Hôm nay,  

Văn Phong và Kinh Phật

08/10/202605:27:00(Xem: 487)
blank

Văn Phong và Kinh Phật
 

Nguyên Giác

Nói về chữ "văn phong" hẳn là có những định nghĩa rất mực uyên bác trong sách vở. Một thời tôi đã từng học những thứ rất phức tạp trong các chứng chỉ Triết học, và bây giờ tôi đã quên sạch. Trong đầu tôi không còn chữ nào (không phải là vô niệm, như kiểu các Thiền sư nói; mà thực tế là vô tự, tức là không có chữ nào hiện lên trong tâm, và tôi không nhớ tôi đã tu tập kiểu nào mà lại ra như thế). Tôi cũng không phải chuyên gia về ngữ học. Nơi đây tôi chỉ muốn nói theo kiểu rất mực học trò thời mới lớn (may ra còn vài chữ), rằng văn phong là cái giọng mình nhận ra sau một cuộc nói chuyện với một ai đó. Thí dụ, bạn nhớ rằng hồi sáng, bạn nói chuyện gì đó với một thiếu nữ trên chuyến xe buýt, rồi bạn nhớ tới giọng Huế của cô này, tiếng cô cười dòn tan và dịu dàng khi từ biệt xuống trạm. Đọc một cuốn sách cũng thế, khi bạn gấp sách lại, bạn sẽ nhớ tới giọng riêng của từng tác giả và không khí truyện. Thí dụ, văn phong trong truyện Bố Già hiển nhiên là khác với trong Hoàng Tử Bé.
 

Tôi lớn lên ở Sài Gòn của nhiều thập niên trước, trong một thời mà sách là cánh cửa mở ra những chân trời rộng lớn nhất. Hiển nhiên là cánh cửa duy nhất, vì đó là thời chưa có TV và Internet. Những năm trung học của tôi gắn liền với niềm vui đọc sách và một thú vui đặc biệt: đọc sách là lắng nghe, và nhận ra giọng điệu riêng của từng nhà văn, từng tác phẩm. Mỗi cuốn sách là một dòng sông văn học khác nhau để tôi ngụp lặn và tắm gội. Hôm nay tôi đắm mình trong sương khói thiên cổ kỳ bút rất Việt Nam trong Truyền Kỳ Mạn Lục của cụ đồ Nguyễn Dữ thời thế kỷ 16. Ngày mai tôi lại theo chân những mưu lược biến ảo của danh tác Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, ngạc nhiên trước truyện kể tài thao lược của các bậc anh hùng và quân sư Trung Hoa. Rồi một ngày khác, các trang giấy đưa tôi bay theo những chuyến phiêu lưu thần kỳ trong Tây Du Ký của tác giả Ngô Thừa Ân, say mê trước trí thông minh, sự nghịch ngợm và năng lực biến hóa vô tận của Tôn Ngộ Không, một kiểu Phật tử rất là ngang bướng (À ha, tôi nhớ rồi, nhớ rằng chữ “vô tự” nằm trong phần cuối truyện này; hóa ra mình vô tình chôm chữ này của người xưa). Và không thể thiếu những đêm dài cùng các trang truyện võ hiệp của  Kim Dung, nơi giang hồ, nghĩa khí, tình yêu và lý tưởng bụi đời hòa quyện thành một thế giới vừa thực vừa mộng. Từ rất sớm, tôi đã học được rằng văn chương không chỉ kể chuyện mà còn có một âm vang riêng của một thế giới của chữ; và niềm vui của tôi trong khi đọc là lắng nghe.
 

Vậy đó, tôi lớn lên theo các trang sách thời đi học, nơi mỗi tác phẩm là một dòng sông có tiếng nói riêng, mang một màu nước trong trẻo riêng và có những nhịp chảy khác biệt. Tói đã lắng nghe tiếng thì thầm riêng của mỗi dòng sông. Truyện Kiều của Nguyễn Du là dòng sông lấp lánh ánh trăng, vừa đẹp đẽ vừa man mác buồn. Câu thơ uyển chuyển, tinh tế, thấm đẫm nỗi đau nhân thế khiến người đọc như nghe tiếng lòng của những kiếp người trôi nổi. Về sau, tôi ngờ vực cụ Nguyễn Du muốn viết văn phản chiến vì gia đình họ Nguyễn và gia đình bên vợ đều tòng quân theo hai chiến tuyến kình nhau của phò và chống Tây Sơn, nhưng cụ Nguyễn cứ phải làm thơ lục bát loanh quanh về cô Kiều vì sơ suất là sẽ bị chém đầu ba họ. Rồi văn phong ngậm ngùi trong Chinh Phụ Ngâm qua tài dịch của Đoàn Thị Điểm lại là dòng sông của nhớ thương và cô quạnh, với những làn sóng cảm xúc dạt dào, nơi tiếng lòng của người chinh phụ ngân lên như khúc nhạc buồn không dứt. Trong khi đó, truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu mang vẻ mộc mạc và khỏe khoắn như một con sông phương Nam. Văn phong giản dị, chân thành, đề cao nghĩa khí và đạo làm người, làm lòng người trẻ thêm tin yêu những điều ngay thẳng.

Đối với một cậu học trò mê đọc sách, được đi từ dòng sông tài hoa của Nguyễn Du sang dòng sông bi cảm của Đoàn Thị Điểm, rồi đến dòng sông nghĩa hiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một niềm vui lớn. Chính từ những chuyến du hành ấy, tôi bắt đầu nhận ra rằng văn chương không chỉ kể những câu chuyện khác nhau, mà còn cất lên những giọng nói khác nhau của tâm hồn dân tộc.
 

Thế rồi, trong làn sóng học Phật các năm cuối thập niên 1960s, cậu học trò tình cờ nhặt được bản dịch tiếng Việt mỏng manh của cuốn Tiểu Chỉ Quán. Tôi đã tự ngồi thiền trên căn gác gỗ tối lờ mờ, trong những lúc thư thả giữa các giờ học thi Tú Tài, ngỡ ngàng bước vào một thế giới hoàn toàn mới --- nơi của tịch lặng, êm đềm, tách biệt khỏi những ồn ào phố thị bên ngoài. Không còn là việc đọc những dòng chữ trên giấy, từng hơi thở ra vào tựa như từng trang sách ngát hương lặng lẽ của tâm mình. Đó là hạnh phúc thuần khiết, sâu thẳm mà tôi chỉ tới bên hàng hiên (hiển nhiên, chưa gọi là vào nhà, nói theo kiểu sách Thiền, may ra chỉ mới nhìn thấy vết chân trâu).

Khi bước chân vào đại học, thế giới đọc của tôi lại mở rộng thêm. Tôi đặc biệt yêu thích những tác phẩm dịch của Bùi Giáng. Trong các bản dịch của nhà thơ họ Bùi, ngôn ngữ Việt Nam bỗng trở nên phóng khoáng, tài hoa và đầy nhạc tính. Cùng lúc đó, tôi tìm thấy nơi các bản dịch của Ni sư Trí Hải một giọng văn sáng sủa, chuẩn xác và thấm đẫm tinh thần Phật học, giúp những tư tưởng sâu xa trở nên gần gũi và dễ tiếp cận.

Đó cũng là thời gian tôi khám phá những văn phong học thuật rất khác nhau. Nơi Giáo sư Nguyễn Văn Trung hay Lê Tôn Nghiêm, tôi gặp một lối lý luận mang đậm ảnh hưởng phương Tây: chặt chẽ, biện chứng, phân tích từng khái niệm đến tận nền tảng của nó. Đọc các tác giả ấy giống như bước vào một cuộc đối thoại triết học với những câu hỏi không ngừng được đặt ra và khảo sát.
 

Trong khi đó, nơi Linh mục Kim Định và Nguyễn Văn Thọ, tôi lại bắt gặp một thế giới tư tưởng đậm chất Đông phương. Các tác phẩm của họ không chỉ lập luận mà còn gợi mở, không chỉ phân tích mà còn dẫn người đọc trở về với những tầng sâu của văn hóa và trực giác. Tư tưởng hiện ra như một dòng chảy liên tục giữa triết học, lịch sử và tâm linh. Dù vậy, tôi ngờ vực về sự chính xác của lý luận Việt Nho và Triết Lý An Vi của LM Kim Định, có thể Thầy đã bác bỏ Hán Nho theo một kiểu quá nhiều suy đoán vì tự hào dân tộc Việt (?). Dĩ nhiên, hạnh phúc là tôi được học, được đọc quá nhiều, sau này tôi nghĩ tới hình ảnh cậu Thiện Tài Đồng Tử trong Nhập Pháp Giới của Kinh Hoa Nghiêm, phải đi học khắp giang hồ với 53 lần tham vấn. Dĩ nhiên, tôi không giỏi như thế, và cũng không có hạnh nguyện lớn như các vị trong Kinh.

Và rồi có những tác giả mang một giọng văn rất Việt Nam. Thầy Nhất Hạnh viết với sự trong sáng, bình dị nhưng thấm sâu vào lòng người như lời tâm tình bên tách trà; trong đó, Bông Hồng Cài Áo của Thầy là một đoản văn bất tử, dẫn tới ca khúc bất tử do Phạm Thế Mỹ phổ nhạc. Trong khi đó, nhà văn Hồ Hữu Tường lại đưa tôi đến những suy tư vừa dân tộc vừa nhân loại, vừa thực tế vừa lý tưởng; bất kỳ ai cũng phải suy nghĩ khi đọc Phi Lạc Sang Tàu của nhà văn học Hồ. Đọc các tác giả này, tôi nhận ra rằng tư tưởng không nhất thiết phải khoác chiếc áo hàn lâm; nó có thể cất tiếng bằng ngôn ngữ của làng xã, của lũy tre, của đời sống và của kinh nghiệm Việt Nam.
 

Nhìn lại, tôi thấy mình đã trưởng thành nhờ được tắm trong nhiều dòng sông văn học khác nhau. Mỗi tác giả, mỗi văn phong, mỗi truyền thống tư tưởng đã để lại một dấu ấn riêng. Và có lẽ món quà quý giá nhất mà việc đọc mang lại là khả năng nhận ra vẻ đẹp của sự đa dạng, đồng thời nuôi dưỡng lòng biết ơn đối với tất cả những người đã làm giàu cho đời sống tinh thần của mình qua từng trang sách.

Khi rời Việt Nam để sống nơi hải ngoại, tôi lại bước vào một dòng sông khác của đời mình: dòng sông kinh điển Phật giáo. Những năm tháng miệt mài đọc kinh trên SuttaCentral đã mở ra trước mắt tôi một thế giới vừa cổ kính vừa tươi mới. Các bản kinh Nikāya hiện lên với giọng văn giản dị, trực chỉ, sáng trong như nước nguồn. Ở đó không có những lớp trang sức của văn chương, nhưng từng câu, từng đoạn đều mang một sức mạnh đặc biệt, đưa người đọc trở về với sự tỉnh thức của hiện tại.
 

Trong khi làm báo, viết truyện ngắn (dĩ nhiên, mỗi năm phải viết một truyện tình rất mực lâm ly bi đát cho báo Xuân), làm thơ, và viết về Phật giáo nhiều thập niên qua, tôi nhận ra rằng không có dòng sông văn học nào thực sự rời khỏi mình. Các dòng sông vẫn lặng lẽ chảy trong từng trang viết. Có lúc, trong những đoạn văn đầy cảm thức về thân phận con người, tôi bắt gặp thấp thoáng dư âm của Nguyễn Du. Đó là sự cảm thông đối với những nỗi khổ niềm đau của kiếp người, là cái nhìn dịu dàng nhưng không né tránh sự thật. Khi viết về những biến động của xã hội hay những cuộc đời lưu lạc, dường như dòng nước của Truyện Kiều vẫn còn ngân vang đâu đó.

Có lúc, những bài báo hay khảo luận của tôi lại mượn thêm giọng lưỡi sắc bén của Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, với thói quen nhìn sự việc từ nhiều góc độ, khảo sát động cơ, nhân duyên và bối cảnh đằng sau các sự kiện. Không phải để bày trò mưu lược, mà để thấy như kiểu các thầy bàn nhìn thấy từ vô số điều kiện chằng chịt. Từ Tây Du Ký, có lẽ tôi học được tinh thần lên đường. Bên dưới nhiều bài viết Phật giáo vẫn thấp thoáng hình ảnh người lữ hành không ngừng vượt núi băng sông để tìm chân lý. Hành trình đến Tây Trúc của Đường Tăng và hành trình đi tìm tự tâm của người học Phật, xét cho cùng, đều là những cuộc viễn du. Thế rồi, chữ “vô tự” (không một chữ nào hiện ra trong tâm) thường trực ở với tôi (cũng có thể, vì tôi thường ngồi uống trà với Thầy Thường Chiếu ở Đồng Ông Cộ và nhiễm thói quen lặng lẽ của Thầy). Trong khi đó, từ Kim Dung, tôi nhận được tình yêu đối với con người. Trong thế giới võ hiệp, thiện và ác rất hiếm khi hoàn toàn tách biệt; con người luôn phức tạp, vừa đáng trách vừa đáng thương.
 

Còn từ kinh Phật, đặc biệt là các bản kinh Nikāya, tôi học được sự giản dị của ngôn ngữ. Sau tất cả những vẻ đẹp của văn chương, điều còn lại là nói cho rõ sự thật, nói bằng tâm từ bi, và viết để giúp người đọc bớt khổ đau hơn một chút.

Nhìn lại cả hành trình, tôi thấy mình như một người đã đi qua nhiều dòng sông. Có dòng sông Việt Nam, có dòng sông Trung Hoa, có dòng sông tư tưởng Đông phương và Tây phương, có dòng sông kinh điển Phật giáo. Tất cả đã gặp nhau trong đời sống chữ nghĩa của tôi. Không một nguồn nước nào là vô ích. Mỗi ngụm nước đã nuôi lớn một phần tâm hồn, mỗi dòng sông đã để lại một chút phù sa trong văn phong và suy nghĩ của tôi. Vì thế, khi cầm bút hôm nay, tôi chỉ còn một cảm xúc đơn giản: lòng biết ơn. Biết ơn những tác giả đã viết, những dịch giả đã chuyển ngữ, những bậc thầy đã khai mở con đường, và biết ơn tất cả những nguồn nước văn học, tư tưởng và tâm linh mà tôi đã có duyên được uống trong suốt cuộc đời mình.

Thói quen mê đọc của tôi hạnh phúc nhất là từ khi có điện thoại di động. Tôi ngả lưng xuống giường, chuẩn bị ngủ là mở điện thoại ra đọc Kinh Phật qua các trang Accesstoinsight, SuttaCentral...  Kinh Phật cũng có nhiều văn phong khác nhau. Đức Phật thuyết pháp cho nhiều hạng người nghe khác nhau, do vậy văn phong chuyển biến khác nhau.
 

Vào thời Đức Phật, Ấn Độ chưa có kỹ thuật in ấn. Kinh điển được truyền miệng từ thầy sang trò. Phần đông dân chúng, đặc biệt là phụ nữ, nông dân và thợ rừng, không biết đọc biết viết. Vì vậy, khi giảng dạy cho những người nghe này, Đức Phật nói bằng lời đơn giản, dễ nhớ và dễ thuộc lòng. Văn phong dễ hiểu này nổi bật là Kinh Pháp Cú (Dhammapada). Mỗi bài kệ chỉ gồm vài câu ngắn, dùng hình ảnh quen thuộc như hoa, nước, ngựa, người chăn bò hoặc bóng theo hình. Các bài kệ thường đi sau một sự tích, trình bày một ý đạo đức rõ ràng: tránh điều ác, làm việc lành, giữ tâm trong sạch. Người nghe chỉ cần nghe vài lần là có thể ghi nhớ.

Tương tự, văn phong dễ hiểu cũng là nhóm 112 kinh trong nhóm Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Đây là những lời dạy được nữ cư sĩ Khujjuttarā ghi nhớ rồi đọc lại cho năm trăm cung nữ của hoàng hậu Sāmāvatī. Nghe kinh không phải là các học giả Bà La Môn mà là những phụ nữ (có lẽ ít học) trong cung đình mong muốn tu tập. Vì vậy, các bài kinh thường ngắn gọn, mở đầu bằng câu “Đức Thế Tôn đã nói như vậy”, sau đó trình bày một giáo lý đơn giản rồi kết bằng một bài kệ tóm tắt. Văn phong rất ít lý luận.

Trong khi đó, nhóm Kinh Nhật Tụng thời Đức Phật sinh tiền lại có văn phong rất khó; đó là hai phẩm cuối của Kinh Tập trong Tiểu Bộ. Hai phẩm cuối của Kinh Tập (Sutta Nipāta) là Phẩm Tám (Aṭṭhakavagga) và Phẩm Con Đường Đến Bờ Kia (Pārāyanavagga) có văn phong rất cô đọng và khó hiểu. Nhiều học giả xem đây là nhóm văn học cổ nhất của Phật giáo. Những người nghe pháp trong hai phẩm này là các đạo sĩ và Bà La Môn trí thức. Họ đã được đào tạo nhiều năm về triết học, nghi lễ tế tự và biện luận. Vì vậy, Đức Phật không chỉ dạy những nguyên tắc đạo đức căn bản mà còn bàn đến những vấn đề rất sâu sắc như chấp thủ, tà kiến, bản ngã và sự giải thoát tối hậu. Và trong văn phong đó là những dòng thơ có cú pháp rất khó, ít dùng. Nhóm 36 vị Bà La Môn sau khi đối thoại ở hai phẩm này đều chứng quả A La Hán ngay khi kinh thuyết xong.
 

Trong nhóm Kinh Tập đó, một trong những kinh làm tôi kinh ngạc sâu xa là Kinh Snp 4.9, Kinh Māgandiya Sutta. Khi đọc lời Đức Phật dạy về đừng nắm giữ kiến chấp, đừng bám víu vào cái được thấy, được nghe, được nghĩ tưởng, tôi luôn luôn nhớ tới thời mới học Phật ở Việt Nam khi nghiền ngẫm Bát Nhã Tâm Kinh. Dù văn phong khác nhau, Snp 4.9 là ngôn ngữ cổ xưa, văn phong của cú pháp rất mực phức tạp từ Pali, một bên là lời rất mực cô đọng, âm vang đọc theo âm Hán-Việt khẳng định như sấm sét, nhưng cả hai đều dường như chỉ về cùng một hướng: buông bỏ sự nắm bắt đối với mọi khái niệm và mọi hình bóng của tâm.

Lúc ấy, tôi chợt nhìn lại cuộc đời đọc sách của mình. Từ Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên, đến Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, Tây Du Ký, truyện võ hiệp của Kim Dung, Tiểu Chỉ Quán của nhà Thiền, rồi những trước tác triết học Đông Tây và kinh điển Phật giáo, tất cả dường như là những dòng sông khác nhau. Mỗi dòng sông là một thế giới văn học riêng.
 

Nhưng càng đi xa, tôi càng thấy các dòng sông ấy đều xuôi về một biển lớn. Dòng chảy siết là vô thường để rồi sẽ hòa vào nhau là một tánh nước, đó là vô ngã, nơi không có gì gọi là tôi hay của tôi, nơi không dòng sông nào tách biệt nữa. Tất cả đều cùng một tánh nước. Khi các dòng sông hòa vào biển lớn, nơi đó, nước chính là Tánh Không, vì không dòng sông nào tách riêng nữa. Khi chữ đã vào biển lớn, chữ sẽ không còn nữa, đó là trang sách của Vô Tự Chân Kinh, khi không còn chữ nào bám vào tâm nữa. Và thực sự, rất nhiều ngày tôi cũng tự thấy không có một tâm nào hiện ra để cho chữ bám vào. Phải chăng, đó là cốt tủy của Tâm Kinh. Xin nói rằng, tôi không biết. Nhưng chuyện này sẽ nói sau. Nghĩa là, xin chờ hồi sau sẽ rõ.
 

THAM KHẢO:

Kinh Snp 4.9: https://suttacentral.net/snp4.9/en/mills    

 



Những năm gần đây sự việc Trung Quốc chiếm đảo, vét cát dưới đáy biển xây dựng căn cứ quân sự, xây phi trường, đặt tên lửa tại biển Đông khiến người ta vô tâm quên mất rằng cánh tay dài của Đại Hán đã vươn qua biển thò đến tận Phnom Penh tự thuở nào. Dưới mắt nhiều quan sát viên quốc tế thì Campuchia ngày nay là một tỉnh của Trung Quốc, và Thủ tướng Hun Sen là một bí thư tỉnh ủy của Đảng Cộng sản Trung Quốc, không hơn không kém.Trung Quốc thiết lập căn cứ quân sự trên đất Campuchia là mối đe dọa nghiêm trọng cho các quốc gia khác trong vùng Đông Nam Á, và Hoa Kỳ chắc chắn không thể không nhận ra hiểm họa to lớn đó. Trong buổi tường trình lên Ủy ban Tình báo Thượng viện Hoa Kỳ hôm tháng Giêng năm 2019, Giám đốc Sở Tình báo Quốc gia, lúc đó là ông Dan Coats, đã cảnh báo rằng “Campuchia đang có nguy cơ biến thành một quốc gia độc tài, và điều đó sẽ mở đường cho Trung Quốc thiết lập các căn cứ quân sự trên miền đất ấy.”
Khi các trường hợp bị nhiễm vi khuẩn corona gia tăng trở lại, có thể là khó khăn đối với những người lớn tuổi để nhìn thấy bất cứ sự chấm dứt nào đối với nhu cầu cách ly xã hội và vì vậy sự cô đơn có thể đến. Cách nay nhiều tháng, họ đã thực hiện theo lời khuyên sức khỏe công cộng để giảm nguy cơ bị lây nhiễm bằng cách ở nhà, biết rằng việc truyền nhiễm có thể có nhiều biến chứng đe dọa tính mạng. Nhưng việc ở trong nhà cũng có nghĩa là cách biệt với gia đình, bạn bè và những nơi họ hoạt động và tham gia.
Ngoài ra, Thị Trưởng thành phố Houston tiểu bang Texas là Sylvester Turner cho biết trong cuộc họp báo hôm Thứ Năm rằng vi khuẩn Covid-19 trong thành phố đãa “không còn kiểm soát được nữa.” “Các con số đang di chuyển về hướng sai với chúng tôi. Vi khuẩn Covid-19 trong thành phố, mà cũng toàn tiểu bang, đang vượt khỏi tầm kiểm soát,” theo Turner cho biết. Houston báo cáo 412 trường hợp mới hôm Thứ Năm, nâng tổng số trường hợp lên ít nhất 26,012, với 250 người thiệt mạng.
Bộ Trưởng Tài Chánh Hoa Kỳ Steven Mnuchin hôm Thứ Năm, 9 tháng 7 nói rằng chính phủ muốn hạn chế tiền thất nghiệp trong gói tài trợ vi khuẩn corona sắp tới để bảo đảm các công nhân không vì lãnh tiền trợ cấp nhiều hơn tiền lương cũ, theo Marketwatch.com cho biết. Theo luật tài trợ vi khuẩn corona trong tháng 3, công nhân đã nhận $600 mỗi tuần thêm vào với trợ cấp thất nghiệp bình thường của họ, mà các chỉ trích nói là khuyến khích người thất nghiệp không tìm việc làm. “Bạn có thể cho rằng nó sẽ không hơn 100%, vì thế vâng, chúng tôi muốn khuyến khích mọi người trở lại làm việc,” theo Mnuchin cho biết, trong cuộc phỏng vấn với CNBC. Hạ Viện đã thông qua dự luật gia hạn thêm $600 tiền trả hàng tuần cho đến tháng 12.
Ngày 22 tháng 6 năm 2020, dự luật An Ninh Quốc Gia về Hồng Kông được đưa ra tại quốc hội của Đảng Cộng Sản Trung Hoa để thông qua, và đêm 30 tháng 6 rạng sáng ngày 1 tháng 7, 2020, sau một phiên họp kín của Ủy Ban Thường Vụ Đại Biểu Nhân Dân (mà thế giới gọi là quốc hội bù nhìn tại Bắc Kinh) dự luật này đã trở thành luật. Ngày mà Luật An Ninh Quốc Gia về Hồng Kông này ra đời cũng trùng ngày mà Hồng Kông được trao trả lại cho China 23 năm trước 01-07-1997 theo thể chế “một nước hai chế độ” (one country two systems). Theo đó Hồng Kông vẫn còn quyền tự trị trong 50 năm từ 1997 đến 2047, và trên lý thuyết Hồng Kông chỉ lệ thuộc vào Bắc Kinh về quân sự và ngoại giao mà thôi.
Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Mark Esper hôm Thứ Năm, 9 tháng 7 năm 2020, xác nhận rằng ông đã được báo cáo về tin liên quan đến Nga trả tiền cho Taliban, có vẻ thừa nhận rằng việc hỗ trợ của Nga đối với nhóm dân quân tại Afghanistan không phải là “tin vịt,” như TT Trump đã nói, theo bản tin của CNN cho biết. Tuy nhiên, ông Esper cũng nói rõ rằng ông đã không thấy tin tình báo chứng thực rằng lính Mỹ đã bị giết là kết quả của tiền “thưởng,” đi một đường ranh giữa việc thừa nhận mối đe dọa được biết và tiềm năng đụng độ với Tổng Thống.
Thị trường chứng khoán Hoa Kỳ đã lao giốc hôm Thứ Năm, 9 tháng 7 năm 2020, sau khi Tối Cao Pháp Viện đã giáng một đòn mạnh vào chính phủ Trump, theo bản tin của CNN Business cho biết hôm Thứ Năm. Tòa phán quyết rằng các công tố viên có thể tìm kiếm hồ sơ tài chánh và hồ sơ khai thuế của Tổng Thống Donald Trump, dù điều đó có thể không xảy ra trước cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ vào tháng 11 này. Các thẩm phán đã phán quyết với tỉ số 7 trên 2 rằng biện lý quận hạt Manhattan có thể lấy các hồ sơ khai thuế và những hồ sơ khác của Trump.
Trong sáu phương pháp mà tác giả trình bày dưới đây, ngoài chuyên môn về dinh dưỡng và thể thao thì việc thiền và châm cứu có nguồn gốc từ phương Đông và đã có lịch sử hàng ngàn năm. Việc thiền định trong Phật giáo là một phương pháp căn bản để thanh tịnh tâm, phát triển trí huệ. Thiền định là pháp tu quan trọng trong nhà Phật, vốn có nhiều trường phái khác nhau và phương pháp hành trì khác nhau như thiền minh sát, thiền Bắc tông… Thiền, ngoài ý nghĩa tôn giáo, tâm linh, ngày nay các nhà khoa học, bác sĩ phương Tây úng dụng thiền để chữa trị bệnh tâm lý cho người và cả thân bệnh. Bài viết này trình bày rõ ràng lợi ích của việc ứng dụng thiền. Thiền làm giảm sự xung động của thân, xoa dịu căng thẳng, tăng lưu thông máu lên não, cân bằng giao cảm và phó giao cảm…
Thành Phố Tulsa đang chứng kiến sự gia tăng các trường hợp vi khuẩn corona, hơn 2 tuần sau khi Tổng Thống Donald Trump tổ chức tập hợp vận động tranh cử bên trong vận động trường ở đó, theo CNN cho biết hôm Thứ Tư, 8 tháng 7. Bác Sĩ Bruce Dart, Giám Đốc của Ty Y Tế Tulsa, nói trong cuộc họp báo hôm Thứ Tư rằng có nhiều con số được báo cáo trong tuần này, với gần 500 trường hợp mới trong 2 ngày và khuynh hướng này đang cho thấy rằng những con số sẽ còn gia tăng. Đã có 20% giảm trong các trường hợp mới của Covid-19 tuần lễ từ ngày 28 tháng 6 đến ngày 4 tháng 7. Ty Y Tế Tulsa báo cáo 266 trường hợp mới hôm Thứ Tư, nâng tổng số trong quận lên 4,571. Có 17,894 trường hợp tại tiểu bang Oklahoma và 452 người thiệt mạng, theo tài liệu của Đại Học Johns Hopkins cho biết.
Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ hôm Thứ Tư, 8 tháng 7 năm 2020, đã dọn đường cho chính phủ Trump giúp cho các công ty trên toàn quốc tự do hơn trong việc từ chối cung cấp việc ngừa thai miễn phí cho những công nhân của họ theo Luật Chăm Sóc Vừa Túi Tiền (ACA) thường gọi là Obamacare, theo bản tin của NBCNews cho biết hôm Thứ Tư. Phán quyết là chiến thắng đối với kế hoạch của chính phủ nhằm mở rộng đáng kể các loại chủ nhân có thể viện dẫn những phản đối về tôn giáo hoặc đạo đức trong việc từ chối đưa các biện pháp ngừa thai vào các kế hoạch chăm sóc sức khỏe của họ. Có tới 126,000 phụ nữ trên toàn quốc sẽ mất bảo hiểm kiểm soát sinh sản theo kế hoạch của Tổng Thống Donald Trump, theo phỏng đoán của chính phủ cho biết.
“Ngày 11/07/1995: Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton và Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt thông báo quyết định bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa 2 nước.” Với quyết định lịch sử này, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng sản đã ghi dấu “gác lại qúa khứ, hướng tới tương lai” được 25 năm vào ngày 11/07/2020. Nhưng thời gian ¼ Thế kỷ bang giao Mỹ-Việt đã đem lại những bài học nào cho hai nước cựu thù, hay Mỹ và Việt Nam Cộng sản vẫn còn những cách biệt không hàn gắn được ?
Sau khi các thương vụ giảm gần 50% vì đại dịch vi khuẩn toàn cầu, hệ thống tiệm Bed Bath & Beyond đã tuyên bố họ sẽ đóng cửa khoảng 200 tiệm trong 2 năm tới, theo bản tin của CNBC tường trình cho biết. Sự tổn thất đến bất kể các thương vụ trên mạng đang gia tăng hơn 100% trong tháng 4 và tháng 5, trong lúc cao điểm đóng cửa, theo bản tin trên cho biết. “Chúng tôi chứng kiến có nhiều tiệm đang kéo chúng tôi xuống,” theo tổng giám đốc của Bed Bath & Beyond là Mark Tritton nói với CNBC. Việc đóng cửa sẽ bắt đầu vào cuối năm nay trong số 1,478 tiệm, gồm 955 tiệm Bed Bath & Beyond. BBB cũng làm chủ hệ thống tiệm Buybuy Baby, Christmas Tree Shops, và Harmon Face Values.
Một tàu hải cảnh của TQ đã tiến tới sát giàn khoan khai thác khí đốt Lan Tây của Việt Nam và rồi chạy tới gần giếng dầu Phong Lan Dại thuộc công ty Nga khai thác từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 7 năm 2020, theo bản tin của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) cho biết hôm 9 tháng 7.
Tổng Thống Donald Trump đã tăng tốc cho chiến dịch gây áp lực để tái mở cửa toàn bộ các trường công giữa đại dịch vi khuẩn corona, theo Twitter hôm Thứ Tư, 8 tháng 7 rằng ông có thể giữ lại tiền tài trợ liên bang cho các trường học nào không tái mở cửa các lớp học vào mùa thu năm nay, theo bản tin của CNBC cho biết. Twitter là bước mới nhất trong nỗ lực rộng lớn của chính phủ nhằm thuyết phục các trường học trên toàn quốc rằng những rủi ro không tái mở cửa đối với các lớp học trực tiếp vượt xa đại dịch do vi khuẩn corona gây ra, mà đã đạt mức kỷ lục mới trên toàn quốc trong những tuần gần đây.
Nhiều nhà chuyên môn đã tìm cách giúp người dân Mỹ chuẩn bị đời sống tinh thần vững vàng để vượt qua mùa đại dịch. Tiến Sĩ Giáo Dục Bạch Xuân Khỏe là một trong số này. Thực ra, Tiến Sĩ Khỏe không xa lạ đối với cộng đồng giáo dục California. Là một giáo viên trung học tại Sacramento, trước đây anh đã từng có những buổi huấn luyện cho các giáo viên thuộc các học khu California về chủ đề ứng dụng thực tập Chánh Niệm (Mindfulness) tại các trường học, giúp học sinh tăng cường khả năng học tập, và có sức khỏe tâm lý vững vàng hơn. Trong mùa dịch COVID-19, những buổi hướng dẫn của anh đã được thực hiện theo dạng trực tuyến trên mạng. Đại Học Stanford và The California Teachers Association (CTA) đã phối hợp tổ chức hai buổi webinar: vào ngày 21 tháng 04 có chủ đề “Mindfulness and Self-Care for Educators in the Time of Pandemic”, và ngày 5 tháng 5 có chủ đề “The Science of Mindfulness and Self-Care”. Hai diễn giả là Tiến Sĩ Bạch Xuân Phẻ và Jason Dilg- Giám Đốc Điều Hành của tổ chức Be Mindfu
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.