Hôm nay,  

Văn Phong và Kinh Phật

08/10/202605:27:00(Xem: 328)
blank

Văn Phong và Kinh Phật
 

Nguyên Giác

Nói về chữ "văn phong" hẳn là có những định nghĩa rất mực uyên bác trong sách vở. Một thời tôi đã từng học những thứ rất phức tạp trong các chứng chỉ Triết học, và bây giờ tôi đã quên sạch. Trong đầu tôi không còn chữ nào (không phải là vô niệm, như kiểu các Thiền sư nói; mà thực tế là vô tự, tức là không có chữ nào hiện lên trong tâm, và tôi không nhớ tôi đã tu tập kiểu nào mà lại ra như thế). Tôi cũng không phải chuyên gia về ngữ học. Nơi đây tôi chỉ muốn nói theo kiểu rất mực học trò thời mới lớn (may ra còn vài chữ), rằng văn phong là cái giọng mình nhận ra sau một cuộc nói chuyện với một ai đó. Thí dụ, bạn nhớ rằng hồi sáng, bạn nói chuyện gì đó với một thiếu nữ trên chuyến xe buýt, rồi bạn nhớ tới giọng Huế của cô này, tiếng cô cười dòn tan và dịu dàng khi từ biệt xuống trạm. Đọc một cuốn sách cũng thế, khi bạn gấp sách lại, bạn sẽ nhớ tới giọng riêng của từng tác giả và không khí truyện. Thí dụ, văn phong trong truyện Bố Già hiển nhiên là khác với trong Hoàng Tử Bé.
 

Tôi lớn lên ở Sài Gòn của nhiều thập niên trước, trong một thời mà sách là cánh cửa mở ra những chân trời rộng lớn nhất. Hiển nhiên là cánh cửa duy nhất, vì đó là thời chưa có TV và Internet. Những năm trung học của tôi gắn liền với niềm vui đọc sách và một thú vui đặc biệt: đọc sách là lắng nghe, và nhận ra giọng điệu riêng của từng nhà văn, từng tác phẩm. Mỗi cuốn sách là một dòng sông văn học khác nhau để tôi ngụp lặn và tắm gội. Hôm nay tôi đắm mình trong sương khói thiên cổ kỳ bút rất Việt Nam trong Truyền Kỳ Mạn Lục của cụ đồ Nguyễn Dữ thời thế kỷ 16. Ngày mai tôi lại theo chân những mưu lược biến ảo của danh tác Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, ngạc nhiên trước truyện kể tài thao lược của các bậc anh hùng và quân sư Trung Hoa. Rồi một ngày khác, các trang giấy đưa tôi bay theo những chuyến phiêu lưu thần kỳ trong Tây Du Ký của tác giả Ngô Thừa Ân, say mê trước trí thông minh, sự nghịch ngợm và năng lực biến hóa vô tận của Tôn Ngộ Không, một kiểu Phật tử rất là ngang bướng (À ha, tôi nhớ rồi, nhớ rằng chữ “vô tự” nằm trong phần cuối truyện này; hóa ra mình vô tình chôm chữ này của người xưa). Và không thể thiếu những đêm dài cùng các trang truyện võ hiệp của  Kim Dung, nơi giang hồ, nghĩa khí, tình yêu và lý tưởng bụi đời hòa quyện thành một thế giới vừa thực vừa mộng. Từ rất sớm, tôi đã học được rằng văn chương không chỉ kể chuyện mà còn có một âm vang riêng của một thế giới của chữ; và niềm vui của tôi trong khi đọc là lắng nghe.
 

Vậy đó, tôi lớn lên theo các trang sách thời đi học, nơi mỗi tác phẩm là một dòng sông có tiếng nói riêng, mang một màu nước trong trẻo riêng và có những nhịp chảy khác biệt. Tói đã lắng nghe tiếng thì thầm riêng của mỗi dòng sông. Truyện Kiều của Nguyễn Du là dòng sông lấp lánh ánh trăng, vừa đẹp đẽ vừa man mác buồn. Câu thơ uyển chuyển, tinh tế, thấm đẫm nỗi đau nhân thế khiến người đọc như nghe tiếng lòng của những kiếp người trôi nổi. Về sau, tôi ngờ vực cụ Nguyễn Du muốn viết văn phản chiến vì gia đình họ Nguyễn và gia đình bên vợ đều tòng quân theo hai chiến tuyến kình nhau của phò và chống Tây Sơn, nhưng cụ Nguyễn cứ phải làm thơ lục bát loanh quanh về cô Kiều vì sơ suất là sẽ bị chém đầu ba họ. Rồi văn phong ngậm ngùi trong Chinh Phụ Ngâm qua tài dịch của Đoàn Thị Điểm lại là dòng sông của nhớ thương và cô quạnh, với những làn sóng cảm xúc dạt dào, nơi tiếng lòng của người chinh phụ ngân lên như khúc nhạc buồn không dứt. Trong khi đó, truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu mang vẻ mộc mạc và khỏe khoắn như một con sông phương Nam. Văn phong giản dị, chân thành, đề cao nghĩa khí và đạo làm người, làm lòng người trẻ thêm tin yêu những điều ngay thẳng.

Đối với một cậu học trò mê đọc sách, được đi từ dòng sông tài hoa của Nguyễn Du sang dòng sông bi cảm của Đoàn Thị Điểm, rồi đến dòng sông nghĩa hiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một niềm vui lớn. Chính từ những chuyến du hành ấy, tôi bắt đầu nhận ra rằng văn chương không chỉ kể những câu chuyện khác nhau, mà còn cất lên những giọng nói khác nhau của tâm hồn dân tộc.
 

Thế rồi, trong làn sóng học Phật các năm cuối thập niên 1960s, cậu học trò tình cờ nhặt được bản dịch tiếng Việt mỏng manh của cuốn Tiểu Chỉ Quán. Tôi đã tự ngồi thiền trên căn gác gỗ tối lờ mờ, trong những lúc thư thả giữa các giờ học thi Tú Tài, ngỡ ngàng bước vào một thế giới hoàn toàn mới --- nơi của tịch lặng, êm đềm, tách biệt khỏi những ồn ào phố thị bên ngoài. Không còn là việc đọc những dòng chữ trên giấy, từng hơi thở ra vào tựa như từng trang sách ngát hương lặng lẽ của tâm mình. Đó là hạnh phúc thuần khiết, sâu thẳm mà tôi chỉ tới bên hàng hiên (hiển nhiên, chưa gọi là vào nhà, nói theo kiểu sách Thiền, may ra chỉ mới nhìn thấy vết chân trâu).

Khi bước chân vào đại học, thế giới đọc của tôi lại mở rộng thêm. Tôi đặc biệt yêu thích những tác phẩm dịch của Bùi Giáng. Trong các bản dịch của nhà thơ họ Bùi, ngôn ngữ Việt Nam bỗng trở nên phóng khoáng, tài hoa và đầy nhạc tính. Cùng lúc đó, tôi tìm thấy nơi các bản dịch của Ni sư Trí Hải một giọng văn sáng sủa, chuẩn xác và thấm đẫm tinh thần Phật học, giúp những tư tưởng sâu xa trở nên gần gũi và dễ tiếp cận.

Đó cũng là thời gian tôi khám phá những văn phong học thuật rất khác nhau. Nơi Giáo sư Nguyễn Văn Trung hay Lê Tôn Nghiêm, tôi gặp một lối lý luận mang đậm ảnh hưởng phương Tây: chặt chẽ, biện chứng, phân tích từng khái niệm đến tận nền tảng của nó. Đọc các tác giả ấy giống như bước vào một cuộc đối thoại triết học với những câu hỏi không ngừng được đặt ra và khảo sát.
 

Trong khi đó, nơi Linh mục Kim Định và Nguyễn Văn Thọ, tôi lại bắt gặp một thế giới tư tưởng đậm chất Đông phương. Các tác phẩm của họ không chỉ lập luận mà còn gợi mở, không chỉ phân tích mà còn dẫn người đọc trở về với những tầng sâu của văn hóa và trực giác. Tư tưởng hiện ra như một dòng chảy liên tục giữa triết học, lịch sử và tâm linh. Dù vậy, tôi ngờ vực về sự chính xác của lý luận Việt Nho và Triết Lý An Vi của LM Kim Định, có thể Thầy đã bác bỏ Hán Nho theo một kiểu quá nhiều suy đoán vì tự hào dân tộc Việt (?). Dĩ nhiên, hạnh phúc là tôi được học, được đọc quá nhiều, sau này tôi nghĩ tới hình ảnh cậu Thiện Tài Đồng Tử trong Nhập Pháp Giới của Kinh Hoa Nghiêm, phải đi học khắp giang hồ với 53 lần tham vấn. Dĩ nhiên, tôi không giỏi như thế, và cũng không có hạnh nguyện lớn như các vị trong Kinh.

Và rồi có những tác giả mang một giọng văn rất Việt Nam. Thầy Nhất Hạnh viết với sự trong sáng, bình dị nhưng thấm sâu vào lòng người như lời tâm tình bên tách trà; trong đó, Bông Hồng Cài Áo của Thầy là một đoản văn bất tử, dẫn tới ca khúc bất tử do Phạm Thế Mỹ phổ nhạc. Trong khi đó, nhà văn Hồ Hữu Tường lại đưa tôi đến những suy tư vừa dân tộc vừa nhân loại, vừa thực tế vừa lý tưởng; bất kỳ ai cũng phải suy nghĩ khi đọc Phi Lạc Sang Tàu của nhà văn học Hồ. Đọc các tác giả này, tôi nhận ra rằng tư tưởng không nhất thiết phải khoác chiếc áo hàn lâm; nó có thể cất tiếng bằng ngôn ngữ của làng xã, của lũy tre, của đời sống và của kinh nghiệm Việt Nam.
 

Nhìn lại, tôi thấy mình đã trưởng thành nhờ được tắm trong nhiều dòng sông văn học khác nhau. Mỗi tác giả, mỗi văn phong, mỗi truyền thống tư tưởng đã để lại một dấu ấn riêng. Và có lẽ món quà quý giá nhất mà việc đọc mang lại là khả năng nhận ra vẻ đẹp của sự đa dạng, đồng thời nuôi dưỡng lòng biết ơn đối với tất cả những người đã làm giàu cho đời sống tinh thần của mình qua từng trang sách.

Khi rời Việt Nam để sống nơi hải ngoại, tôi lại bước vào một dòng sông khác của đời mình: dòng sông kinh điển Phật giáo. Những năm tháng miệt mài đọc kinh trên SuttaCentral đã mở ra trước mắt tôi một thế giới vừa cổ kính vừa tươi mới. Các bản kinh Nikāya hiện lên với giọng văn giản dị, trực chỉ, sáng trong như nước nguồn. Ở đó không có những lớp trang sức của văn chương, nhưng từng câu, từng đoạn đều mang một sức mạnh đặc biệt, đưa người đọc trở về với sự tỉnh thức của hiện tại.
 

Trong khi làm báo, viết truyện ngắn (dĩ nhiên, mỗi năm phải viết một truyện tình rất mực lâm ly bi đát cho báo Xuân), làm thơ, và viết về Phật giáo nhiều thập niên qua, tôi nhận ra rằng không có dòng sông văn học nào thực sự rời khỏi mình. Các dòng sông vẫn lặng lẽ chảy trong từng trang viết. Có lúc, trong những đoạn văn đầy cảm thức về thân phận con người, tôi bắt gặp thấp thoáng dư âm của Nguyễn Du. Đó là sự cảm thông đối với những nỗi khổ niềm đau của kiếp người, là cái nhìn dịu dàng nhưng không né tránh sự thật. Khi viết về những biến động của xã hội hay những cuộc đời lưu lạc, dường như dòng nước của Truyện Kiều vẫn còn ngân vang đâu đó.

Có lúc, những bài báo hay khảo luận của tôi lại mượn thêm giọng lưỡi sắc bén của Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, với thói quen nhìn sự việc từ nhiều góc độ, khảo sát động cơ, nhân duyên và bối cảnh đằng sau các sự kiện. Không phải để bày trò mưu lược, mà để thấy như kiểu các thầy bàn nhìn thấy từ vô số điều kiện chằng chịt. Từ Tây Du Ký, có lẽ tôi học được tinh thần lên đường. Bên dưới nhiều bài viết Phật giáo vẫn thấp thoáng hình ảnh người lữ hành không ngừng vượt núi băng sông để tìm chân lý. Hành trình đến Tây Trúc của Đường Tăng và hành trình đi tìm tự tâm của người học Phật, xét cho cùng, đều là những cuộc viễn du. Thế rồi, chữ “vô tự” (không một chữ nào hiện ra trong tâm) thường trực ở với tôi (cũng có thể, vì tôi thường ngồi uống trà với Thầy Thường Chiếu ở Đồng Ông Cộ và nhiễm thói quen lặng lẽ của Thầy). Trong khi đó, từ Kim Dung, tôi nhận được tình yêu đối với con người. Trong thế giới võ hiệp, thiện và ác rất hiếm khi hoàn toàn tách biệt; con người luôn phức tạp, vừa đáng trách vừa đáng thương.
 

Còn từ kinh Phật, đặc biệt là các bản kinh Nikāya, tôi học được sự giản dị của ngôn ngữ. Sau tất cả những vẻ đẹp của văn chương, điều còn lại là nói cho rõ sự thật, nói bằng tâm từ bi, và viết để giúp người đọc bớt khổ đau hơn một chút.

Nhìn lại cả hành trình, tôi thấy mình như một người đã đi qua nhiều dòng sông. Có dòng sông Việt Nam, có dòng sông Trung Hoa, có dòng sông tư tưởng Đông phương và Tây phương, có dòng sông kinh điển Phật giáo. Tất cả đã gặp nhau trong đời sống chữ nghĩa của tôi. Không một nguồn nước nào là vô ích. Mỗi ngụm nước đã nuôi lớn một phần tâm hồn, mỗi dòng sông đã để lại một chút phù sa trong văn phong và suy nghĩ của tôi. Vì thế, khi cầm bút hôm nay, tôi chỉ còn một cảm xúc đơn giản: lòng biết ơn. Biết ơn những tác giả đã viết, những dịch giả đã chuyển ngữ, những bậc thầy đã khai mở con đường, và biết ơn tất cả những nguồn nước văn học, tư tưởng và tâm linh mà tôi đã có duyên được uống trong suốt cuộc đời mình.

Thói quen mê đọc của tôi hạnh phúc nhất là từ khi có điện thoại di động. Tôi ngả lưng xuống giường, chuẩn bị ngủ là mở điện thoại ra đọc Kinh Phật qua các trang Accesstoinsight, SuttaCentral...  Kinh Phật cũng có nhiều văn phong khác nhau. Đức Phật thuyết pháp cho nhiều hạng người nghe khác nhau, do vậy văn phong chuyển biến khác nhau.
 

Vào thời Đức Phật, Ấn Độ chưa có kỹ thuật in ấn. Kinh điển được truyền miệng từ thầy sang trò. Phần đông dân chúng, đặc biệt là phụ nữ, nông dân và thợ rừng, không biết đọc biết viết. Vì vậy, khi giảng dạy cho những người nghe này, Đức Phật nói bằng lời đơn giản, dễ nhớ và dễ thuộc lòng. Văn phong dễ hiểu này nổi bật là Kinh Pháp Cú (Dhammapada). Mỗi bài kệ chỉ gồm vài câu ngắn, dùng hình ảnh quen thuộc như hoa, nước, ngựa, người chăn bò hoặc bóng theo hình. Các bài kệ thường đi sau một sự tích, trình bày một ý đạo đức rõ ràng: tránh điều ác, làm việc lành, giữ tâm trong sạch. Người nghe chỉ cần nghe vài lần là có thể ghi nhớ.

Tương tự, văn phong dễ hiểu cũng là nhóm 112 kinh trong nhóm Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Đây là những lời dạy được nữ cư sĩ Khujjuttarā ghi nhớ rồi đọc lại cho năm trăm cung nữ của hoàng hậu Sāmāvatī. Nghe kinh không phải là các học giả Bà La Môn mà là những phụ nữ (có lẽ ít học) trong cung đình mong muốn tu tập. Vì vậy, các bài kinh thường ngắn gọn, mở đầu bằng câu “Đức Thế Tôn đã nói như vậy”, sau đó trình bày một giáo lý đơn giản rồi kết bằng một bài kệ tóm tắt. Văn phong rất ít lý luận.

Trong khi đó, nhóm Kinh Nhật Tụng thời Đức Phật sinh tiền lại có văn phong rất khó; đó là hai phẩm cuối của Kinh Tập trong Tiểu Bộ. Hai phẩm cuối của Kinh Tập (Sutta Nipāta) là Phẩm Tám (Aṭṭhakavagga) và Phẩm Con Đường Đến Bờ Kia (Pārāyanavagga) có văn phong rất cô đọng và khó hiểu. Nhiều học giả xem đây là nhóm văn học cổ nhất của Phật giáo. Những người nghe pháp trong hai phẩm này là các đạo sĩ và Bà La Môn trí thức. Họ đã được đào tạo nhiều năm về triết học, nghi lễ tế tự và biện luận. Vì vậy, Đức Phật không chỉ dạy những nguyên tắc đạo đức căn bản mà còn bàn đến những vấn đề rất sâu sắc như chấp thủ, tà kiến, bản ngã và sự giải thoát tối hậu. Và trong văn phong đó là những dòng thơ có cú pháp rất khó, ít dùng. Nhóm 36 vị Bà La Môn sau khi đối thoại ở hai phẩm này đều chứng quả A La Hán ngay khi kinh thuyết xong.
 

Trong nhóm Kinh Tập đó, một trong những kinh làm tôi kinh ngạc sâu xa là Kinh Snp 4.9, Kinh Māgandiya Sutta. Khi đọc lời Đức Phật dạy về đừng nắm giữ kiến chấp, đừng bám víu vào cái được thấy, được nghe, được nghĩ tưởng, tôi luôn luôn nhớ tới thời mới học Phật ở Việt Nam khi nghiền ngẫm Bát Nhã Tâm Kinh. Dù văn phong khác nhau, Snp 4.9 là ngôn ngữ cổ xưa, văn phong của cú pháp rất mực phức tạp từ Pali, một bên là lời rất mực cô đọng, âm vang đọc theo âm Hán-Việt khẳng định như sấm sét, nhưng cả hai đều dường như chỉ về cùng một hướng: buông bỏ sự nắm bắt đối với mọi khái niệm và mọi hình bóng của tâm.

Lúc ấy, tôi chợt nhìn lại cuộc đời đọc sách của mình. Từ Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên, đến Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, Tây Du Ký, truyện võ hiệp của Kim Dung, Tiểu Chỉ Quán của nhà Thiền, rồi những trước tác triết học Đông Tây và kinh điển Phật giáo, tất cả dường như là những dòng sông khác nhau. Mỗi dòng sông là một thế giới văn học riêng.
 

Nhưng càng đi xa, tôi càng thấy các dòng sông ấy đều xuôi về một biển lớn. Dòng chảy siết là vô thường để rồi sẽ hòa vào nhau là một tánh nước, đó là vô ngã, nơi không có gì gọi là tôi hay của tôi, nơi không dòng sông nào tách biệt nữa. Tất cả đều cùng một tánh nước. Khi các dòng sông hòa vào biển lớn, nơi đó, nước chính là Tánh Không, vì không dòng sông nào tách riêng nữa. Khi chữ đã vào biển lớn, chữ sẽ không còn nữa, đó là trang sách của Vô Tự Chân Kinh, khi không còn chữ nào bám vào tâm nữa. Và thực sự, rất nhiều ngày tôi cũng tự thấy không có một tâm nào hiện ra để cho chữ bám vào. Phải chăng, đó là cốt tủy của Tâm Kinh. Xin nói rằng, tôi không biết. Nhưng chuyện này sẽ nói sau. Nghĩa là, xin chờ hồi sau sẽ rõ.
 

THAM KHẢO:

Kinh Snp 4.9: https://suttacentral.net/snp4.9/en/mills    

 



(Sydney – 14 tháng 12, 2025) - Hàng trăm người có mặt tại bãi biển Bondi, Sydney, để dự lễ Hanukkah đã chứng kiến một trong những vụ khủng bố đẫm máu nhất kể từ sau thảm sát Port Arthur năm 1996. Vào lúc 6 giờ 45 chiều Chủ Nhật, hai tay súng mặc đồ đen xuất hiện trên cây cầu bộ hành nối Campbell Parade với Bondi Pavilion, bắt đầu nổ súng xuống đám đông đang dự lễ. Hai kẻ này dùng súng trường, bắn liên tục trong khoảng 10 phút, khiến hàng trăm người hoảng loạn bỏ chạy, nhiều người ngã gục ngay trên bãi cát và công viên ven biển. Ít nhất 12 người thiệt mạng, trong đó có 9 nạn nhân thường dân, 1 cảnh sát và 2 tay súng (một bị bắn chết tại chỗ, một bị bắt nhưng sau đó tử vong do vết thương). Ngoài ra, có ít nhất 38 người bị thương, trong đó có 2 cảnh sát và nhiều nạn nhân ở tình trạng nguy kịch.
Không có cộng đồng di dân da màu nào an toàn trước những chính sách chống di dân cả bất hợp pháp lẫn hợp pháp của chính quyền hiện nay.
J441. Catu-Posathika Jātaka -- Hãy giữ 4 phẩm tính: kiên nhẫn khi bị khiêu khích, tự chủ khi đối mặt với cám dỗ, khả năng từ bỏ thú vui và giải thoát khỏi phiền nhiễu thế gian. Tóm tắt: Các nhà sư đang thảo luận về trí tuệ của Đức Phật. Đức Phật kể một câu chuyện về bốn vị thí chủ, sau khi biết về các cõi trời khác nhau, đã được tái sinh vào những cõi đó. Vào một ngày chay tịnh, tất cả họ tụ tập tại một công viên để trì giới và tìm cách xác định xem ai trong số họ là người có đức hạnh nhất. Câu hỏi này cuối cùng đã được giải đáp bởi bậc hiền triết Vidhura.
- Loạt ảnh mới của tỷ phú Jeffrey Epstein gây chấn động. - Bộ Tư pháp Hoa Kỳ yêu cầu Tòa Phúc thẩm ngăn cản cuộc điều tra “khinh thường tòa án” liên quan vụ trục xuất người Venezuela. - Bộ Tư pháp Mỹ kiện quận Fulton về hồ sơ bầu cử năm 2020. - Hạ viện Cộng hòa công bố gói chăm sóc sức khỏe trước hạn chót trợ cấp Obamacare. - Gần 400 con cò chết vì cúm gia cầm gần Madrid. - Phát hiện bức tường 7.000 năm tuổi dưới đáy biển ngoài khơi Pháp - Người tiền sử đã biết tạo lửa từ 400.000 năm về trước - Tàu Trung Quốc dùng vòi rồng tấn công ngư dân Philippines ở Biển Đông. - Hoa hậu Phần Lan bị tước vương miện sau scandal phân biệt chủng tộc. - Hai ca phong cùi xuất hiện trở lại tại Romania sau 44 năm
Từ tháng 5/2023 đến cuối năm 2025, kênh đào Funan Techo – dự án biểu tượng dân tộc Khmer do hai cha con Hun Sen và Hun Manet quyết liệt thúc đẩy – đã chính thức bước vào giai đoạn thi công thực địa, với sự tái khẳng định tài trợ 1,7 tỷ USD từ Trung Quốc. Dài 180 km, lấy nước trực tiếp từ cả hai phân lưu chính của sông Mekong (đầu nguồn sông Tiền và sông Hậu), con kênh không chỉ khó đạt được mục tiêu rút ngắn lộ trình và giảm chi phí vận tải như Cam Bốt tuyên truyền, mà còn có nguy cơ: (1) làm suy giảm nghiêm trọng lưu lượng nước mùa khô về hạ lưu, (2) chặn đứng phù sa, (3) đẩy nhanh xâm nhập mặn sâu thêm hàng chục kilômét, (4) đe dọa trực tiếp sinh kế của hơn 20 triệu cư dân Đồng bằng sông Cửu Long.Ngô
-- Thượng Viện Indiana Bác Bỏ Bản Đồ Bầu Cử theo Trump. -- Colorado: Trump Ân Xá Cựu Viên Chức Bầu Cử, Châm Ngòi Tranh Cãi. -- Chủ Tịch Hạ Viện Bênh Vực Vụ Không Kích Ghe Nghi Chở Ma Túy, Bác Bỏ Cáo Buộc Tội Ác Chiến Tranh. -- Can Phạm Ám Sát Charlie Kirk Lần Đầu Ra Tòa. -- Trump Ra Sắc Lệnh Ngăn Tiểu Bang Siết Luật Kiểm Soát Trí Tuệ Nhân Tạo (AI). -- Hàng Chục Ngàn Cư Dân Ở Washington Phải Sơ Tản Vì Lụt Nặng, Thống Đốc Cảnh Báo Nguy Hiểm Tính Mạng. -- Nổ Đường Ống Dẫn Khí Đốt Tại Bắc California, Sáu Người Bị Thương, Nhiều Nhà Bốc Cháy. -- Gaza: Người Dân Gồng Mình Chống Chịu Bão Lớn Trong Cảnh Màn Trời Chiếu Đất. -- TNS Warren Muốn Đòi CEO NVIDIA Ra Điều Trần Về Việc Bán Chip Cho TQ. -- Góa Phụ Erika Kirk: ‘Không Thể Đánh Giá Chồng Tôi Chỉ Qua Vài Câu Nói Bị Cắt Xén’. -- Minnesota: Khai Man Trợ Cấp Bữa Ăn Cho Trẻ Em Thời Đại Dịch, Ngân Sách Bị Lấy Đi Tiêu Xài Xa Hoa. -- Luân Đôn Chưa Cho Bắc Kinh Xây “Siêu Đại Sứ Quán” Vì Sợ Thành Trung Tâm Tình Báo...
Một loạt đơn khiếu nại do các tổ chức bảo vệ dân quyền Mỹ đồng ký tên vừa được gửi tới cơ quan Di trú và Hải quan (ICE) cùng Bộ Chỉ huy quân sự Fort Bliss, nêu ra những cáo buộc nghiêm trọng về cảnh đối xử dã man tại trại tạm giam di dân mang tên Camp East Montana đặt trong căn cứ quân sự Fort Bliss, theo tin The Guardian, ngày 9 tháng 12, 2025. Bức thư dài 19 trang khẳng định rằng các nhân viên trại đã vi phạm luật pháp liên bang và hiến pháp khi hành hung, lạm dụng tình dục, và cưỡng ép di dân vượt biên ngược trở lại Mexico trong đêm tối — không qua thủ tục trục xuất hợp pháp.
Có rất nhiều nhầm lẫn về việc người di dân được hưởng những phúc lợi nào. Quy định của liên bang rất chặt chẽ. Hầu hết các phúc lợi liên bang chỉ dành cho một số nhóm người di dân hợp pháp nhất định. Người di dân không có giấy tờ không thể nhận bảo hiểm y tế liên bang, tem phiếu thực phẩm, hoặc phúc lợi An sinh Xã hội.
Hội viên đủ điều kiện có thể lấy hẹn để được chụp nhũ ảnh miễn phí tại Trung Tâm Cộng Đồng Monterey Park vào ngày 16 tháng 12, hoặc Trung Tâm Cộng Đồng Westminster vào ngày 17 tháng 12, bằng cách liên lạc với phòng Dịch Vụ Hội Viên của chúng tôi. Ngoài ra, tầm soát ung thư vú cũng là một trong những dịch vụ đủ điều kiện nhận thưởng trong chương trình Phần Thưởng Khuyến Khích Chăm Sóc Phòng Ngừa của Clever Care. Do đó, hội viên tham gia các sự kiện chụp nhũ ảnh kể trên cũng sẽ được thưởng $25 vào thẻ quyền lợi linh hoạt của họ để sử dụng cho các sản phẩm và dịch vụ sức khỏe. Đến tham gia chụp nhũ ảnh tại các trung tâm cộng đồng này, hội viên cũng có thể hòa mình vào không khí ấm cúng mùa lễ với các hoạt động vui nhộn như làm thủ công, đàn hát, chụp ảnh, và thưởng thức đồ ăn uống nhẹ tại đây.
Viện Bảo Tàng Và Thư Viện Hoa Kỳ (Institute of Museum and Library Services – IMLS) hôm Thứ Tư cho hay mọi ngân khoản liên bang dành cho thư viện và bảo tàng đã được phục hồi. Bản thông báo viết rằng quyết định này thay thế toàn bộ những thư báo chấm dứt tài trợ đã gửi trước đó. Nguồn: James Folta, đăng ngày 5 tháng 12 năm 2025.
Theo thông báo của Ủy Ban Châu Âu, X vi phạm nhiều điều khoản trong Đạo Luật Dịch Vụ Kỹ Thuật Số: thiết kế dấu kiểm xanh gây hiểu lầm, không thực hiện nghĩa vụ minh bạch trong điều hành nội dung, và từ chối cung cấp dữ kiện công khai cho các nhóm nghiên cứu độc lập. DSA cho phép phạt đến 6% doanh thu toàn cầu của một công ty; mức phạt lần này chỉ là một phần của trần phạt ấy.
Dịch vụ Công Viên Quốc Gia vừa điều chỉnh danh sách ngày vào cửa không thu phí, bỏ Martin Luther King Jr. Day và Juneteenth, đồng thời thêm ngày 14 tháng 6 — Flag Day và sinh nhật Tổng thống Donald Trump. Thay đổi diễn ra chỉ vài tuần sau khi chính quyền Trump thông báo tăng phí đối với du khách không phải công dân hay thường trú nhân. Danh sách mới giữ các ngày lễ có tính chất quốc gia như Presidents’ Day (16/2), Memorial Day (25/5), cuối tuần Độc Lập (3–5/7), Constitution Day (17/9) và Veterans Day (11/11). Hai ngày kỷ niệm nội bộ vẫn còn: 110 năm thành lập NPS (25/8) và ngày sinh Theodore Roosevelt (27/10).
Cuối thập niên 1990, cư dân đảo Vancouver bỗng mắc thương tổn phổi kỳ dị: các nốt u phát triển trong phổi, nhiều người chết mà không rõ nguyên nhân. Điều tra di truyền, mẫu đất và hồ sơ hàng hải cho thấy thủ phạm là Cryptococcus gattii, một loại nấm nhiệt đới vốn không thể sống ở phương Bắc. Hành trình của nấm kéo dài cả thế kỷ: xuất hiện tại Brazil hơn 100 năm trước, theo nước dằn tàu đi qua kênh Panama, trôi dạt quanh Vancouver trong nhiều thập niên, rồi bị sóng thần sau trận động đất Alaska 1964 đẩy vào đất liền. Nấm cần khoảng ba mươi năm để thích nghi với môi trường mới và trở nên độc lực.
Hollywood đang bàn tán về Tilly Norwood, một “diễn viên” được tạo hoàn toàn bằng trí tuệ nhân tạo. Nhân vật này do Eline van der Velden phát triển, trải qua khoảng 2.000 lần chỉnh sửa trước khi được “dạy” cách biểu cảm. Van der Velden nói Tilly chỉ thuộc thể loại AI riêng, không nhằm cạnh tranh vai diễn với diễn viên thật — nhưng giới diễn viên vẫn lo ngại,theo CBS News.
Trong lịch sử, các nhà triết học đã sử dụng các ẩn dụ như "nhà kho", "thư viện" hoặc "kho lưu trữ" để mô tả trí nhớ. Thực ra, những khái niệm này là sự gợi ý khi nói về kinh nghiệm, chứ không phải là những tuyên bố được chứng thực về sự tương quan giữa trí nhớ và cấu trúc não bộ. Tuy nhiên, trong thế kỷ qua, khoa học thần kinh, chủ nghĩa duy vật lại xem những khái niệm ẩn dụ này theo nghĩa đen: Trí nhớ được xem là "khuôn mẫu" hoặc "tập hợp các hoạt động thần kinh", và bằng cách nào đó "nằm" bên trong não bộ. Đây là cách nhìn thuần túy “duy vật”, cho rằng thực tại chỉ bao gồm các yếu tố vật chất vật lý; còn các hiện tượng tinh thần — bao gồm ý thức và trí nhớ — được đơn giản hóa thành các tiến trình vật lý. Điều này có thể dẫn đến sai lầm lớn. Chỉ hiểu theo “nghĩa đen” của ẩn dụ, người ta có thể bỏ qua những vấn đề triết học sâu sắc về bản chất của “tâm trí” (mind), “ý thức” (consciousness) và “trí nhớ” (memory).
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.