Hôm nay,  

Văn Phong và Kinh Phật

08/10/202605:27:00(Xem: 474)
blank

Văn Phong và Kinh Phật
 

Nguyên Giác

Nói về chữ "văn phong" hẳn là có những định nghĩa rất mực uyên bác trong sách vở. Một thời tôi đã từng học những thứ rất phức tạp trong các chứng chỉ Triết học, và bây giờ tôi đã quên sạch. Trong đầu tôi không còn chữ nào (không phải là vô niệm, như kiểu các Thiền sư nói; mà thực tế là vô tự, tức là không có chữ nào hiện lên trong tâm, và tôi không nhớ tôi đã tu tập kiểu nào mà lại ra như thế). Tôi cũng không phải chuyên gia về ngữ học. Nơi đây tôi chỉ muốn nói theo kiểu rất mực học trò thời mới lớn (may ra còn vài chữ), rằng văn phong là cái giọng mình nhận ra sau một cuộc nói chuyện với một ai đó. Thí dụ, bạn nhớ rằng hồi sáng, bạn nói chuyện gì đó với một thiếu nữ trên chuyến xe buýt, rồi bạn nhớ tới giọng Huế của cô này, tiếng cô cười dòn tan và dịu dàng khi từ biệt xuống trạm. Đọc một cuốn sách cũng thế, khi bạn gấp sách lại, bạn sẽ nhớ tới giọng riêng của từng tác giả và không khí truyện. Thí dụ, văn phong trong truyện Bố Già hiển nhiên là khác với trong Hoàng Tử Bé.
 

Tôi lớn lên ở Sài Gòn của nhiều thập niên trước, trong một thời mà sách là cánh cửa mở ra những chân trời rộng lớn nhất. Hiển nhiên là cánh cửa duy nhất, vì đó là thời chưa có TV và Internet. Những năm trung học của tôi gắn liền với niềm vui đọc sách và một thú vui đặc biệt: đọc sách là lắng nghe, và nhận ra giọng điệu riêng của từng nhà văn, từng tác phẩm. Mỗi cuốn sách là một dòng sông văn học khác nhau để tôi ngụp lặn và tắm gội. Hôm nay tôi đắm mình trong sương khói thiên cổ kỳ bút rất Việt Nam trong Truyền Kỳ Mạn Lục của cụ đồ Nguyễn Dữ thời thế kỷ 16. Ngày mai tôi lại theo chân những mưu lược biến ảo của danh tác Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, ngạc nhiên trước truyện kể tài thao lược của các bậc anh hùng và quân sư Trung Hoa. Rồi một ngày khác, các trang giấy đưa tôi bay theo những chuyến phiêu lưu thần kỳ trong Tây Du Ký của tác giả Ngô Thừa Ân, say mê trước trí thông minh, sự nghịch ngợm và năng lực biến hóa vô tận của Tôn Ngộ Không, một kiểu Phật tử rất là ngang bướng (À ha, tôi nhớ rồi, nhớ rằng chữ “vô tự” nằm trong phần cuối truyện này; hóa ra mình vô tình chôm chữ này của người xưa). Và không thể thiếu những đêm dài cùng các trang truyện võ hiệp của  Kim Dung, nơi giang hồ, nghĩa khí, tình yêu và lý tưởng bụi đời hòa quyện thành một thế giới vừa thực vừa mộng. Từ rất sớm, tôi đã học được rằng văn chương không chỉ kể chuyện mà còn có một âm vang riêng của một thế giới của chữ; và niềm vui của tôi trong khi đọc là lắng nghe.
 

Vậy đó, tôi lớn lên theo các trang sách thời đi học, nơi mỗi tác phẩm là một dòng sông có tiếng nói riêng, mang một màu nước trong trẻo riêng và có những nhịp chảy khác biệt. Tói đã lắng nghe tiếng thì thầm riêng của mỗi dòng sông. Truyện Kiều của Nguyễn Du là dòng sông lấp lánh ánh trăng, vừa đẹp đẽ vừa man mác buồn. Câu thơ uyển chuyển, tinh tế, thấm đẫm nỗi đau nhân thế khiến người đọc như nghe tiếng lòng của những kiếp người trôi nổi. Về sau, tôi ngờ vực cụ Nguyễn Du muốn viết văn phản chiến vì gia đình họ Nguyễn và gia đình bên vợ đều tòng quân theo hai chiến tuyến kình nhau của phò và chống Tây Sơn, nhưng cụ Nguyễn cứ phải làm thơ lục bát loanh quanh về cô Kiều vì sơ suất là sẽ bị chém đầu ba họ. Rồi văn phong ngậm ngùi trong Chinh Phụ Ngâm qua tài dịch của Đoàn Thị Điểm lại là dòng sông của nhớ thương và cô quạnh, với những làn sóng cảm xúc dạt dào, nơi tiếng lòng của người chinh phụ ngân lên như khúc nhạc buồn không dứt. Trong khi đó, truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu mang vẻ mộc mạc và khỏe khoắn như một con sông phương Nam. Văn phong giản dị, chân thành, đề cao nghĩa khí và đạo làm người, làm lòng người trẻ thêm tin yêu những điều ngay thẳng.

Đối với một cậu học trò mê đọc sách, được đi từ dòng sông tài hoa của Nguyễn Du sang dòng sông bi cảm của Đoàn Thị Điểm, rồi đến dòng sông nghĩa hiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một niềm vui lớn. Chính từ những chuyến du hành ấy, tôi bắt đầu nhận ra rằng văn chương không chỉ kể những câu chuyện khác nhau, mà còn cất lên những giọng nói khác nhau của tâm hồn dân tộc.
 

Thế rồi, trong làn sóng học Phật các năm cuối thập niên 1960s, cậu học trò tình cờ nhặt được bản dịch tiếng Việt mỏng manh của cuốn Tiểu Chỉ Quán. Tôi đã tự ngồi thiền trên căn gác gỗ tối lờ mờ, trong những lúc thư thả giữa các giờ học thi Tú Tài, ngỡ ngàng bước vào một thế giới hoàn toàn mới --- nơi của tịch lặng, êm đềm, tách biệt khỏi những ồn ào phố thị bên ngoài. Không còn là việc đọc những dòng chữ trên giấy, từng hơi thở ra vào tựa như từng trang sách ngát hương lặng lẽ của tâm mình. Đó là hạnh phúc thuần khiết, sâu thẳm mà tôi chỉ tới bên hàng hiên (hiển nhiên, chưa gọi là vào nhà, nói theo kiểu sách Thiền, may ra chỉ mới nhìn thấy vết chân trâu).

Khi bước chân vào đại học, thế giới đọc của tôi lại mở rộng thêm. Tôi đặc biệt yêu thích những tác phẩm dịch của Bùi Giáng. Trong các bản dịch của nhà thơ họ Bùi, ngôn ngữ Việt Nam bỗng trở nên phóng khoáng, tài hoa và đầy nhạc tính. Cùng lúc đó, tôi tìm thấy nơi các bản dịch của Ni sư Trí Hải một giọng văn sáng sủa, chuẩn xác và thấm đẫm tinh thần Phật học, giúp những tư tưởng sâu xa trở nên gần gũi và dễ tiếp cận.

Đó cũng là thời gian tôi khám phá những văn phong học thuật rất khác nhau. Nơi Giáo sư Nguyễn Văn Trung hay Lê Tôn Nghiêm, tôi gặp một lối lý luận mang đậm ảnh hưởng phương Tây: chặt chẽ, biện chứng, phân tích từng khái niệm đến tận nền tảng của nó. Đọc các tác giả ấy giống như bước vào một cuộc đối thoại triết học với những câu hỏi không ngừng được đặt ra và khảo sát.
 

Trong khi đó, nơi Linh mục Kim Định và Nguyễn Văn Thọ, tôi lại bắt gặp một thế giới tư tưởng đậm chất Đông phương. Các tác phẩm của họ không chỉ lập luận mà còn gợi mở, không chỉ phân tích mà còn dẫn người đọc trở về với những tầng sâu của văn hóa và trực giác. Tư tưởng hiện ra như một dòng chảy liên tục giữa triết học, lịch sử và tâm linh. Dù vậy, tôi ngờ vực về sự chính xác của lý luận Việt Nho và Triết Lý An Vi của LM Kim Định, có thể Thầy đã bác bỏ Hán Nho theo một kiểu quá nhiều suy đoán vì tự hào dân tộc Việt (?). Dĩ nhiên, hạnh phúc là tôi được học, được đọc quá nhiều, sau này tôi nghĩ tới hình ảnh cậu Thiện Tài Đồng Tử trong Nhập Pháp Giới của Kinh Hoa Nghiêm, phải đi học khắp giang hồ với 53 lần tham vấn. Dĩ nhiên, tôi không giỏi như thế, và cũng không có hạnh nguyện lớn như các vị trong Kinh.

Và rồi có những tác giả mang một giọng văn rất Việt Nam. Thầy Nhất Hạnh viết với sự trong sáng, bình dị nhưng thấm sâu vào lòng người như lời tâm tình bên tách trà; trong đó, Bông Hồng Cài Áo của Thầy là một đoản văn bất tử, dẫn tới ca khúc bất tử do Phạm Thế Mỹ phổ nhạc. Trong khi đó, nhà văn Hồ Hữu Tường lại đưa tôi đến những suy tư vừa dân tộc vừa nhân loại, vừa thực tế vừa lý tưởng; bất kỳ ai cũng phải suy nghĩ khi đọc Phi Lạc Sang Tàu của nhà văn học Hồ. Đọc các tác giả này, tôi nhận ra rằng tư tưởng không nhất thiết phải khoác chiếc áo hàn lâm; nó có thể cất tiếng bằng ngôn ngữ của làng xã, của lũy tre, của đời sống và của kinh nghiệm Việt Nam.
 

Nhìn lại, tôi thấy mình đã trưởng thành nhờ được tắm trong nhiều dòng sông văn học khác nhau. Mỗi tác giả, mỗi văn phong, mỗi truyền thống tư tưởng đã để lại một dấu ấn riêng. Và có lẽ món quà quý giá nhất mà việc đọc mang lại là khả năng nhận ra vẻ đẹp của sự đa dạng, đồng thời nuôi dưỡng lòng biết ơn đối với tất cả những người đã làm giàu cho đời sống tinh thần của mình qua từng trang sách.

Khi rời Việt Nam để sống nơi hải ngoại, tôi lại bước vào một dòng sông khác của đời mình: dòng sông kinh điển Phật giáo. Những năm tháng miệt mài đọc kinh trên SuttaCentral đã mở ra trước mắt tôi một thế giới vừa cổ kính vừa tươi mới. Các bản kinh Nikāya hiện lên với giọng văn giản dị, trực chỉ, sáng trong như nước nguồn. Ở đó không có những lớp trang sức của văn chương, nhưng từng câu, từng đoạn đều mang một sức mạnh đặc biệt, đưa người đọc trở về với sự tỉnh thức của hiện tại.
 

Trong khi làm báo, viết truyện ngắn (dĩ nhiên, mỗi năm phải viết một truyện tình rất mực lâm ly bi đát cho báo Xuân), làm thơ, và viết về Phật giáo nhiều thập niên qua, tôi nhận ra rằng không có dòng sông văn học nào thực sự rời khỏi mình. Các dòng sông vẫn lặng lẽ chảy trong từng trang viết. Có lúc, trong những đoạn văn đầy cảm thức về thân phận con người, tôi bắt gặp thấp thoáng dư âm của Nguyễn Du. Đó là sự cảm thông đối với những nỗi khổ niềm đau của kiếp người, là cái nhìn dịu dàng nhưng không né tránh sự thật. Khi viết về những biến động của xã hội hay những cuộc đời lưu lạc, dường như dòng nước của Truyện Kiều vẫn còn ngân vang đâu đó.

Có lúc, những bài báo hay khảo luận của tôi lại mượn thêm giọng lưỡi sắc bén của Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, với thói quen nhìn sự việc từ nhiều góc độ, khảo sát động cơ, nhân duyên và bối cảnh đằng sau các sự kiện. Không phải để bày trò mưu lược, mà để thấy như kiểu các thầy bàn nhìn thấy từ vô số điều kiện chằng chịt. Từ Tây Du Ký, có lẽ tôi học được tinh thần lên đường. Bên dưới nhiều bài viết Phật giáo vẫn thấp thoáng hình ảnh người lữ hành không ngừng vượt núi băng sông để tìm chân lý. Hành trình đến Tây Trúc của Đường Tăng và hành trình đi tìm tự tâm của người học Phật, xét cho cùng, đều là những cuộc viễn du. Thế rồi, chữ “vô tự” (không một chữ nào hiện ra trong tâm) thường trực ở với tôi (cũng có thể, vì tôi thường ngồi uống trà với Thầy Thường Chiếu ở Đồng Ông Cộ và nhiễm thói quen lặng lẽ của Thầy). Trong khi đó, từ Kim Dung, tôi nhận được tình yêu đối với con người. Trong thế giới võ hiệp, thiện và ác rất hiếm khi hoàn toàn tách biệt; con người luôn phức tạp, vừa đáng trách vừa đáng thương.
 

Còn từ kinh Phật, đặc biệt là các bản kinh Nikāya, tôi học được sự giản dị của ngôn ngữ. Sau tất cả những vẻ đẹp của văn chương, điều còn lại là nói cho rõ sự thật, nói bằng tâm từ bi, và viết để giúp người đọc bớt khổ đau hơn một chút.

Nhìn lại cả hành trình, tôi thấy mình như một người đã đi qua nhiều dòng sông. Có dòng sông Việt Nam, có dòng sông Trung Hoa, có dòng sông tư tưởng Đông phương và Tây phương, có dòng sông kinh điển Phật giáo. Tất cả đã gặp nhau trong đời sống chữ nghĩa của tôi. Không một nguồn nước nào là vô ích. Mỗi ngụm nước đã nuôi lớn một phần tâm hồn, mỗi dòng sông đã để lại một chút phù sa trong văn phong và suy nghĩ của tôi. Vì thế, khi cầm bút hôm nay, tôi chỉ còn một cảm xúc đơn giản: lòng biết ơn. Biết ơn những tác giả đã viết, những dịch giả đã chuyển ngữ, những bậc thầy đã khai mở con đường, và biết ơn tất cả những nguồn nước văn học, tư tưởng và tâm linh mà tôi đã có duyên được uống trong suốt cuộc đời mình.

Thói quen mê đọc của tôi hạnh phúc nhất là từ khi có điện thoại di động. Tôi ngả lưng xuống giường, chuẩn bị ngủ là mở điện thoại ra đọc Kinh Phật qua các trang Accesstoinsight, SuttaCentral...  Kinh Phật cũng có nhiều văn phong khác nhau. Đức Phật thuyết pháp cho nhiều hạng người nghe khác nhau, do vậy văn phong chuyển biến khác nhau.
 

Vào thời Đức Phật, Ấn Độ chưa có kỹ thuật in ấn. Kinh điển được truyền miệng từ thầy sang trò. Phần đông dân chúng, đặc biệt là phụ nữ, nông dân và thợ rừng, không biết đọc biết viết. Vì vậy, khi giảng dạy cho những người nghe này, Đức Phật nói bằng lời đơn giản, dễ nhớ và dễ thuộc lòng. Văn phong dễ hiểu này nổi bật là Kinh Pháp Cú (Dhammapada). Mỗi bài kệ chỉ gồm vài câu ngắn, dùng hình ảnh quen thuộc như hoa, nước, ngựa, người chăn bò hoặc bóng theo hình. Các bài kệ thường đi sau một sự tích, trình bày một ý đạo đức rõ ràng: tránh điều ác, làm việc lành, giữ tâm trong sạch. Người nghe chỉ cần nghe vài lần là có thể ghi nhớ.

Tương tự, văn phong dễ hiểu cũng là nhóm 112 kinh trong nhóm Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka). Đây là những lời dạy được nữ cư sĩ Khujjuttarā ghi nhớ rồi đọc lại cho năm trăm cung nữ của hoàng hậu Sāmāvatī. Nghe kinh không phải là các học giả Bà La Môn mà là những phụ nữ (có lẽ ít học) trong cung đình mong muốn tu tập. Vì vậy, các bài kinh thường ngắn gọn, mở đầu bằng câu “Đức Thế Tôn đã nói như vậy”, sau đó trình bày một giáo lý đơn giản rồi kết bằng một bài kệ tóm tắt. Văn phong rất ít lý luận.

Trong khi đó, nhóm Kinh Nhật Tụng thời Đức Phật sinh tiền lại có văn phong rất khó; đó là hai phẩm cuối của Kinh Tập trong Tiểu Bộ. Hai phẩm cuối của Kinh Tập (Sutta Nipāta) là Phẩm Tám (Aṭṭhakavagga) và Phẩm Con Đường Đến Bờ Kia (Pārāyanavagga) có văn phong rất cô đọng và khó hiểu. Nhiều học giả xem đây là nhóm văn học cổ nhất của Phật giáo. Những người nghe pháp trong hai phẩm này là các đạo sĩ và Bà La Môn trí thức. Họ đã được đào tạo nhiều năm về triết học, nghi lễ tế tự và biện luận. Vì vậy, Đức Phật không chỉ dạy những nguyên tắc đạo đức căn bản mà còn bàn đến những vấn đề rất sâu sắc như chấp thủ, tà kiến, bản ngã và sự giải thoát tối hậu. Và trong văn phong đó là những dòng thơ có cú pháp rất khó, ít dùng. Nhóm 36 vị Bà La Môn sau khi đối thoại ở hai phẩm này đều chứng quả A La Hán ngay khi kinh thuyết xong.
 

Trong nhóm Kinh Tập đó, một trong những kinh làm tôi kinh ngạc sâu xa là Kinh Snp 4.9, Kinh Māgandiya Sutta. Khi đọc lời Đức Phật dạy về đừng nắm giữ kiến chấp, đừng bám víu vào cái được thấy, được nghe, được nghĩ tưởng, tôi luôn luôn nhớ tới thời mới học Phật ở Việt Nam khi nghiền ngẫm Bát Nhã Tâm Kinh. Dù văn phong khác nhau, Snp 4.9 là ngôn ngữ cổ xưa, văn phong của cú pháp rất mực phức tạp từ Pali, một bên là lời rất mực cô đọng, âm vang đọc theo âm Hán-Việt khẳng định như sấm sét, nhưng cả hai đều dường như chỉ về cùng một hướng: buông bỏ sự nắm bắt đối với mọi khái niệm và mọi hình bóng của tâm.

Lúc ấy, tôi chợt nhìn lại cuộc đời đọc sách của mình. Từ Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên, đến Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, Tây Du Ký, truyện võ hiệp của Kim Dung, Tiểu Chỉ Quán của nhà Thiền, rồi những trước tác triết học Đông Tây và kinh điển Phật giáo, tất cả dường như là những dòng sông khác nhau. Mỗi dòng sông là một thế giới văn học riêng.
 

Nhưng càng đi xa, tôi càng thấy các dòng sông ấy đều xuôi về một biển lớn. Dòng chảy siết là vô thường để rồi sẽ hòa vào nhau là một tánh nước, đó là vô ngã, nơi không có gì gọi là tôi hay của tôi, nơi không dòng sông nào tách biệt nữa. Tất cả đều cùng một tánh nước. Khi các dòng sông hòa vào biển lớn, nơi đó, nước chính là Tánh Không, vì không dòng sông nào tách riêng nữa. Khi chữ đã vào biển lớn, chữ sẽ không còn nữa, đó là trang sách của Vô Tự Chân Kinh, khi không còn chữ nào bám vào tâm nữa. Và thực sự, rất nhiều ngày tôi cũng tự thấy không có một tâm nào hiện ra để cho chữ bám vào. Phải chăng, đó là cốt tủy của Tâm Kinh. Xin nói rằng, tôi không biết. Nhưng chuyện này sẽ nói sau. Nghĩa là, xin chờ hồi sau sẽ rõ.
 

THAM KHẢO:

Kinh Snp 4.9: https://suttacentral.net/snp4.9/en/mills    

 



Nhiều nhà lập pháp Cộng Hòa đã đòi hỏi câu trả lời từ Bạch Ốc về các tường trình rằng Tổng Thống Nga Putin đã đặt tiền thưởng để lấy mạng lính Mỹ tại Afghanistn, và rằng Hoa Kỳ đã không có hành động gì để đáp trả, theo bản tin của Newsmax cho biết hôm Chủ Nhật, 28 tháng 6 năm 2020. Trong bình luận đầu tiên về vấn đề này, TT Trump đã viết twitter hôm Chủ Nhật rằng “không ai báo cáo hay nói với tôi” về “các vụ gọi là tấn công,” một bình luận mà cựu cố vấn an ninh quốc gia của ông gọi là “đáng chú ý.”
Tôi thì trộm nghĩ hơi khác FB Đoan Trang chút xíu: Việt Nam có hàng ngàn Tiên Lãng, Đồng Tâm, Dương Nội. Những thôn ổ này luôn là nơi sản sinh ra những nông dân (“vài ngàn năm đứng trên đất nghèo”) Lê Đình Kình, Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Qúy, Cấn Thị Thêu, Nguyễn Thị Tâm, Nguyễn Thùy Dương, Trịnh Bá Khiêm, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư ... Hàng hàng/lớp lớp, họ sẵn sàng nối tiếp tiền nhân – không bao giờ dứt – để gìn giữ và bảo vệ quê hương. Quyết định đối đầu với sức mạnh của cả một dân tộc là một lỗi lầm chí tử của những kẻ đang nắm giữ quyền bính hiện nay.
Khoảng nửa triệu người "Trung hoa" sống gần Bắc Kinh phải chịu lệnh đóng cửa vì một đợt bùng phát mới của coronavirus. Chính quyền China cho biết sau khi số ca nhiễm mới ở thủ đô tăng trở lại vào Chủ nhật. Trong 24 giờ qua, 14 trường hợp nhiễm virus corona mới đã được phát hiện. Tuy nhiên, chính quyền đảm bảo rằng tình hình sẽ "cải thiện". Lệnh đóng cửa ảnh hưởng đến người Hoa ở huyện Anxin, cách Bắc Kinh 150 km. Theo cơ quan y tế, nơi này "hoàn toàn bị niêm phong và kiểm soát". Các cư dân sẽ phải ở nhà. Chỉ có một đại diện cho mỗi gia đình được phép đi ra ngoài để mua sắm và mua thuốc, được cho biết.
Hoa Kỳ báo cáo hơn 45,000 trường hợp bị lây nhiễm vi khuẩn corona hôm Thứ Sáu, là sự gia tăng đột biến kỷ lục, trong khi một số tiểu bang bắt đầu ngưng hay bỏ các kế hoạch tái mở cửa, theo tài liệu của Đại Học Johns Hopkins cho biết. Hôm Thứ Bảy, 27 tháng 6 năm 2020, số người bị nhiễm vi khuẩn corona đã vượt hơn 2 triệu rưỡi, là con số nhiễm bệnh nhiều nhất trên toàn cầu, theo tài liệu của Johns Hopkins cho hay. Các trường hợp lây bệnh tăng 5% hay nhiều hơn dựa vào mức trung bình 7 ngày tại 34 tiểu bang khắp Hoa Kỳ, gồm Arizona, Texas, California, Florida và Nevada.
Các nhà lập pháp Dân Chủ tại Hạ Viện đã thông qua dự luật hôm Thứ Sáu biến Thủ Đô Washington thành tiểu bang thứ 51 của Hoa Kỳ, là hành động lịch sử sẽ không được Thượng Viện do Cộng Hòa kiểm soát chấp thuận. Tỉ lệ phiếu là 232 thuận trên 180 chống. Dự luật cho phép cư dân Washington, những người từ lâu đã tuyên bố thực tế rằng họ phải trả thuế liên bang nhưng không có đại diện bỏ phiếu tại Quốc Hội, 1 thành viên Hạ Viện và 1 thượng nghị sĩ. Một khu vực nhỏ hơn bao gồm Bạch Ốc, Quốc Hội Hoa Kỳ và các tòa nhà và tượng đài liên bang khác sẽ vẫn nằm dưới sự giám sát của Hoa Kỳ.
Các nhà lãnh đạo Đông Nam Á nói rằng một hiệp ước đại dương của Liên Hợp Quốc năm 1982 (UNCLOS 1982) phải là cơ sở của các quyền và quyền lợi có chủ quyền ở Biển Đông, trong một trong những nhận xét mạnh mẽ nhất của họ phản đối tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với hầu hết các vùng biển tranh chấp trên cơ sở lịch sử, theo báo The Guardian cho biết hôm Thứ Bảy, 27 tháng 6 năm 2020. Tuyên bố của Asean nói rằng: “Chúng tôi tái khẳng định rằng UNCLOS 1982 là cơ sở để xác định các quyền lợi hàng hải, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích hợp pháp đối với các vùng biển.”
Các viên chức tình báo Nga làm việc cho tình báo quân sự GRU gần đây đã cung cấp tiền cho phiến quân Taliban ở Afghanistan như một phần thưởng nếu họ giết lính Mỹ hoặc Anh ở đó, theo một viên chức tình báo Châu Âu nói với CNN hôm Thứ Bảy, 27 tháng 6. Viên chức này không rõ về động cơ chính xác của Nga, nhưng cho biết các ưu đãi, theo đánh giá của họ, đã dẫn đến thương vong của liên minh. Các viên chức đã không xác định ngày thương vong, số lượng hoặc quốc tịch của họ, hoặc liệu đây là những trường hợp tử vong hoặc thương tích.
“Chúng tôi đã thực hiện bước đi đặc biệt này bởi vì chúng tôi tin rằng chính sách và suy nghĩ kỳ thị chủng tộc của Wilson khiến ông ấy trở thành cái tên không phù hợp cho một trường học mà các học giả, sinh viên và cựu sinh viên phải kiên quyết chống lại tai họa kỳ thị chủng tộc dưới mọi hình thức,” theo bản tuyên bố cho biết. Wilson là tổng thống thứ 28 của Hoa Kỳ tại chức từ năm 1913 tới 1921. Ông ấy trước đó đã là chủ tịch của Đại Học Princeton và thống đốc New Jersey.
Công Cổ Phần Công Nghệ Sao Bắc Đẩu tại Việt Nam đã bị Ngân Hàng Thế Giới trừng phạt bằng cách cấm vận 7 năm vì lừa đảo và gian lận trong 2 dự tại VN mà Ngân Hàng Thế Giới tài trợ, theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) cho biết hôm 26 tháng 6 năm 2020.
Chính phủ Liên bang Đức buộc 67.000 khách du lịch đã được đưa về từ nước ngoài vì đại dịch corona phải trả cho các chuyến bay từ 200 đến 1000 euro. Điều này nhằm chi trả 40% tổng chi phí cho chiến dịch duy nhất trong lịch sử là 94 triệu euro. Việc chia sẻ chi phí bị mắc kẹt thì theo thứ bậc: Đối với các chuyến bay từ Quần đảo Canary và Bắc Phi, phải trả 200 euro, cho miền nam châu Phi và Karibik, phải trả 500 euro, những người trở về từ Nam Mỹ và châu Á phải trả 600 euro, và bất cứ ai được đưa về từ New Zealand và Úc nhận hóa đơn 1000 euro.
Vào đầu tháng 6, 2020, các đài truyền thông đều đăng tin kho báu của Forrest Fenn đã được tìm thấy ở rặng núi Rocky Mountains. ông Fenn, là một nhà sưu tập đồ cổ và nghệ thuật, 87 tuổi, nổi tiếng, mới đây tuyên bố cái kho báu mà ông cố tình chôn nó cách đây 10 năm, đã có người tìm ra. Người thợ săn bảo vật ấy đã dấu tên và gởi cho ông Fenn một tấm ảnh trong lá thư từ miền Đông Hoa Kỳ, chứng minh ông ta đã tìm được chiếc rương ấy. Điều ông loan báo cùng giới truyền thông không có một bằng cớ nào trưng ra, không biết có minh chứng được sự thật không, nhưng nó thật sự đã chấm dứt một cuộc săn lùng bảo vật kéo dài trong nhiều năm.
Trong khi đó tại Hoa Kỳ, Texas và Florida đang ngưng việc mở cửa trở lại khi số trường hợp mắc vi khuẩn coronas trên cả nước đạt con số kỷ lục. Hơn 30 tiểu bang đang chiến đấu với số lượng ngày càng tăng và Mỹ đang tính trung bình nhiều trường hợp mới hàng ngày hơn bao giờ hết. Nhưng Phó Tổng Thống Mike Pence cho biết hôm Thứ Sáu “tất cả chúng ta đã thấy những tin tức đáng khích lệ khi chúng ta mở lại nước Mỹ.” Ít nhất 9 tiểu bang đã tuyên bố họ sẽ không tiến thêm tới giai đoạn kế tiếp của việc tái mở cửa. Đó là những tiểu bang Arizona, Arkansas, Delaware, Idaho, Louisiana, Maine, Nevada, New Mexico và North Carolina. Thống Đốc Tiểu Bang Texas Greg Abbott đã ban hành một sắc lệnh hành pháp hôm Thứ Sáu nhằm hạn chế một số doanh nghiệp và dịch vụ nhất định như một phần trong nỗ lực của tiểu bang nhằm “ngăn chặn sự lây lan của Covid-19.”
Vào ngày 25 tháng 6 năm 2020, Học Khu Westminster đã thông qua nghị quyết (5-0) lên án kỳ thị và ủng hộ công bằng cho người da màu khác nhau. Học khu Westminster sẽ bắt đầu dạy về lịch sử của các sắc dân khác nhau ở Mỹ và thực hiện các chương trình để giáo viên và nhân viên tôn trọng những người khác nhau nhiều hơn.
Việt Nam và Phi Luật Tân cảnh báo về sự bất an ngày càng tăng ở Đông Nam Á tại hội nghị thượng đỉnh khu vực vào Thứ Sáu, 26 tháng 6 năm 2020, trong bối cảnh lo ngại rằng Trung Quốc đang đẩy mạnh hoạt động tại Biển Đông đang tranh chấp trong đại dịch vi khuẩn corona, theo Reuters cho biết. Hà Nội và Manila đã công bố các phản đối Trung Quốc vào tháng Tư sau khi Bắc Kinh đơn phương tuyên bố thành lập các khu hành chính mới trên các đảo trong các tuyến đường thủy gặp khó khăn mà Việt Nam và Phi Luật Tân cũng có tuyên bố chủ quyền.
Cục Thống Kê Dân Số đã sẵn sàng để đưa ra thông báo về việc tiếp tục một số hoạt động ngoài hoạt động Cập Nhật/Để Lại Tài Liệu và lấy dấu vân tay nhân viên mới.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.