong đó là những dòng thơ có cú pháp rất khó, ít dùng. Nhóm 36 vị Bà La Môn sau khi đối thoại ở hai phẩm này đều chứng quả A La Hán ngay khi kinh thuyết xong.
 

Trong nhóm Kinh Tập đó, một trong những kinh làm tôi kinh ngạc sâu xa là Kinh Snp 4.9, Kinh Māgandiya Sutta. Khi đọc lời Đức Phật dạy về đừng nắm giữ kiến chấp, đừng bám víu vào cái được thấy, được nghe, được nghĩ tưởng, tôi luôn luôn nhớ tới thời mới học Phật ở Việt Nam khi nghiền ngẫm Bát Nhã Tâm Kinh. Dù văn phong khác nhau, Snp 4.9 là ngôn ngữ cổ xưa, văn phong của cú pháp rất mực phức tạp từ Pali, một bên là lời rất mực cô đọng, âm vang đọc theo âm Hán-Việt khẳng định như sấm sét, nhưng cả hai đều dường như chỉ về cùng một hướng: buông bỏ sự nắm bắt đối với mọi khái niệm và mọi hình bóng của tâm.

Lúc ấy, tôi chợt nhìn lại cuộc đời đọc sách của mình. Từ Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên, đến Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, Tây Du Ký, truyện võ hiệp của Kim Dung, Tiểu Chỉ Quán của nhà Thiền, rồi những trước tác triết học Đông Tây và kinh điển Phật giáo, tất cả dường như là những dòng sông khác nhau. Mỗi dòng sông là một thế giới văn học riêng.
 

Nhưng càng đi xa, tôi càng thấy các dòng sông ấy đều xuôi về một biển lớn. Dòng chảy siết là vô thường để rồi sẽ hòa vào nhau là một tánh nước, đó là vô ngã, nơi không có gì gọi là tôi hay của tôi, nơi không dòng sông nào tách biệt nữa. Tất cả đều cùng một tánh nước. Khi các dòng sông hòa vào biển lớn, nơi đó, nước chính là Tánh Không, vì không dòng sông nào tách riêng nữa. Khi chữ đã vào biển lớn, chữ sẽ không còn nữa, đó là trang sách của Vô Tự Chân Kinh, khi không còn chữ nào bám vào tâm nữa. Và thực sự, rất nhiều ngày tôi cũng tự thấy không có một tâm nào hiện ra để cho chữ bám vào. Phải chăng, đó là cốt tủy của Tâm Kinh. Xin nói rằng, tôi không biết. Nhưng chuyện này sẽ nói sau. Nghĩa là, xin chờ hồi sau sẽ rõ.
 

THAM KHẢO:

Kinh Snp 4.9: https://suttacentral.net/snp4.9/en/mills    

 



Pechanga Resort Casino hân hạnh giới thiệu Đêm Nhạc "Best Wishes 2026" vào thứ Bảy, ngày 28 tháng 02 năm 2026, tại Trung Tâm Sự Kiện Pechanga Summit. Siêu sao nhạc pop tiếng Quảng Đông của Hồng Kông Lý Khắc Cần cùng Hồng Trác Lập và Thẩm Chấn Hiên sẽ chào đón Tết Nguyên Đán với những ca khúc kinh điển bất hủ.
Kỳ nghỉ lễ có thể là thời gian vui vẻ nhất trong năm, nhưng cũng tiềm ẩn những rủi ro nghiêm trọng về an toàn. Mỗi năm, có hơn 1,100 vụ cháy nhà bắt nguồn từ đồ trang trí ngày lễ. Và không chỉ dừng lại ở đó — khoảng 4,000 vụ tai nạn có liên quan đến dây nối dài, từ nguy cơ vấp ngã đến bỏng vì điện và giật điện. Kỳ nghỉ lễ là thời gian đặc biệt để tận hưởng khoảng thời gian bên cạnh người thân, chứ không phải để nằm viện vì bị thương. Hãy giúp gia đình quý vị tận hưởng mùa lễ trọn vẹn hơn bằng cách làm theo các lời khuyên an toàn dưới đây.
Năm 2026 hứa hẹn sẽ là một năm đáng nhớ cho những ai yêu thích bầu trời đêm, với hàng loạt sự kiện thiên văn ngoạn mục từ nhật thực toàn phần đến các trận mưa sao băng và sự xuất hiện rực rỡ của các hành tinh. Dưới đây là những sự kiện đáng chú ý nhất mà người yêu thiên văn không nên bỏ lỡ.
Ở Hoa Kỳ, ngay cả khi đã có bảo hiểm, không ít người bệnh vẫn không kham nổi tiền thuốc trong toa bác sĩ. Khoảng một phần năm người trưởng thành mỗi năm ít nhất một lần phải bỏ toa vì quá tốn kém, và cứ ba người thì có một người tìm cách “tiết giảm” như bẻ đôi thuốc uống dần hoặc tự ý đổi sang thuốc không cần toa – những cách làm có khi lại phương hại sức khỏe. Hai giáo sư dược học Sujith Ramachandran và Adam Pate, Đại học Mississippi, chuyên nghiên cứu về khả năng tiếp cận thuốc men tại Hoa Kỳ, cho rằng nếu nắm rõ luật lệ bảo hiểm và biết hỏi đúng chỗ ở nhà thuốc, người bệnh có thể giảm được khá nhiều phần phải móc túi.
Hoa Thịnh Đốn – Mùa cảm cúm tại Hoa Kỳ đang vào giai đoạn gay gắt. Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) cho biết trong vài tuần gần đây, các ca nhiễm tăng nhanh ở nhiều tiểu bang, đặc biệt nơi có khí hậu lạnh. Bà Alicia Budd, trưởng toán giám sát cảm cúm của CDC, cho hay dịch bệnh năm nay khởi phát sớm và lan rộng bất thường. Từ đầu mùa tới nay, nước Mỹ đã ghi nhận trên bốn triệu người mắc, gần năm chục ngàn trường hợp nhập viện và gần hai ngàn tử vong. Trẻ em từ sơ sinh đến bốn tuổi là nhóm bị ảnh hưởng nặng nhất.
Trong rừng rậm Belize, các nhà khảo cổ phát hiện một mộ hoàng gia Maya khoảng 1.700 năm tuổi tại khu phức hợp Caana, trung tâm của thành phố cổ Caracol. Bên trong mộ có mặt nạ khảm ngọc và vỏ sò, đồ tùy táng bằng ngọc bích, cùng bộ xương của một người đàn ông lớn tuổi. Nếu đúng là mộ của vua Te K’ab Chaak – người sáng lập triều đại Maya tại Caracol – đây sẽ là phát hiện quan trọng giúp hiểu rõ hơn về lịch sử và tổ chức xã hội của người Maya thời kỳ cổ đại. Phát hiện này cũng cho thấy mối liên hệ giữa Maya và thành phố Teotihuacan ở Mexico thông qua các hiện vật như dao obsidian xanh.
--- Bethlehem rộn ràng Giáng Sinh sau hai năm im lặng vì chiến tranh Gaza. -- Đức Giáo hoàng Leo XIV: đối thoại thay vì chiến tranh trong thông điệp Giáng Sinh đầu tiên. -- Trump mở đầu Giáng Sinh bằng loạt bài tấn công người Somali, ca ngợi kinh tế và tố gian lận bầu cử. -- Hồ sơ Epstein phanh phui nghi vấn Trump liên quan vụ sát hại trẻ sơ sinh tại Lake Michigan. -- Dân biểu Cộng hòa: Hồ sơ Epstein mới chứng minh Trump và nội các nói dối. -- CBS: Lễ Vinh Danh Kennedy Center sụt khán giả kỷ lục sau khi Trump tuyên bố chủ trì. -- Trump đe dọa rút giấy phép phát sóng nếu đài truyền hình chỉ trích ông. -- Hội Nhi khoa Mỹ kiện Bộ Y tế vì cắt ngân sách chương trình trẻ em. -- Giáo hoàng Mỹ lên tiếng phản đối luật trợ tử tại quê nhà.. -- Vợ bị trục xuất trước khi kịp nhìn mặt chồng sắp chết trong trại giam ICE. -- Gia đình Virginia kiện Delta và KLM vì bị rệp cắn trên chuyến bay. -- Bắc Hàn phô trương tiến độ tàu ngầm nguyên tử, cảnh báo Nam Hàn và Mỹ...
LOS ANGELES (VB) -- Hai vợ chồng -- Alex Nguyen, 50 tuổi, và Sam Nguyen, 52 tuổi, cư trú ở Irvine (Quận Cam) đã nhận tội che giấu Sở Thuế IRS, không khai ít nhất 127 triệu đôla giao dịch tiền mặt. Báo National Jeweler hôm 24/12/2025 loan tin rằng một cặp vợ chồng kinh doanh vàng bạc đá quý ở khu phố trang sức Los Angeles đã nhận tội che giấu hàng trăm triệu đôla tránh khai ở các hồ sơ cho Sở Thuế vụ Mỹ.
Không rút tỉa được kinh nghiệm trong nhiệp kỳ I, Tổng Thống lại cho áp dụng chính sách thuế quan trong nhiệm kỳ II. Thuế quan một lần nữa lài gây thiệt hại đáng kể đến nông nghiệp Hoa Kỳ bằng cách gây ra các biện pháp trả đũa thuế quan, khiến hàng hóa Mỹ kém cạnh tranh hơn ở nước ngoài, thu hẹp thị trường xuất khẩu (như đậu nành sang Trung Quốc), tăng chi phí vật liệu và máy móc (phân bón, phụ tùng máy móc), xáo trôn thị trường và giảm lợi nhuận của nông dân, dẫn đến khó khăn tài chính nghiêm trọng. Chỉ có một số nhà sản xuất trong nước (như người nuôi tôm) được bảo vệ ngắn hạn khỏi hàng nhập khẩu.
Cựu Công tố đặc biệt Jack Smith nên bị điều tra vì năng lực yếu kém, chứ không phải vì ông đã “vũ khí hóa” hệ thống tư pháp. Đó là nhận xét của James D. Zirin, cựu Công tố khu vực Nam New York và hiện là tác giả các ấn phẩm pháp lý, viết trên báo The Hill hôm Thứ Ba, ngày 23 tháng 12/2025. Nội dung cho biết lẽ ra Bộ trưởng Tư Pháp Merrick Garland (thờ Biden) và cựu Công tố đặc biệt Jack Smith đã phải truy tố và đẩy Trump vào tù từ vài năm trước.
Theo báo The Nation Thailand từ Thái Lan. Trump đánh thuế quan bầm dập: Ngành sản xuất giày dép Việt Nam và Indonesia thê thảm. Thuế quan của Mỹ dưới thời Trump đang buộc các nhà sản xuất giày dép ASEAN phải xem xét lại đầu tư, với các dự án bị hủy bỏ ở Indonesia và các nhà máy ở Việt Nam đẩy nhanh quá trình tự động hóa. Trong khi đó, báo The Investor cho biết Panko Vina, một công ty Nam Hàn, chuyên về sản xuất may dệt tại Việt Nam tuyên bố đóng cửa, bỏ chạy khỏi Việt Nam sau 23 năm mở xưởng ở đây.
-- Phần Bị Bôi Đen Trong Hồ Sơ Epstein Dễ Dàng Được Khôi Phục. -- Chính Quyền Trump Đổi Chính Sách Bốc Thăm Thị Thực H-1B. -- Chánh Án Ủng Hộ Trump Về Mức Phí $100.000 Cho Thị Thực H-1B. -- Trump Gọi New York Times Là ‘Mối Nguy Hiểm Quốc Gia’. -- Tòa Buộc Trump Phải Khôi Phục Tiền Cứu Trợ Thiên Tai Cho Các Bang Dân Chủ. -- Châu Âu Phản Đối Các Biện Pháp Trừng Phạt Của Trump Đối Với Người Chống Thông Tin Sai Lệch. -- AFP: Tô Lâm Sẽ ‘Một Đít Hai Ghế’, Vô Tiền Khoáng Hậu?
Bộ Tư Pháp (DOJ) hôm Thứ Ba công bố đợt tài liệu thứ ba về vụ Jeffrey Epstein, bao gồm nhiều tài liệu có liên quan đến Donald Trump, tổng thống đương nhiệm của Mỹ. Đó là email từ một công tố viên, chứng minh rằng Trump đã đi trên phi cơ riêng của Epstein "nhiều lần hơn so với những gì đã công bố trước đây.”
J471. Mendaka Jātaka -- Chuyện một con chó và một con dê dựa vào nhau để sống. Tóm tắt: Đức Phật kể một câu chuyện về một con chó bị bắt quả tang ăn trộm thịt và một con dê bị bắt quả tang ăn trộm cỏ. Hai con vật đã lập một thỏa thuận hợp tác với nhau, vì biết rằng sẽ không ai nghi ngờ một con dê ăn trộm thịt hay một con chó ăn trộm cỏ. Chỉ có vị hiền nhân Mahosadha mới có thể làm sáng tỏ bí ẩn về việc chúng đã trở thành bạn bè như thế nào.
Tối Cao Pháp Viện (TCPV) hôm Thứ Ba 23 Tháng Mười Hai đã ngăn chặn, không cho Tổng thống Trump điều động hàng trăm binh sĩ Vệ binh Quốc gia đến Chicago. Trong một phán quyết không có chữ ký, TCPV đã bác bỏ yêu cầu khẩn cấp của chính quyền Trump, vốn cho rằng cần phải điều động quân đội để bảo vệ các đặc vụ liên bang tham gia thực thi luật nhập cư ở khu vực Chicago. Ba chánh án bảo thủ - Clarence Thomas, Samuel A. Alito Jr. và Neil M. Gorsuch - đã bày tỏ sự phản đối của họ, theo NYTimes.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.