Hôm nay,  

Văn Phong và Kinh Phật

08/10/202605:27:00(Xem: 484)
blank

Văn Phong và Kinh Phật
 

Nguyên Giác

Nói về chữ "văn phong" hẳn là có những định nghĩa rất mực uyên bác trong sách vở. Một thời tôi đã từng học những thứ rất phức tạp trong các chứng chỉ Triết học, và bây giờ tôi đã quên sạch. Trong đầu tôi không còn chữ nào (không phải là vô niệm, như kiểu các Thiền sư nói; mà thực tế là vô tự, tức là không có chữ nào hiện lên trong tâm, và tôi không nhớ tôi đã tu tập kiểu nào mà lại ra như thế). Tôi cũng không phải chuyên gia về ngữ học. Nơi đây tôi chỉ muốn nói theo kiểu rất mực học trò thời mới lớn (may ra còn vài chữ), rằng văn phong là cái giọng mình nhận ra sau một cuộc nói chuyện với một ai đó. Thí dụ, bạn nhớ rằng hồi sáng, bạn nói chuyện gì đó với một thiếu nữ trên chuyến xe buýt, rồi bạn nhớ tới giọng Huế của cô này, tiếng cô cười dòn tan và dịu dàng khi từ biệt xuống trạm. Đọc một cuốn sách cũng thế, khi bạn gấp sách lại, bạn sẽ nhớ tới giọng riêng của từng tác giả và không khí truyện. Thí dụ, văn phong trong truyện Bố Già hiển nhiên là khác với trong Hoàng Tử Bé.
 

Tôi lớn lên ở Sài Gòn của nhiều thập niên trước, trong một thời mà sách là cánh cửa mở ra những chân trời rộng lớn nhất. Hiển nhiên là cánh cửa duy nhất, vì đó là thời chưa có TV và Internet. Những năm trung học của tôi gắn liền với niềm vui đọc sách và một thú vui đặc biệt: đọc sách là lắng nghe, và nhận ra giọng điệu riêng của từng nhà văn, từng tác phẩm. Mỗi cuốn sách là một dòng sông văn học khác nhau để tôi ngụp lặn và tắm gội. Hôm nay tôi đắm mình trong sương khói thiên cổ kỳ bút rất Việt Nam trong Truyền Kỳ Mạn Lục của cụ đồ Nguyễn Dữ thời thế kỷ 16. Ngày mai tôi lại theo chân những mưu lược biến ảo của danh tác Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, ngạc nhiên trước truyện kể tài thao lược của các bậc anh hùng và quân sư Trung Hoa. Rồi một ngày khác, các trang giấy đưa tôi bay theo những chuyến phiêu lưu thần kỳ trong Tây Du Ký của tác giả Ngô Thừa Ân, say mê trước trí thông minh, sự nghịch ngợm và năng lực biến hóa vô tận của Tôn Ngộ Không, một kiểu Phật tử rất là ngang bướng (À ha, tôi nhớ rồi, nhớ rằng chữ “vô tự” nằm trong phần cuối truyện này; hóa ra mình vô tình chôm chữ này của người xưa). Và không thể thiếu những đêm dài cùng các trang truyện võ hiệp của  Kim Dung, nơi giang hồ, nghĩa khí, tình yêu và lý tưởng bụi đời hòa quyện thành một thế giới vừa thực vừa mộng. Từ rất sớm, tôi đã học được rằng văn chương không chỉ kể chuyện mà còn có một âm vang riêng của một thế giới của chữ; và niềm vui của tôi trong khi đọc là lắng nghe.
 

Vậy đó, tôi lớn lên theo các trang sách thời đi học, nơi mỗi tác phẩm là một dòng sông có tiếng nói riêng, mang một màu nước trong trẻo riêng và có những nhịp chảy khác biệt. Tói đã lắng nghe tiếng thì thầm riêng của mỗi dòng sông. Truyện Kiều của Nguyễn Du là dòng sông lấp lánh ánh trăng, vừa đẹp đẽ vừa man mác buồn. Câu thơ uyển chuyển, tinh tế, thấm đẫm nỗi đau nhân thế khiến người đọc như nghe tiếng lòng của những kiếp người trôi nổi. Về sau, tôi ngờ vực cụ Nguyễn Du muốn viết văn phản chiến vì gia đình họ Nguyễn và gia đình bên vợ đều tòng quân theo hai chiến tuyến kình nhau của phò và chống Tây Sơn, nhưng cụ Nguyễn cứ phải làm thơ lục bát loanh quanh về cô Kiều vì sơ suất là sẽ bị chém đầu ba họ. Rồi văn phong ngậm ngùi trong Chinh Phụ Ngâm qua tài dịch của Đoàn Thị Điểm lại là dòng sông của nhớ thương và cô quạnh, với những làn sóng cảm xúc dạt dào, nơi tiếng lòng của người chinh phụ ngân lên như khúc nhạc buồn không dứt. Trong khi đó, truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu mang vẻ mộc mạc và khỏe khoắn như một con sông phương Nam. Văn phong giản dị, chân thành, đề cao nghĩa khí và đạo làm người, làm lòng người trẻ thêm tin yêu những điều ngay thẳng.

Đối với một cậu học trò mê đọc sách, được đi từ dòng sông tài hoa của Nguyễn Du sang dòng sông bi cảm của Đoàn Thị Điểm, rồi đến dòng sông nghĩa hiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một niềm vui lớn. Chính từ những chuyến du hành ấy, tôi bắt đầu nhận ra rằng văn chương không chỉ kể những câu chuyện khác nhau, mà còn cất lên những giọng nói khác nhau của tâm hồn dân tộc.
 

Thế rồi, trong làn sóng học Phật các năm cuối thập niên 1960s, cậu học trò tình cờ nhặt được bản dịch tiếng Việt mỏng manh của cuốn Tiểu Chỉ Quán. Tôi đã tự ngồi thiền trên căn gác gỗ tối lờ mờ, trong những lúc thư thả giữa các giờ học thi Tú Tài, ngỡ ngàng bước vào một thế giới hoàn toàn mới --- nơi của tịch lặng, êm đềm, tách biệt khỏi những ồn ào phố thị bên ngoài. Không còn là việc đọc những dòng chữ trên giấy, từng hơi thở ra vào tựa như từng trang sách ngát hương lặng lẽ của tâm mình. Đó là hạnh phúc thuần khiết, sâu thẳm mà tôi chỉ tới bên hàng hiên (hiển nhiên, chưa gọi là vào nhà, nói theo kiểu sách Thiền, may ra chỉ mới nhìn thấy vết chân trâu).

Khi bước chân vào đại học, thế giới đọc của tôi lại mở rộng thêm. Tôi đặc biệt yêu thích những tác phẩm dịch của Bùi Giáng. Trong các bản dịch của nhà thơ họ Bùi, ngôn ngữ Việt Nam bỗng trở nên phóng khoáng, tài hoa và đầy nhạc tính. Cùng lúc đó, tôi tìm thấy nơi các bản dịch của Ni sư Trí Hải một giọng văn sáng sủa, chuẩn xác và thấm đẫm tinh thần Phật học, giúp những tư tưởng sâu xa trở nên gần gũi và dễ tiếp cận.

Đó cũng là thời gian tôi khám phá những văn phong học thuật rất khác nhau. Nơi Giáo sư Nguyễn Văn Trung hay Lê Tôn Nghiêm, tôi gặp một lối lý luận mang đậm ảnh hưởng phương Tây: chặt chẽ, biện chứng, phân tích từng khái niệm đến tận nền tảng của nó. Đọc các tác giả ấy giống như bước vào một cuộc đối thoại triết học với những câu hỏi không ngừng được đặt ra và khảo sát.
 

Trong khi đó, nơi Linh mục Kim Định và Nguyễn Văn Thọ, tôi lại bắt gặp một thế giới tư tưởng đậm chất Đông phương. Các tác phẩm của họ không chỉ lập luận mà còn gợi mở, không chỉ phân tích mà còn dẫn người đọc trở về với những tầng sâu của văn hóa và trực giác. Tư tưởng hiện ra như một dòng chảy liên tục giữa triết học, lịch sử và tâm linh. Dù vậy, tôi ngờ vực về sự chính xác của lý luận Việt Nho và Triết Lý An Vi của LM Kim Định, có thể Thầy đã bác bỏ Hán Nho theo một kiểu quá nhiều suy đoán vì tự hào dân tộc Việt (?). Dĩ nhiên, hạnh phúc là tôi được học, được đọc quá nhiều, sau này tôi nghĩ tới hình ảnh cậu Thiện Tài Đồng Tử trong Nhập Pháp Giới của Kinh Hoa Nghiêm, phải đi học khắp giang hồ với 53 lần tham vấn. Dĩ nhiên, tôi không giỏi như thế, và cũng không có hạnh nguyện lớn như các vị trong Kinh.

Và rồi có những tác giả mang một giọng văn rất Việt Nam. Thầy Nhất Hạnh viết với sự trong sáng, bình dị nhưng thấm sâu vào lòng người như lời tâm tình bên tách trà; trong đó, Bông Hồng Cài Áo của Thầy là một đoản văn bất tử, dẫn tới ca khúc bất tử do Phạm Thế Mỹ phổ nhạc. Trong khi đó, nhà văn Hồ Hữu Tường lại đưa tôi đến những suy tư vừa dân tộc vừa nhân loại, vừa thực tế vừa lý tưởng; bất kỳ ai cũng phải suy nghĩ khi đọc Phi Lạc Sang Tàu của nhà văn học Hồ. Đọc các tác giả này, tôi nhận ra rằng tư tưởng không nhất thiết phải khoác chiếc áo hàn lâm; nó có thể cất tiếng bằng ngôn ngữ của làng xã, của lũy tre, của đời sống và của kinh nghiệm Việt Nam.
 

Nhìn lại, tôi thấy mình đã trưởng thành nhờ được tắm trong nhiều dòng sông văn học khác nhau. Mỗi tác giả, mỗi văn phong, mỗi truyền thống tư tưởng đã để lại một dấu ấn riêng. Và có lẽ món quà quý giá nhất mà việc đọc mang lại là khả năng nhận ra vẻ đẹp của sự đa dạng, đồng thời nuôi dưỡng lòng biết ơn đối với tất cả những người đã làm giàu cho đời sống tinh thần của mình qua từng trang sách.

Khi rời Việt Nam để sống nơi hải ngoại, tôi lại bước vào một dòng sông khác của đời mình: dòng sông kinh điển Phật giáo. Những năm tháng miệt mài đọc kinh trên SuttaCentral đã mở ra trước mắt tôi một thế giới vừa cổ kính vừa tươi mới. Các bản kinh Nikāya hiện lên với giọng văn giản dị, trực chỉ, sáng trong như nước nguồn. Ở đó không có những lớp trang sức của văn chương, nhưng từng câu, từng đoạn đều mang một sức mạnh đặc biệt, đưa người đọc trở về với sự tỉnh thức của hiện tại.
 

Trong khi làm báo, viết truyện ngắn (dĩ nhiên, mỗi năm phải viết một truyện tình rất mực lâm ly bi đát cho báo Xuân), làm thơ, và viết về Phật giáo nhiều thập niên qua, tôi nhận ra rằng không có dòng sông văn học nào thực sự rời khỏi mình. Các dòng sông vẫn lặng lẽ chảy trong từng trang viết. Có lúc, trong những đoạn văn đầy cảm thức về thân phận con người, tôi bắt gặp thấp thoáng dư âm của Nguyễn Du. Đó là sự cảm thông đối với những nỗi khổ niềm đau của kiếp người, là cái nhìn dịu dàng nhưng không né tránh sự thật. Khi viết về những biến động của xã hội hay những cuộc đời lưu lạc, dường như dòng nước của Truyện Kiều vẫn còn ngân vang đâu đó.

Có lúc, những bài báo hay khảo luận của tôi lại mượn thêm giọng lưỡi sắc bén của Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, với thói quen nhìn sự việc từ nhiều góc độ, khảo sát động cơ, nhân duyên và bối cảnh đằng sau các sự kiện. Không phải để bày trò mưu lược, mà để thấy như kiểu các thầy bàn nhìn thấy từ vô số điều kiện chằng chịt. Từ Tây Du Ký, có lẽ tôi học được tinh thần lên đường. Bên dưới nhiều bài viết Phật giáo vẫn thấp thoáng hình ảnh người lữ hành không ngừng vượt núi băng sông để tìm chân lý. Hành trình đến Tây Trúc của Đường Tăng và hành trình đi tìm tự tâm của người học Phật, xét cho cùng, đều là những cuộc viễn du. Thế rồi, chữ “vô tự” (không một chữ nào hiện ra trong tâm) thường trực ở với tôi (cũng có thể, vì tôi thường ngồi uống trà với Thầy Thường Chiếu ở Đồng Ông Cộ và nhiễm thói quen lặng lẽ của Thầy). Trong khi đó, từ Kim Dung, tôi nhận được tình yêu đối với con người. Trong thế giới võ hiệp, thiện và ác rất hiếm khi hoàn toàn tách biệt; con người luôn phức tạp, vừa đáng trách vừa đáng thương.
 

Còn từ kinh Phật, đặc biệt là các bản kinh Nikāya, tôi học được sự giản dị của ngôn ngữ. Sau tất cả những vẻ đẹp của văn chương, điều còn lại là nói cho rõ sự thật, nói bằng tâm từ bi, và viết để giúp người đọc bớt khổ đau hơn một chút.

Nhìn lại cả hành trình, tôi thấy mình như một người đã đi qua nhiều dòng sông. Có dòng sông Việt Nam, có dòng sông Trung Hoa, có dòng sông tư tưởng Đông phương và Tây phương, có dòng sông kinh điển Phật giáo. Tất cả đã gặp nhau trong đời sống chữ nghĩa của tôi. Không một nguồn nước nào là vô ích. Mỗi ngụm nước đã nuôi lớn một phần tâm hồn, mỗi dòng sông đã để lại một chút phù sa trong văn phong và suy nghĩ của tôi. Vì thế, khi cầm bút hôm nay, tôi chỉ còn một cảm xúc đơn giản: lòng biết ơn. Biết ơn những tác giả đã viết, những dịch giả đã chuyển ngữ, những bậc thầy đã khai mở con đường, và biết ơn tất cả những nguồn nước văn học, tư tưởng và tâm linh mà tôi đã có duyên được uống trong suốt cuộc đời mình.

Thói quen mê đọc của tôi hạnh phúc nhất là từ khi có điện thoại di động. Tôi ngả lưng xuống giường, chuẩn bị ngủ là mở điện thoại ra đọc Kinh Phật qua các trang Accesstoinsight, SuttaCentral...  Kinh Phật cũng có nhiều văn phong khác nhau. Đức Phật thuyết pháp cho nhiều hạng người nghe khác nhau, do vậy văn phong chuyển biến khác nhau.
 

Vào thời Đức Phật, Ấn Độ chưa có kỹ thuật in ấn. Kinh điển được truyền miệng từ thầy sang trò. Phần đông dân chúng, đặc biệt là phụ nữ, nông dân và thợ rừng, không biết đọc biết viết. Vì vậy, khi giảng dạy cho những người nghe này, Đức Phật nói bằng lời đơn giản, dễ nhớ và dễ thuộc lòng. Văn phong dễ hiểu này nổi bật là Kinh Pháp Cú (Dhammapada). Mỗi bài kệ chỉ gồm vài câu ngắn, dùng hình ảnh quen thuộc như hoa, nước, ngựa, người chăn bò hoặc bóng theo hình. Các bài kệ thường đi sau một sự tích, trình bày một ý đạo đức rõ ràng: tránh điều ác, làm việc lành, giữ tâm trong sạch. Người nghe chỉ cần nghe vài lần là có thể ghi nhớ.

Tương tự, văn phong dễ hiểu cũng là nhóm 112 kinh trong nhóm Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Đây là những lời dạy được nữ cư sĩ Khujjuttarā ghi nhớ rồi đọc lại cho năm trăm cung nữ của hoàng hậu Sāmāvatī. Nghe kinh không phải là các học giả Bà La Môn mà là những phụ nữ (có lẽ ít học) trong cung đình mong muốn tu tập. Vì vậy, các bài kinh thường ngắn gọn, mở đầu bằng câu “Đức Thế Tôn đã nói như vậy”, sau đó trình bày một giáo lý đơn giản rồi kết bằng một bài kệ tóm tắt. Văn phong rất ít lý luận.

Trong khi đó, nhóm Kinh Nhật Tụng thời Đức Phật sinh tiền lại có văn phong rất khó; đó là hai phẩm cuối của Kinh Tập trong Tiểu Bộ. Hai phẩm cuối của Kinh Tập (Sutta Nipāta) là Phẩm Tám (Aṭṭhakavagga) và Phẩm Con Đường Đến Bờ Kia (Pārāyanavagga) có văn phong rất cô đọng và khó hiểu. Nhiều học giả xem đây là nhóm văn học cổ nhất của Phật giáo. Những người nghe pháp trong hai phẩm này là các đạo sĩ và Bà La Môn trí thức. Họ đã được đào tạo nhiều năm về triết học, nghi lễ tế tự và biện luận. Vì vậy, Đức Phật không chỉ dạy những nguyên tắc đạo đức căn bản mà còn bàn đến những vấn đề rất sâu sắc như chấp thủ, tà kiến, bản ngã và sự giải thoát tối hậu. Và trong văn phong đó là những dòng thơ có cú pháp rất khó, ít dùng. Nhóm 36 vị Bà La Môn sau khi đối thoại ở hai phẩm này đều chứng quả A La Hán ngay khi kinh thuyết xong.
 

Trong nhóm Kinh Tập đó, một trong những kinh làm tôi kinh ngạc sâu xa là Kinh Snp 4.9, Kinh Māgandiya Sutta. Khi đọc lời Đức Phật dạy về đừng nắm giữ kiến chấp, đừng bám víu vào cái được thấy, được nghe, được nghĩ tưởng, tôi luôn luôn nhớ tới thời mới học Phật ở Việt Nam khi nghiền ngẫm Bát Nhã Tâm Kinh. Dù văn phong khác nhau, Snp 4.9 là ngôn ngữ cổ xưa, văn phong của cú pháp rất mực phức tạp từ Pali, một bên là lời rất mực cô đọng, âm vang đọc theo âm Hán-Việt khẳng định như sấm sét, nhưng cả hai đều dường như chỉ về cùng một hướng: buông bỏ sự nắm bắt đối với mọi khái niệm và mọi hình bóng của tâm.

Lúc ấy, tôi chợt nhìn lại cuộc đời đọc sách của mình. Từ Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên, đến Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, Tây Du Ký, truyện võ hiệp của Kim Dung, Tiểu Chỉ Quán của nhà Thiền, rồi những trước tác triết học Đông Tây và kinh điển Phật giáo, tất cả dường như là những dòng sông khác nhau. Mỗi dòng sông là một thế giới văn học riêng.
 

Nhưng càng đi xa, tôi càng thấy các dòng sông ấy đều xuôi về một biển lớn. Dòng chảy siết là vô thường để rồi sẽ hòa vào nhau là một tánh nước, đó là vô ngã, nơi không có gì gọi là tôi hay của tôi, nơi không dòng sông nào tách biệt nữa. Tất cả đều cùng một tánh nước. Khi các dòng sông hòa vào biển lớn, nơi đó, nước chính là Tánh Không, vì không dòng sông nào tách riêng nữa. Khi chữ đã vào biển lớn, chữ sẽ không còn nữa, đó là trang sách của Vô Tự Chân Kinh, khi không còn chữ nào bám vào tâm nữa. Và thực sự, rất nhiều ngày tôi cũng tự thấy không có một tâm nào hiện ra để cho chữ bám vào. Phải chăng, đó là cốt tủy của Tâm Kinh. Xin nói rằng, tôi không biết. Nhưng chuyện này sẽ nói sau. Nghĩa là, xin chờ hồi sau sẽ rõ.
 

THAM KHẢO:

Kinh Snp 4.9: https://suttacentral.net/snp4.9/en/mills    

 



Nhạc sĩ nhạc rap Kanye West cho biết rằng ông đang tranh cử tổng thống, có khả năng đọ sức với người mà ông ngưỡng mộ là Donald Trump, theo bản tin tiếng Anh của Đài BBC cho biết hôm Chủ Nhật, 5 tháng 7 năm 2020. “Bây giờ chúng ta phải nhận thức rằng lời cam kết của nước Mỹ qua niềm tin Thượng Đế, thống nhất quan kiến của chúng ta và xây dựng tương lai của chúng ta,” theo người nhạc sĩ này cho biết trong Twitter. “Tôi đang tranh chức tổng thống của Hoa Kỳ!” Phu nhân của ông là Kim Kardashian West và doanh nhân Elon Musk đã ủng hộ ông. Nhưng không rõ là West có đang thực sự tranh cử hay không.
Từ lâu các nhà khoa học nhận thấy rằng người Nhật bản cũng như các dân tộc thiểu số Inuits và Esquimaux ở về phía Bắc Canada có tỉ lệ bệnh tim mạch rất thấp so với các dân tộc khác. Phải chăng nhờ tập quán ăn cá đã giúp họ tránh khỏi được một phần nào bệnh lý nói trên? Từ nhận xét nầy, người ta mới tìm ra được chất Omega-3 trong mỡ cá. Rất nhiều công trình khảo cứu khoa học đã nói lên sự lợi ích của Omega-3 đối với sức khỏe chúng ta. Omega-3 là gì? Đây là những chất acid béo thiết yếu (essential fatty acids) nằm trong nhóm chất béo không bão hòa đa thể. Thiết yếu vì cơ thể không thể tự tổng hợp được mà cần phải nhờ thực phẩm mang vào.
Tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ vào lúc 11 giờ sáng Thứ Bảy ngày 4 tháng 7 ngày lễ Độc Lập Hoa Kỳ, một số Hậu Duệ thuộc các quân binh chủng Quân Lực Việt nam Cộng Hòa phối hợp cùng Hội Quân Nhân Việt Mỹ, Hội Quân Xa do ông Phạm Công làm Hội Trưởng đã tổ chức buổi chào Quốc Kỳ và lễ đặt vòng hoa tưởng niệm nhân ngày lễ Độc Lập Hoa Kỳ.
Bác Sĩ Anthony Fauci, giám đốc Viện Các Bệnh Dị Ứng và Truyền Nhiễm Quốc Gia qua 3 thập niên và là một trong những chuyên gia hàng đầu về đại dịch tại Hoa Kỳ tromg 4 thập niên qua, đã đưa ra một số từ ngữ gắt gao cho công chúng và các chính quyền liên bang Hoa Kỳ, theo báo mạng www.marketwatch.com cho biết hôm 4 tháng 7. Fauci nói rằng SARS-CoV-2, tên cho vi khuẩn gây ra COVID-19, sẽ tiếp tục lây lan ngoại trừ mọi người ngưng trò chơi của họ. Ông phát biểu trong tuần này tại Ủy Ban Sức Khỏe, Giáo Dục, Lao Động và Hưu Bổng của Thượng Viện tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn, cùng với các viên chức chính phủ khác.
Tổng Thống Donald Trump đã ký ban hành sắc lệnh hành pháp tạo dựng “Vườn Quốc Gia Của Những Anh Hùng Nước Mỹ” để bênh vực điều ông gọi là “câu chuyện quốc gia vĩ đại của chúng ta” chống lại những người phá hoại các tượng, theo bản tin của BBC tiếng Anh cho biết hôm 4 tháng 7 năm 2020. Sắc lệnh hành pháp của ông cho lực lượng mới 60 ngày để đệ trình các kế hoạch, gồm địa điểm, cho khu vườn này. Ông nhấn mạnh đến các tượng mới phải giống như thật, “không trườu tượng hay hiện đại.” Nhiều tượng Hoa Kỳ đã được kéo sập kể từ vụ cảnh sát giết chết một người đàn ông da đen vô danh, George Floyd trong tháng 5.
Tổng Thống Donald Trump đã đánh dấu Ngày Độc Lập bằng việc cam kết đánh bại thành phần “cực tả” và tự hào vể việc giải quyết vi khuẩn corona của ông, ngay dù các trường hợp bị nhiễm dịch bệnh đã lên cao điểm tại Hoa Kỳ, theo bản tin hôm 4 tháng 7 năm 2020 của báo mạng www.newsmax.com cho biết. Đô trưởng Washington thúc giục người dân tránh xa chỗ đốt pháo bông vào buổi tối và biểu diễn máy bay quân sự trên bầu trời để tránh lây lan dịch bệnh. Trump, phát biểu nơi Vườn Cỏ Phía Nam của Tòa Bạch Ốc, đã nhắc lại các chủ đề mà ông phát biểu tại South Dakota một ngày trước, bằng việc đả kích những người biểu tình kéo sập các tượng của một số nhân vật lịch sử và những biểu tượng khác mà họ nói ca tụng sự bất công chủng tộc.
Nhà xuất bản sách của Bolton, chắc sẽ nhận được khoản thu nhập lớn. Riêng Bolton, chưa chắc đã giữ được hai triệu đô la nhuận bút, nếu bị thua kiện vì đã không tôn trọng một số hạn chế trong quy định dành cho viên chức chính quyền viết sách sau khi rời chức vụ. Điều này đã có nhiều tiền lệ. Là một luật gia, chắc chắn Bolton phải biết. Quyết định làm một việc hệ trọng, có ảnh hưởng tới đại sự, mà không nắm chắc về kết quả tài chính, không phải là người hành động vì tiền. Hơn nữa, nếu hồi ký của Bolton có thể giúp nhiều người tỉnh ngộ, nhìn ra sự thật trước tình hình đất nước nhiễu nhương, thì cũng có thể coi việc làm của ông là thái độ can đảm, được thúc đẩy bởi lòng yêu nước. Không nên vội vàng lên án Bolton, khi ông từ chối ra làm chứng trước Hạ Viện, nếu không bị bắt buộc. Nếu có lệnh triệu tập, ông đã tuân theo. Không có lệnh, ông không ra, vì thừa biết, với thành phần nghị sĩ Cộng Hòa hiện tại, dù ra làm chứng, ông cũng chẳng thay đổi được gì. Dân Biểu Schiff nói: “John Bolton,
Thưở sinh thời – khi vui miệng – có lần soạn giả Nguyễn Phương đã kể lại lúc đưa đám cô Năm Phỉ, và chuyện ông Chín Trích đập vỡ cây đàn: “Ngày cô Năm Phỉ mất, người đến viếng tang nghe nhạc sĩ Chín Trích đàn ròng rã mấy ngày liên tiếp bên quan tài… Ông vừa đờn vừa khóc. Đến lúc động quan, trước khi đạo tỳ đến làm lễ di quan, nhạc sĩ Chín Trích đến lậy lần chót, ông khóc lớn:’ Cô Năm đã mất rồi, từ nay Chín Trích sẽ không còn đờn cho ai ca nữa…’ Nói xong ông đập vỡ cây đờn trước quan tài người quá cố. “Việc xảy quá đột ngột và trong hoàn cảnh bi thương của kẻ còn đang khóc thương người mất, mọi người im lặng chia sẻ nỗi đau của gia đình người quá cố và của nhạc sĩ Chín Trích. Khi hạ huyệt thì người nhà của cô Năm Phỉ chôn luôn cây đàn gãy của nhạc sĩ Chín Trích xuống mộ phần của cô Năm Phỉ.” (Thời Báo USA, số 321, 18/02/2011, trang 67)
Trong khi người Mỹ đang bước vào cuối tuần Lễ Độc Lập trong cái bóng của đại dịch vi khuẩn corona tàn phá, một số thống đốc đang suy nghĩ lại về lập trường đeo khẩu trang sau nhiều ngày lây nhiễm cao kỷ lục, theo bản tin CNN cho biết hôm Thứ Sáu, 3 tháng 7. Hôm Thứ Sáu, Hoa Kỳ báo cáo 39,736 trường hợp bị lây Covid-19, một ngày sau khi kỷ lục mới nhất trong một ngày được ghi nhận với hơn 52,000 trường hợp hôm Thứ Tư. Hơn 2 tháng sau đợt cao điểm lần đầu đã ảnh hưởng một số tiểu bang, vi khuẩn hiện đang tăng trở lại khắp Miền Nam và Miền Tây Nam Hoa Kỳ. Cơ Quan CDC dự đoán sẽ có 148,000 người thiệt mạng tại Mỹ vào cuối tháng này.
Tổng Thống và Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump có mặt tại Đài Tưởng Niệm Quốc Gia Mount Rushmore National Memorial hôm Thứ Sáu, 3 tháng 7 để làm lễ ăn mừng sớm Lễ Độc Lập được dự kiến sẽ có khoảng 7,500 người tham dự, theo bản tin của CNN cho biết. “Chúng tôi đã nói với những người có liên quan rằng họ có thể ở nhà, nhưng những ai muốn đến và tham gia cùng chúng tôi, chúng tôi sẽ tặng khẩu trang miễn phí nếu họ chọn đeo,” theo Thống Đốc Cộng Hòa Kristi Noem nói với Fox News. Nhà phân tích y tế của CNN là Bác Sĩ Celine Gounder nói rằng tổ chức sự kiện như thế trong thời đại dịch là “còn hơn vô trách nhiệm.”
Hải Quân Hoa Kỳ đưa 2 hàng không mẫu hạm và nhiều tàu chiến tháp tùng tới Biển Đông trong những ngày kế tiếp để tham dự một cuộc tập trận, theo các viên chức Hải Quân Hoa Kỳ cho biết hôm Thứ Sáu, 3 tháng 7 năm 2020. Cuộc tập trận đã định từ lâu nhưng đến cùng lúc các cuộc tập trận của TQ gần Quần Đảo Hoàng Sa, mà đã bị Hoa Kỳ và nhiều nước khác chỉ trích. Báo The Wall Street Journal tường trình đầu tiên về việc các hàng không mẫu hạm tham dự vào cuộc tập trận sắp tới. “Mỹ đồng ý với các nước bạn hữu Đông Nam Á rằng: Cuộc tập trận của Trung Quốc trong các vùng biển tranh chấp của Biển Đông là khiêu khích cao độ. Chúng tôi chống lại các tuyên bố chủ quyền phi pháp của Bắc Kinh,” theo Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ Mike Pompeo viết Twitter cho biết hôm Thứ Sáu.
Hằng năm thành phố Montreal, Canada đều có tổ chức nhiều cuộc lễ hội quốc tế về thể thao. Marathon International de Montreal là một môn chạy dua dai sức quy tụ cả ngàn người đến từ khắp thế giới. Từ người trẻ tuổi đến các cụ ông cụ bà còn gân đều có thể tham dự. . .
Đai sứ Mỹ, Daniel Krintenbrink, phát biểu chiều ngày 2/7 tại Hà Nội, nhân kỷ niệm 25 năm binh thường hóa quan hệ ngoại giao Việt-Mỹ: “Washington sẽ triển khai các hoạt động ngoại giao, hàng hải, và quân sự để bảo đảm hòa bình, ổn định Biển Đông”. Đại Sứ Kritenbrink cho hay, Mỹ sẽ triển khai các hoạt động theo 3 hướng: 1- Tăng hoạt động ngoại giao với các nước trong khu vực, trong đó có ASEAN. 2- Hỗ trợ các nước tăng cường hàng hải, để bảo vệ lợi ích của mình. 3- Phát triển năng lực quân sự Mỹ, trong đó có các hoạt động bảo vệ hàng hải.
Ban Phục Vụ Cộng Đồng Thành phố Garden Grove giới thiệu chương trình Preschool ‘Kare Bears’ niên khoá Mùa Thu/Mùa Đông 2020 cho các em nhỏ từ 3-4 tuổi, nhằm giúp các em có chuẩn bị trước khi vô học mẫu giáo. Các lớp sẽ bắt đầu ghi danh vào ngày Thứ Tư, 8 tháng Bảy, 2020, lúc 6:00 giờ chiều. Để đủ điều kiện, trẻ em phải biết tự đi vệ sinh và đủ 3 tuổi trước ngày 1 tháng Chín năm 2020. Việc đăng ký ghi danh sẽ qua hệ thống xổ số trực tiếp, được đặt tại Trung tâm Hội nghị Cộng đồng Garden Grove, tại 11300 Stanford Avenue.
Ngày 02/07/2020, Đài Deutsche Welle (Làn sóng Đức, DW) đã có bài về tình trạng đàn áp những tiếng nói chỉ trích chính phủ trong thời gian trước Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam. Đài DW đã nêu trường hợp ông Nguyễn Bắc Truyển và vợ là bà Bùi Thị Kim Phượng làm điển hình cho tình trạng của các tù nhân chính trị và chính sách „phạt cả đám“ của Việt Nam. Trong bài, Hiệp định Thương mại Tự do và vai trò Chủ tịch của Hội đồng EU của chính phủ Đức được xem là một trong những đòn bẩy trong việc cải thiện tình trạng nhân quyền Việt Nam.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.