Hôm nay,  

Văn Phong và Kinh Phật

08/10/202605:27:00(Xem: 460)
blank

Văn Phong và Kinh Phật
 

Nguyên Giác

Nói về chữ "văn phong" hẳn là có những định nghĩa rất mực uyên bác trong sách vở. Một thời tôi đã từng học những thứ rất phức tạp trong các chứng chỉ Triết học, và bây giờ tôi đã quên sạch. Trong đầu tôi không còn chữ nào (không phải là vô niệm, như kiểu các Thiền sư nói; mà thực tế là vô tự, tức là không có chữ nào hiện lên trong tâm, và tôi không nhớ tôi đã tu tập kiểu nào mà lại ra như thế). Tôi cũng không phải chuyên gia về ngữ học. Nơi đây tôi chỉ muốn nói theo kiểu rất mực học trò thời mới lớn (may ra còn vài chữ), rằng văn phong là cái giọng mình nhận ra sau một cuộc nói chuyện với một ai đó. Thí dụ, bạn nhớ rằng hồi sáng, bạn nói chuyện gì đó với một thiếu nữ trên chuyến xe buýt, rồi bạn nhớ tới giọng Huế của cô này, tiếng cô cười dòn tan và dịu dàng khi từ biệt xuống trạm. Đọc một cuốn sách cũng thế, khi bạn gấp sách lại, bạn sẽ nhớ tới giọng riêng của từng tác giả và không khí truyện. Thí dụ, văn phong trong truyện Bố Già hiển nhiên là khác với trong Hoàng Tử Bé.
 

Tôi lớn lên ở Sài Gòn của nhiều thập niên trước, trong một thời mà sách là cánh cửa mở ra những chân trời rộng lớn nhất. Hiển nhiên là cánh cửa duy nhất, vì đó là thời chưa có TV và Internet. Những năm trung học của tôi gắn liền với niềm vui đọc sách và một thú vui đặc biệt: đọc sách là lắng nghe, và nhận ra giọng điệu riêng của từng nhà văn, từng tác phẩm. Mỗi cuốn sách là một dòng sông văn học khác nhau để tôi ngụp lặn và tắm gội. Hôm nay tôi đắm mình trong sương khói thiên cổ kỳ bút rất Việt Nam trong Truyền Kỳ Mạn Lục của cụ đồ Nguyễn Dữ thời thế kỷ 16. Ngày mai tôi lại theo chân những mưu lược biến ảo của danh tác Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, ngạc nhiên trước truyện kể tài thao lược của các bậc anh hùng và quân sư Trung Hoa. Rồi một ngày khác, các trang giấy đưa tôi bay theo những chuyến phiêu lưu thần kỳ trong Tây Du Ký của tác giả Ngô Thừa Ân, say mê trước trí thông minh, sự nghịch ngợm và năng lực biến hóa vô tận của Tôn Ngộ Không, một kiểu Phật tử rất là ngang bướng (À ha, tôi nhớ rồi, nhớ rằng chữ “vô tự” nằm trong phần cuối truyện này; hóa ra mình vô tình chôm chữ này của người xưa). Và không thể thiếu những đêm dài cùng các trang truyện võ hiệp của  Kim Dung, nơi giang hồ, nghĩa khí, tình yêu và lý tưởng bụi đời hòa quyện thành một thế giới vừa thực vừa mộng. Từ rất sớm, tôi đã học được rằng văn chương không chỉ kể chuyện mà còn có một âm vang riêng của một thế giới của chữ; và niềm vui của tôi trong khi đọc là lắng nghe.
 

Vậy đó, tôi lớn lên theo các trang sách thời đi học, nơi mỗi tác phẩm là một dòng sông có tiếng nói riêng, mang một màu nước trong trẻo riêng và có những nhịp chảy khác biệt. Tói đã lắng nghe tiếng thì thầm riêng của mỗi dòng sông. Truyện Kiều của Nguyễn Du là dòng sông lấp lánh ánh trăng, vừa đẹp đẽ vừa man mác buồn. Câu thơ uyển chuyển, tinh tế, thấm đẫm nỗi đau nhân thế khiến người đọc như nghe tiếng lòng của những kiếp người trôi nổi. Về sau, tôi ngờ vực cụ Nguyễn Du muốn viết văn phản chiến vì gia đình họ Nguyễn và gia đình bên vợ đều tòng quân theo hai chiến tuyến kình nhau của phò và chống Tây Sơn, nhưng cụ Nguyễn cứ phải làm thơ lục bát loanh quanh về cô Kiều vì sơ suất là sẽ bị chém đầu ba họ. Rồi văn phong ngậm ngùi trong Chinh Phụ Ngâm qua tài dịch của Đoàn Thị Điểm lại là dòng sông của nhớ thương và cô quạnh, với những làn sóng cảm xúc dạt dào, nơi tiếng lòng của người chinh phụ ngân lên như khúc nhạc buồn không dứt. Trong khi đó, truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu mang vẻ mộc mạc và khỏe khoắn như một con sông phương Nam. Văn phong giản dị, chân thành, đề cao nghĩa khí và đạo làm người, làm lòng người trẻ thêm tin yêu những điều ngay thẳng.

Đối với một cậu học trò mê đọc sách, được đi từ dòng sông tài hoa của Nguyễn Du sang dòng sông bi cảm của Đoàn Thị Điểm, rồi đến dòng sông nghĩa hiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một niềm vui lớn. Chính từ những chuyến du hành ấy, tôi bắt đầu nhận ra rằng văn chương không chỉ kể những câu chuyện khác nhau, mà còn cất lên những giọng nói khác nhau của tâm hồn dân tộc.
 

Thế rồi, trong làn sóng học Phật các năm cuối thập niên 1960s, cậu học trò tình cờ nhặt được bản dịch tiếng Việt mỏng manh của cuốn Tiểu Chỉ Quán. Tôi đã tự ngồi thiền trên căn gác gỗ tối lờ mờ, trong những lúc thư thả giữa các giờ học thi Tú Tài, ngỡ ngàng bước vào một thế giới hoàn toàn mới --- nơi của tịch lặng, êm đềm, tách biệt khỏi những ồn ào phố thị bên ngoài. Không còn là việc đọc những dòng chữ trên giấy, từng hơi thở ra vào tựa như từng trang sách ngát hương lặng lẽ của tâm mình. Đó là hạnh phúc thuần khiết, sâu thẳm mà tôi chỉ tới bên hàng hiên (hiển nhiên, chưa gọi là vào nhà, nói theo kiểu sách Thiền, may ra chỉ mới nhìn thấy vết chân trâu).

Khi bước chân vào đại học, thế giới đọc của tôi lại mở rộng thêm. Tôi đặc biệt yêu thích những tác phẩm dịch của Bùi Giáng. Trong các bản dịch của nhà thơ họ Bùi, ngôn ngữ Việt Nam bỗng trở nên phóng khoáng, tài hoa và đầy nhạc tính. Cùng lúc đó, tôi tìm thấy nơi các bản dịch của Ni sư Trí Hải một giọng văn sáng sủa, chuẩn xác và thấm đẫm tinh thần Phật học, giúp những tư tưởng sâu xa trở nên gần gũi và dễ tiếp cận.

Đó cũng là thời gian tôi khám phá những văn phong học thuật rất khác nhau. Nơi Giáo sư Nguyễn Văn Trung hay Lê Tôn Nghiêm, tôi gặp một lối lý luận mang đậm ảnh hưởng phương Tây: chặt chẽ, biện chứng, phân tích từng khái niệm đến tận nền tảng của nó. Đọc các tác giả ấy giống như bước vào một cuộc đối thoại triết học với những câu hỏi không ngừng được đặt ra và khảo sát.
 

Trong khi đó, nơi Linh mục Kim Định và Nguyễn Văn Thọ, tôi lại bắt gặp một thế giới tư tưởng đậm chất Đông phương. Các tác phẩm của họ không chỉ lập luận mà còn gợi mở, không chỉ phân tích mà còn dẫn người đọc trở về với những tầng sâu của văn hóa và trực giác. Tư tưởng hiện ra như một dòng chảy liên tục giữa triết học, lịch sử và tâm linh. Dù vậy, tôi ngờ vực về sự chính xác của lý luận Việt Nho và Triết Lý An Vi của LM Kim Định, có thể Thầy đã bác bỏ Hán Nho theo một kiểu quá nhiều suy đoán vì tự hào dân tộc Việt (?). Dĩ nhiên, hạnh phúc là tôi được học, được đọc quá nhiều, sau này tôi nghĩ tới hình ảnh cậu Thiện Tài Đồng Tử trong Nhập Pháp Giới của Kinh Hoa Nghiêm, phải đi học khắp giang hồ với 53 lần tham vấn. Dĩ nhiên, tôi không giỏi như thế, và cũng không có hạnh nguyện lớn như các vị trong Kinh.

Và rồi có những tác giả mang một giọng văn rất Việt Nam. Thầy Nhất Hạnh viết với sự trong sáng, bình dị nhưng thấm sâu vào lòng người như lời tâm tình bên tách trà; trong đó, Bông Hồng Cài Áo của Thầy là một đoản văn bất tử, dẫn tới ca khúc bất tử do Phạm Thế Mỹ phổ nhạc. Trong khi đó, nhà văn Hồ Hữu Tường lại đưa tôi đến những suy tư vừa dân tộc vừa nhân loại, vừa thực tế vừa lý tưởng; bất kỳ ai cũng phải suy nghĩ khi đọc Phi Lạc Sang Tàu của nhà văn học Hồ. Đọc các tác giả này, tôi nhận ra rằng tư tưởng không nhất thiết phải khoác chiếc áo hàn lâm; nó có thể cất tiếng bằng ngôn ngữ của làng xã, của lũy tre, của đời sống và của kinh nghiệm Việt Nam.
 

Nhìn lại, tôi thấy mình đã trưởng thành nhờ được tắm trong nhiều dòng sông văn học khác nhau. Mỗi tác giả, mỗi văn phong, mỗi truyền thống tư tưởng đã để lại một dấu ấn riêng. Và có lẽ món quà quý giá nhất mà việc đọc mang lại là khả năng nhận ra vẻ đẹp của sự đa dạng, đồng thời nuôi dưỡng lòng biết ơn đối với tất cả những người đã làm giàu cho đời sống tinh thần của mình qua từng trang sách.

Khi rời Việt Nam để sống nơi hải ngoại, tôi lại bước vào một dòng sông khác của đời mình: dòng sông kinh điển Phật giáo. Những năm tháng miệt mài đọc kinh trên SuttaCentral đã mở ra trước mắt tôi một thế giới vừa cổ kính vừa tươi mới. Các bản kinh Nikāya hiện lên với giọng văn giản dị, trực chỉ, sáng trong như nước nguồn. Ở đó không có những lớp trang sức của văn chương, nhưng từng câu, từng đoạn đều mang một sức mạnh đặc biệt, đưa người đọc trở về với sự tỉnh thức của hiện tại.
 

Trong khi làm báo, viết truyện ngắn (dĩ nhiên, mỗi năm phải viết một truyện tình rất mực lâm ly bi đát cho báo Xuân), làm thơ, và viết về Phật giáo nhiều thập niên qua, tôi nhận ra rằng không có dòng sông văn học nào thực sự rời khỏi mình. Các dòng sông vẫn lặng lẽ chảy trong từng trang viết. Có lúc, trong những đoạn văn đầy cảm thức về thân phận con người, tôi bắt gặp thấp thoáng dư âm của Nguyễn Du. Đó là sự cảm thông đối với những nỗi khổ niềm đau của kiếp người, là cái nhìn dịu dàng nhưng không né tránh sự thật. Khi viết về những biến động của xã hội hay những cuộc đời lưu lạc, dường như dòng nước của Truyện Kiều vẫn còn ngân vang đâu đó.

Có lúc, những bài báo hay khảo luận của tôi lại mượn thêm giọng lưỡi sắc bén của Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, với thói quen nhìn sự việc từ nhiều góc độ, khảo sát động cơ, nhân duyên và bối cảnh đằng sau các sự kiện. Không phải để bày trò mưu lược, mà để thấy như kiểu các thầy bàn nhìn thấy từ vô số điều kiện chằng chịt. Từ Tây Du Ký, có lẽ tôi học được tinh thần lên đường. Bên dưới nhiều bài viết Phật giáo vẫn thấp thoáng hình ảnh người lữ hành không ngừng vượt núi băng sông để tìm chân lý. Hành trình đến Tây Trúc của Đường Tăng và hành trình đi tìm tự tâm của người học Phật, xét cho cùng, đều là những cuộc viễn du. Thế rồi, chữ “vô tự” (không một chữ nào hiện ra trong tâm) thường trực ở với tôi (cũng có thể, vì tôi thường ngồi uống trà với Thầy Thường Chiếu ở Đồng Ông Cộ và nhiễm thói quen lặng lẽ của Thầy). Trong khi đó, từ Kim Dung, tôi nhận được tình yêu đối với con người. Trong thế giới võ hiệp, thiện và ác rất hiếm khi hoàn toàn tách biệt; con người luôn phức tạp, vừa đáng trách vừa đáng thương.
 

Còn từ kinh Phật, đặc biệt là các bản kinh Nikāya, tôi học được sự giản dị của ngôn ngữ. Sau tất cả những vẻ đẹp của văn chương, điều còn lại là nói cho rõ sự thật, nói bằng tâm từ bi, và viết để giúp người đọc bớt khổ đau hơn một chút.

Nhìn lại cả hành trình, tôi thấy mình như một người đã đi qua nhiều dòng sông. Có dòng sông Việt Nam, có dòng sông Trung Hoa, có dòng sông tư tưởng Đông phương và Tây phương, có dòng sông kinh điển Phật giáo. Tất cả đã gặp nhau trong đời sống chữ nghĩa của tôi. Không một nguồn nước nào là vô ích. Mỗi ngụm nước đã nuôi lớn một phần tâm hồn, mỗi dòng sông đã để lại một chút phù sa trong văn phong và suy nghĩ của tôi. Vì thế, khi cầm bút hôm nay, tôi chỉ còn một cảm xúc đơn giản: lòng biết ơn. Biết ơn những tác giả đã viết, những dịch giả đã chuyển ngữ, những bậc thầy đã khai mở con đường, và biết ơn tất cả những nguồn nước văn học, tư tưởng và tâm linh mà tôi đã có duyên được uống trong suốt cuộc đời mình.

Thói quen mê đọc của tôi hạnh phúc nhất là từ khi có điện thoại di động. Tôi ngả lưng xuống giường, chuẩn bị ngủ là mở điện thoại ra đọc Kinh Phật qua các trang Accesstoinsight, SuttaCentral...  Kinh Phật cũng có nhiều văn phong khác nhau. Đức Phật thuyết pháp cho nhiều hạng người nghe khác nhau, do vậy văn phong chuyển biến khác nhau.
 

Vào thời Đức Phật, Ấn Độ chưa có kỹ thuật in ấn. Kinh điển được truyền miệng từ thầy sang trò. Phần đông dân chúng, đặc biệt là phụ nữ, nông dân và thợ rừng, không biết đọc biết viết. Vì vậy, khi giảng dạy cho những người nghe này, Đức Phật nói bằng lời đơn giản, dễ nhớ và dễ thuộc lòng. Văn phong dễ hiểu này nổi bật là Kinh Pháp Cú (Dhammapada). Mỗi bài kệ chỉ gồm vài câu ngắn, dùng hình ảnh quen thuộc như hoa, nước, ngựa, người chăn bò hoặc bóng theo hình. Các bài kệ thường đi sau một sự tích, trình bày một ý đạo đức rõ ràng: tránh điều ác, làm việc lành, giữ tâm trong sạch. Người nghe chỉ cần nghe vài lần là có thể ghi nhớ.

Tương tự, văn phong dễ hiểu cũng là nhóm 112 kinh trong nhóm Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Đây là những lời dạy được nữ cư sĩ Khujjuttarā ghi nhớ rồi đọc lại cho năm trăm cung nữ của hoàng hậu Sāmāvatī. Nghe kinh không phải là các học giả Bà La Môn mà là những phụ nữ (có lẽ ít học) trong cung đình mong muốn tu tập. Vì vậy, các bài kinh thường ngắn gọn, mở đầu bằng câu “Đức Thế Tôn đã nói như vậy”, sau đó trình bày một giáo lý đơn giản rồi kết bằng một bài kệ tóm tắt. Văn phong rất ít lý luận.

Trong khi đó, nhóm Kinh Nhật Tụng thời Đức Phật sinh tiền lại có văn phong rất khó; đó là hai phẩm cuối của Kinh Tập trong Tiểu Bộ. Hai phẩm cuối của Kinh Tập (Sutta Nipāta) là Phẩm Tám (Aṭṭhakavagga) và Phẩm Con Đường Đến Bờ Kia (Pārāyanavagga) có văn phong rất cô đọng và khó hiểu. Nhiều học giả xem đây là nhóm văn học cổ nhất của Phật giáo. Những người nghe pháp trong hai phẩm này là các đạo sĩ và Bà La Môn trí thức. Họ đã được đào tạo nhiều năm về triết học, nghi lễ tế tự và biện luận. Vì vậy, Đức Phật không chỉ dạy những nguyên tắc đạo đức căn bản mà còn bàn đến những vấn đề rất sâu sắc như chấp thủ, tà kiến, bản ngã và sự giải thoát tối hậu. Và trong văn phong đó là những dòng thơ có cú pháp rất khó, ít dùng. Nhóm 36 vị Bà La Môn sau khi đối thoại ở hai phẩm này đều chứng quả A La Hán ngay khi kinh thuyết xong.
 

Trong nhóm Kinh Tập đó, một trong những kinh làm tôi kinh ngạc sâu xa là Kinh Snp 4.9, Kinh Māgandiya Sutta. Khi đọc lời Đức Phật dạy về đừng nắm giữ kiến chấp, đừng bám víu vào cái được thấy, được nghe, được nghĩ tưởng, tôi luôn luôn nhớ tới thời mới học Phật ở Việt Nam khi nghiền ngẫm Bát Nhã Tâm Kinh. Dù văn phong khác nhau, Snp 4.9 là ngôn ngữ cổ xưa, văn phong của cú pháp rất mực phức tạp từ Pali, một bên là lời rất mực cô đọng, âm vang đọc theo âm Hán-Việt khẳng định như sấm sét, nhưng cả hai đều dường như chỉ về cùng một hướng: buông bỏ sự nắm bắt đối với mọi khái niệm và mọi hình bóng của tâm.

Lúc ấy, tôi chợt nhìn lại cuộc đời đọc sách của mình. Từ Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên, đến Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, Tây Du Ký, truyện võ hiệp của Kim Dung, Tiểu Chỉ Quán của nhà Thiền, rồi những trước tác triết học Đông Tây và kinh điển Phật giáo, tất cả dường như là những dòng sông khác nhau. Mỗi dòng sông là một thế giới văn học riêng.
 

Nhưng càng đi xa, tôi càng thấy các dòng sông ấy đều xuôi về một biển lớn. Dòng chảy siết là vô thường để rồi sẽ hòa vào nhau là một tánh nước, đó là vô ngã, nơi không có gì gọi là tôi hay của tôi, nơi không dòng sông nào tách biệt nữa. Tất cả đều cùng một tánh nước. Khi các dòng sông hòa vào biển lớn, nơi đó, nước chính là Tánh Không, vì không dòng sông nào tách riêng nữa. Khi chữ đã vào biển lớn, chữ sẽ không còn nữa, đó là trang sách của Vô Tự Chân Kinh, khi không còn chữ nào bám vào tâm nữa. Và thực sự, rất nhiều ngày tôi cũng tự thấy không có một tâm nào hiện ra để cho chữ bám vào. Phải chăng, đó là cốt tủy của Tâm Kinh. Xin nói rằng, tôi không biết. Nhưng chuyện này sẽ nói sau. Nghĩa là, xin chờ hồi sau sẽ rõ.
 

THAM KHẢO:

Kinh Snp 4.9: https://suttacentral.net/snp4.9/en/mills    

 



Quân đội Mỹ đang triển khai những con số “chưa từng có” tới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, làm tăng nguy cơ xảy ra đụng độ với hải quân Trung Quốc, theo một quan chức cấp cao của Trung Quốc cho biết hôm Thứ Ba, 23 tháng 6. Các căng thẳng giữa hai siêu cường đã tăng vọt trên nhiều mặt trận kể từ khi Tổng Thống Donald Trump nhậm chức năm 2017, với cả hai nước nắn gân ngoại giao và quân sự. Các hoạt động “tự do hàng hải” thường xuyên của Hoa Kỳ ở Biển Đông - nơi Trung Quốc và các nước láng giềng có tranh chấp – làm tức giận Bắc Kinh, và hải quân Trung Quốc thường cảnh báo tàu Mỹ.
Bất chấp các viên chức y tế công cộng hàng đầu của quốc gia mâu thuẫn với ông, Tổng Thống Donald Trump vẫn tiếp tục khẳng định vi khuẩn corona “đang biến mất” - khi ông tiếp tục thúc đẩy các tiểu bang mở lại nền kinh tế của họ và đẩy mạnh vận động tái tranh cử của ông. Ngay cả khi chuyên gia hàng đầu của chính phủ về bệnh truyền nhiễm, Bác Sĩ Anthony Fauci cảnh báo các nhà lập pháp hôm Thứ Ba về sự cần thiết phải tiếp tục hoặc tăng các biện pháp phòng ngừa mạnh mẽ để ngăn chặn cái mà ông gọi là “sự gia tăng đáng lo ngại,” Trump, phát biểu tại một nhà thờ lớn ở tiểu bang nóng Arizona có rất nhiều người ủng hộ không đeo mặt nạ, bác bỏ những lo ngại về COVID-19. “Nó đang đi khỏi,” ông Trump nói thế, gọi vi khuẩn corona “tai họa” và lập đi lập lại rằng sự gia tăng các trường hợp lây nhiễm vi khuẩn corona tại Hoa Kỳ có thể là do gia tăng thử nghiệm.
Trong khi thế giới vật lộn với đại dịch COVID-19 đang diễn ra, một nghiên cứu mới cho thấy các kháng thể - protein được tạo ra bởi hệ thống miễn nhiễm có thể bảo vệ chống tái nhiễm trùng - có thể mờ dần ít nhất 2 tháng sau khi bị nhiễm ở một số người đã bình phục từ vi khuẩn. Nghiên cứu được thực hiện tại TQ và được phổ biến trên tạp chí Nature Medicine. Đặc biệt, các tác giả của nghiên cứu phát hiện ra rằng những người bị lây Covid-19 mà chưa bao giờ phát triển các triệu chứng thì có thể thấy kháng thể của họ mờ nhạt nhanh hơn những người đã thử nghiệm dương tính đối với vi khuẩn và cũng giảm theo các triệu chứng của nó.
Các nhà hoạt động tại VN gồm Cấn Thị Thiêu và 2 người con trai là Trịnh Bá Phương và Trịnh Bá Tư, bà Nguyễn Thị Tâm, Trịnh Cẩm Thúy đã bị công an CSVN bắt tại nhiều nơi khác nhau ở VN hôm 24 tháng 6 năm 2020, theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) cho biết hôm Thứ Tư.
Sau 95 năm gào cùng một giọng nền Báo chí gọi là “cách mạng” của đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) vẫn trơn tru uốn lưỡi phóng ra câu giả dối rằng:”Tự do ngôn luận, tự do báo chí là những quyền cơ bản của con người đã được Việt Nam cam kết thực hiện theo những nguyên tắc chung của Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền.” (báo Quân đội Nhân dân (QĐND), ngày 15/6/2020). Điều không thật này đã được Ban Tuyên giáo, tổ chức tuyên truyền và chỉ huy báo chí-truyền thông sử dụng từ lâu, nay được lập lại để kỷ niệm 95 năm ngày gọi là “Báo chí cách mạng Việt Nam” (21/6/1925-21/6/2020).
Khi các tường trình đưa ra về cách Tổng Thống Trump đã “xin” Chủ Tịch Tập của Trung Quốc giúp đỡ trong việc cạnh tranh tái đắc cử của Trump, báo cáo mới từ báo Wall Street Journal cho thấy chồng của bà Michelle Steel, ứng cử viên Quốc Hội của Quận Cam, là trung tâm của vụ tai tiếng đối với việc làm của ông để mở ra cánh cửa cho những người có quốc tịch Trung Quốc đưa hàng trăm ngàn đóng góp chính trị cho các nỗ lực tái tranh cử của Trump và Ủy Ban Quốc Gia Đảng Cộng Hòa (RNC). Theo báo Journal, ra ngày 23 tháng 6 năm 2020, hàng trăm ngàn đóng góp chính trị đến từ những người ngoại quốc có quốc tịch TQ là những người đã có mối quan hệ chặt chẽ với bộ máy an ninh quốc gia và chính quyền trung ương TQ. Những đóng góp này cũng nằm trong số lớn nhất đối với việc tái đắc cử của Trump năm 2017 và được thực hiện vào thời điểm Chính Phủ Trump đang có kế hoạch cho chính sách đối với TQ.
Cố vấn y tế của Bạch Ốc là Bác Sĩ Anthony Fauci hôm Thứ Ba, 23 tháng 6 nói rằng nhiều vùng của nước Mỹ đang chứng kiến “sự gia tăng mạnh” trong truyền nhiễm vi khuẩn corona. Trong khi tiểu bang New York đang thấy sự sút giảm của các trường hợp bị lây Covid-19, các tiểu bang khác đang chứng kiến sự gia tăng các trường hợp mà “phản ánh sự gia tăng trong lây lan cộng đồng,” theo BS Fauci, giám đốc Viện Dị Ứng Và Bệnh Truyền Nhiễm Quốc Gia, đã nói trong phiên điều trần trước Ủy Ban Năng Lượng Và Thương Mại Hạ Viện. “Đó là điều mà tôi thực sự rất quan tâm.” Vi khuẩn corona, đã làm hơn 2.4 triệu người Mỹ mắc bệnh, tiếp tục lây lan nhanh chóng trên khắp Hoa Kỳ. Tính đến Thứ Hai, trung bình 7 ngày của Hoa Kỳ về các trường hợp lây nhiễm mới đã tăng hơn 30% so với một tuần trước, theo phân tích của CNBC đối với dữ liệu của Đại Học Johns Hopkins. Các trường hợp đang tăng từ 5% trở lên ở 26 tiểu bang, bao gồm Arizona, Texas, Florida và Oklahoma. Số người vào bệnh viện vì vi khuẩn corona cũng
Hàng chục cựu viên chức an ninh quốc gia của Đảng Cộng Hòa tại Hoa Kỳ đang thành lập một nhóm sẽ ủng hộ ứng cử viên tổng thống của Đảng Dân Chủ Joe Biden, theo những người quen thuộc với nỗ lực này cho biết, trong một dấu hiệu nữa cho thấy Tổng Thống Donald Trump đã xa lánh một số thành viên trong đảng của mình, theo bản tin của Reuters cho biết hôm Thứ Ba, 23 tháng 6. Nhóm này sẽ công khai ủng hộ Biden trong những tuần tới và các thành viên của nhóm lên kế hoạch tranh cử cho cựu phó tổng thống đang thách thức ông Trump trong cuộc bầu cử ngày 3 tháng 11, theo các nguồn tin cho biết. Nhóm này bao gồm ít nhất hai chục viên chức phục vụ dưới thời Tổng Thống Cộng Hòa Ronald Reagan, George H.W. Bush và George W. Bush, với hàng chục người khác đang thảo luận để tham gia, theo các nguồn tin cho biết thêm.
Bờ biển phía nam Mexico đã bị rung chuyển bởi một trận động đất mạnh vào sáng Thứ Ba, 23 tháng 6 năm 2020, giết chết ít nhất 5 người và gây ra cảnh báo sóng thần cho bờ biển Thái Bình Dương dọc theo Trung Mỹ. Cơ Quan Thăm Dò Địa Chất Hoa Kỳ (USGS) cho biết trận động đất có cường độ ban đầu là 7.4 và xảy ra lúc 11 giờ 29 sáng miền đông, 7 dặm về phía tây Santa María Zapotitlán, Mexico. Trận động đất có độ sâu khoảng 20 dặm và đã được tập trung dọc theo bờ biển Thái Bình Dương của tiểu bang Oaxaca gần khu nghỉ mát của Huatulco. Trận động đất được cảm nhận tới Guatemala và qua tận miền nam và miền trung Mexico.
Facebooker có tên “Giáo Sư Hớt Tóc” đã bị tòa án tỉnh Hòa Bình, miền Bắc VN tuyên án 6 năm tù vì bị buộc tội “phát tán thông tin chống nhà nước,” theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) cho biết hôm 23 tháng 6 năm 2020.
Văn hóa nước Tàu đã ảnh hưởng Việt Nam từ nhiều năm xưa, cho nên nhiều người lớn tuổi đã đọc truyện kiếm hiệp Kim Dung hay truyện Tàu đều biết danh từ Thủ Cung Sa là gì. Đó là một cái chấm bằng hột đậu màu đỏ trên cườm tay người con gái để chứng tỏ còn trinh trắng. Theo truyền thuyết thì người ta dùng máu con thằn lằn trộn với chu sa màu đỏ rồi bôi lên một huyệt vị trên cườm tay tạo nên chấm đỏ ấy. Khi người con gái đã quan hệ tình dục rồi thì chấm đỏ ấy nhạt dần. Thời xưa phong kiến thì xã hội coi trọng trinh tiết cho nên những gia đình quyền quí, những ông vua, ông quan, những tổ chức tôn giáo bên Tàu áp dụngThủ Cung Sa. Thời đại này chuyện trinh tiết không còn là vấn đề quan trọng nữa cho nên Thủ Cung Sa trở thành chuyện xưa tích cũ, kể cho nhau nghe làm quà câu chuyện.
Ngày 19 tháng 6 là ngày QLVNCH để lại cho tôi rất nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Cộng đồng VN tị nạn Cộng Sản ở khắp nơi trên thế giới đều tổ chức kỷ niệm ngày QLVNC , vì dịch cúm Covid-19 càng ngày càng lây lan cho nên đồng bào tổ chức kỷ niệm trong sự hạn chế của chánh phủ không tổ chức rần rần rộ rộ như mấy chục năm về trước. Tuy nhiên ban tổ chức cũng tổ chức theo nghi lễ, chào cờ, một phút mặc niệm để tưởng nhớ anh hùng tử sĩ đã hy sinh vì tổ quốc.
“Muốn chỉ một cá nhân nào đó, tùy theo giai cấp, tín ngưỡng, tùy theo lúc sống hay chết, tùy theo già hay trẻ, người Việt Nam có rất nhiều tên để gọi. Ngôn ngữ Việt có những từ sau đây chỉ các loại tên: bí danh, bút hiệu, nhũ danh, nghệ danh, pháp danh, pháp tự, pháp hiệu, tên, tên cái, tên đệm, tên họ, tên gọi, tên chữ, tên cúng cơm, tên hèm, tên hiệu, tên húy, tên riêng, tên thánh, tên thụy, tên tục, tên tự, thương hiệu.” (Ngưng trích: Nguyễn Long Thao- DANH XƯNG ĐẶC BIỆT CỦA THƯỜNG DÂN VIỆT NAM)
Nam Hàn đang ở giữa “đợt sóng thứ hai” của truyền nhiễm vi khuẩn corona, theo các viên chức y tế cho biết hôm Thứ Hai, 22 tháng 6 năm 2020. Cho đến nay, đất nước này đã được ca ngợi là câu chuyện thành công vì đã giải quyềt đại dịch vi khuẩn. Tuy nhiên, Trung Tâm Kiểm Soát Dịch Bệnh Nam Hàn (KCDC) cho biết hôm Thứ Hai rằng sự gia tăng các trường hợp mới báo hiệu một làn sóng thứ hai ở thủ đô Seoul. Bộ Trưởng Y Tế Park Neung-hoo cho biết 90 trường hợp bị lây bệnh đã được xác định trong tuần qua, tăng mạnh so với 48 tuần trước. Ông nói rằng, “Chính phủ phải đối mặt với một tình huống nghiêm trọng vì các viên chức y tế không chỉ cần ngăn chặn các bệnh lây truyền tại địa phương, mà còn giải quyết các trường hợp nhập cảng.”
Chính phủ Trump đã đưa ra một loạt các hạn chế mới đối với việc cấp visa cho phép di dân làm việc tạm thời tại Hoa Kỳ, đánh dấu nỗ lực mới nhất nhằm ngăn chặn di dân vào nước này, theo bản tin CNN cho biết hôm Thứ Hai, 22 tháng 6 năm 2020. Các giới hạn mới là một phần trong nỗ lực phối hợp để lấy lại việc cấp visa cho người nước ngoài do tình trạng thất nghiệp cao ở Mỹ vì đại dịch vi khuẩn corona, theo một viên chức cao cấp của chính quyền nói với các phóng viên hôm Thứ Hai.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.