Hôm nay,  

Hãy Thường Trực Thấy Vô Ngã

27/10/202619:11:00(Xem: 497)
blank

Hãy Thường Trực Thấy Vô Ngã
 

Nguyên Giác

 

Hãy thấy vô ngã thường trực. Hãy thấy vô thường không ngừng. Hãy liên tục thấy cõi này bất an như lửa cháy. Sống trong kinh nghiệm thường trực như thế, sẽ ly tham, sẽ giải thoát. Đức Phật đã dạy như thế. Tùy theo duyên nhiều đời, và tùy theo tu tập nơi kiếp này, có người nghe về vô thường, hay vô ngã là tức khắc giải thoát; tương tự, với người khi nghe lời dạy về cõi này là khổ, là bất an. Vô thường và vô ngã không rời nhau, với nhiều Kinh ghi lời Đức Phật hỏi người tới học câu đầu tiên là “có phải mắt là vô thường, có phải tai là vô thường...” rồi Ngài nói về vô ngã, rằng không có cái gì gọi là tôi, không có gì gọi là của tôi; và vì vô thường với vô ngã, nên cõi này liên tục bất an, bất như ý, không ngừng tan rã. Thấy như thế, học nhân sẽ ly tham và giải thoát. Rất nhiều Kinh theo thứ tự như thế.
  

Trong tích truyện Kinh Pháp Cú số 277, có kể về 500 vị tỳ-kheo, sau khi nhận đề mục thiền định từ Đức Phật, đã vào rừng để thực hành thiền, nhưng họ đạt được rất ít tiến bộ. Vì vậy, họ quay lại gặp Đức Phật để xin một đề mục thiền định khác phù hợp hơn với mình. Sau khi quán xét, Đức Phật nhận thấy rằng trong thời của Đức Phật Ca-diếp (Kassapa Buddha), các vị tỳ-kheo này đã từng thực hành thiền quán về tính vô thường. Do đó, Ngài dạy: "Này các tỳ-kheo, tất cả các pháp hữu vi đều phải chịu sự biến đổi và hoại diệt, vì vậy chúng đều là vô thường."

Rồi Đức Phật đọc bài kệ, theo bản dịch Pháp Cú của Thầy Minh Châu:

277. Tất cả hành vô thường. Với Tuệ, quán thấy vậy. Đau khổ được nhàm chán; Chính con đường thanh tịnh.

Khi bài thuyết pháp kết thúc, năm trăm vị tỳ-kheo ấy đã đạt được quả A-la-hán. Tương tự, trong hai trường hợp khác, với mỗi trường hợp là 500 vị sư khi nghe lời dạy khổ và vô ngã là chứng đắc quả A la hán, ghi lại trong tích truyện Pháp Cú ở bài kệ 278 và 279, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:

278. Tất cả hành khổ đau. Với Tuệ quán thấy vậy, Đau khổ được nhàm chán; Chính con đường thanh tịnh.

279. Tất cả pháp vô ngã. Với Tuệ quán thấy vậy, Đau khổ được nhàm chán; Chính con đường thanh tịnh.
  

Chúng ta nên hình dung rằng, chuyện của quý ngài lúc đó không giống như kiểu chúng ta bây giờ ngồi trong hội trường nghe pháp. Cho dù nhiều lần nghe lời dạy về vô ngã, nhưng chúng ta không thấy minh bạch cái thực tướng vô ngã trong thân tâm như quý ngài. Quý ngài lúc đó tới gặp Đức Phật sau khi đã hành thiền nhiều năm, chứ không chỉ hiểu bằng tri thức. Chúng ta nghe về vô ngã, nghĩ về vô ngã bằng ký ức chữ nghĩa. Trong khi đó, quý ngài sống và cảm nhận trực tiếp về vô ngã ngay trong từng hơi thở, không qua chữ nghĩa ký ức. Quý ngài trực tiếp tự quán chiếu thân tâm: thân này luôn biến đổi, cảm thọ luôn sinh diệt, nhận thức đổi thay từng sát-na, không có một "cái tôi" thường hằng nào trong thân và tâm. Và tất cả những gì được chúng sinh trong đời thường gọi là "ta", hay "của ta" chỉ là sự kết hợp tạm thời của các duyên. Trí tuệ quý ngài bừng sáng. Mọi kiến chấp, mọi bám víu đối với thân, tâm và thế giới liền tan rã. Tham ái không còn chỗ nương tựa, ngã mạn bị nhổ tận gốc, các lậu hoặc hoàn toàn đoạn diệt. Ngay tại chỗ ngồi, năm trăm vị tỳ-kheo chứng đắc quả vị A-la-hán, tâm hoàn toàn giải thoát.
  

Chỉ thấy thường trực vô ngã là đã đủ giải thoát, vì tham ái không bám được vào nơi nào trong thân tâm, không dính gì được nơi ngũ uẩn. Không cần định, không cần thần thông. Đây là một điểm rất quan trọng trong Kinh Susima Sutta (SN 12.70) và thường được các học giả Phật giáo dẫn ra để chứng minh rằng trong Phật giáo, A-la-hán quả không đòi hỏi phải thành tựu các thần thông hay các tầng thiền theo nghĩa thường gặp.

Trong Kinh Susima Sutta, du sĩ Susima (nguyên là ngoại đạo mới xin nhập chúng được vài tuần lễ) rất ngạc nhiên khi nghe nhiều vị sư tuyên bố đã chứng quả A-la-hán và được Đức Phật công nhận. Du sĩ hỏi các vị ấy rằng quý ngài có thiên nhãn không, có thiên nhĩ không, có biết tâm người khác không, có nhớ các đời quá khứ không? Các vị A-la-hán trong Kinh này đều trả lời: "Không." Du sĩ Susima lại bối rối, hỏi rằng: nếu không có các thần thông ấy thì làm sao có thể là A-la-hán?

Trong Tạng A Hàm, nơi Kinh SA 347 (tương ưng với Kinh Susima Sutta), theo bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ và Thích Đức Thắng, Susima phiên âm là Tu-thâm, viết như sau:

“Tu-thâm bạch Tỳ-kheo: Bạch Tôn giả, thế nào, có phải học ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác, có quán, có hỷ lạc phát sanh do viễn ly, thành tựu Sơ thiền, là không khởi lên các lậu, tâm khéo giải thoát?” (ngưng trích)

Tỳ kheo trả lời ngài Tu-thâm rằng quý ngài không đắc định, không thành tựu Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền... mà chỉ được tuệ giải thoát.

Đức Phật giải thích trong Kinh Susima Sutta rằng điều cốt lõi của giải thoát không nằm ở thần thông mà nằm ở chánh trí. Các vị ấy là những người được gọi là "tuệ giải thoát". Bản dịch của ngài Bodhi dịch là “liberated by wisdom”. Bản dịch của ngài Sujato dịch là “freed by wisdom”. Bản dịch của ngài Thanissaro dịch là “released through discernment”. Bản dịch Thầy Minh Châu ghi là, “Này Hiền giả Susīma, dù cho ông có biết hay ông không biết, chúng tôi chứng được tuệ giải thoát.”
  

Làm cách nào để chứng được tuệ giải thoát? Đức Phật trong Kinh này dạy Susima, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: “Này Susima, trước hết là trí về pháp trú, sau là trí về Niết-bàn.”

Bản dịch của Thầy Bodhi là: “First, Susīma, comes knowledge of the stability of the Dhamma, afterwards knowledge of Nibbāna.”

Bản dịch của Thầy Sujato là: “Susīma, first comes knowledge of the stability of natural principles. Afterwards there is knowledge of extinguishment.”

Bản dịch của Thầy Thanissaro là: “First, Susima, there is the knowledge of the regularity of the Dhamma [dependent co-arising], after which there is the knowledge of Unbinding.”

Trong Kinh SA 347 của Tạng A Hàm, ghi lời Đức Phật giải thích: “Phật bảo Tu-thâm: Trước hết họ biết pháp trụ, sau đến biết Niết-bàn. Các thiện nam ấy một mình ở nơi thanh vắng, chuyên cần tinh tấn tư duy, sống không buông lung, xa lìa ngã kiến, không khởi lên các lậu, tâm khéo giải thoát.”

Ngắn gọn, đối chiếu các cách dịch trên, có thể nói cho dễ hiểu: Đức Phật dạy rằng muốn có tuệ giải thoát, trước hết cần phải thấy, hiểu vận hành của Pháp, của Luật duyên khởi (chữ trong Thiền Tông là: Thấy Tánh, hay gọi là Thấy Tánh Không), sau đó sẽ thấy Niết Bàn.
  

Kế tiếp, Đức Phật hỏi Susima có phải sắc là vô thường hay không (sắc là: sắc thanh hương vị xúc pháp – tức là: cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường). Và như thế là khổ, là vô ngã.

Rồi Đức Phật dạy Susima, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: “Do vậy, này Susīma, cái gì thuộc sắc pháp quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc pháp cần phải được quán như chơn như sau: Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.”

Chỉ thấy như thế thường trực, là sẽ ly tham, và sẽ giải thoát. Kinh Susima Sutta đặc biệt quan trọng vì cho thấy có nhiều vị A-la-hán tự nói không đắc định, không đắc thần thông và chỉ có tri kiến giải thoát, tức là thấy đúng thực tánh của các pháp. Trong một cuộc thảo luận vài năm trước trên mạng Sutta Central, một số học giả hiện đại nhận định rằng các vị này có thể chỉ chứng được mức định tối thiểu cần thiết cho minh sát, đôi khi được các truyền thống hậu kỳ gọi là cận định (upacāra samādhi) hoặc một mức định vừa đủ để duy trì chánh niệm và tuệ quán. Đó cũng vẫn là sự diễn giải của người đời sau, chứ không phải lời ghi trực tiếp trong kinh. Đọc kỹ, sẽ thấy Kinh Susima Sutta ghi lời quý ngài là chưa đắc định, chưa đắc cả Sơ thiền. Vì vậy, Kinh Susima Sutta là một trong những bản kinh cụ thể nhất nói rằng tuệ giải thoát là con đường trực tiếp dẫn đến quả vị A-la-hán.
  

Thiền Tông Trung Hoa nói rằng người tu phải thấy thường trực vô ngã tức là thấy Tánh, tức là thấy thân tâm mình không hề có tâm nào để tu, tức là không hề thấy có cái gì gọi là sắc thanh hương vị xúc pháp để gọi là sắc thanh hương vị xúc pháp, tức là thấy không hề có con trâu nào để chăn dắt như lộ trình Mười Bức Tranh Chăn Trâu. Trong tuyển tập Bích Nham Lục Của Thiền Sư Phật Quả Viên Ngộ, nơi tắc số 3 có câu nói về nhiệm vụ của bậc thầy trong cửa thiền là: "Nếu là bổn phận Tông sư, đến trong đây phải có thủ đoạn, cướp trâu của người cày, đoạt cơm của người đói..."

Người cày, tức là người tu, phải dắt trâu (điều tâm) đi cày ruộng để có cơm cho hết đói (cơm là Chánh pháp). Khi bị tước đoạt thân tâm, sẽ thấy không có cái gì gọi là tâm để tu nữa (vì thường trực thấy vô ngã). Tương tự, trong sách Pháp Diễn Thiền Sư Ngữ Lục do Pháp Sư Tài Lương biên soạn, cũng ghi về thầy giỏi là phải biết tước đoạt: "Sư Thượng đường nêu: Cổ nhân nói: Phàm là thiện tri thức phải là cướp trâu của người cày đoạt lấy cơm của người đói. Đuổi trâu cày bừa làm cho lúa mạ của họ tốt tươi, đoạt cơm của người đói làm cho họ dứt được cơn đói."
  

Có thể giải thích đơn giản hơn, và cũng truyền thống hơn, rằng vị Thầy giỏi phải chỉ cho Thiền sinh thấy rằng thân tâm và thế giới này đang từng khoảnh khắc bị vô thường tước đoạt, và thực sự cũng không có cái gì gọi là tâm (hình ảnh con trâu) để bị tước đoạt bởi vì tất cả các pháp trong thế gian này chỉ là âm vang, là trăng hiện dưới nước, là ảnh chiếu trong gương, là ráng nắng ban chiều.

Con trâu chính là cái tâm mà chúng ta biện biệt mài giũa và “chăn trâu”. Hễ còn thấy còn con trâu thì còn rong ruổi trên cánh đồng hơn thua và sở đắc. Cho nên thiền sư "cướp mất con trâu" của học trò. Trong khi đó, "cơm của người đói" là những thức ăn tinh thần mà người tu tìm kiếm: danh tiếng, tri thức, sở đắc, kinh nghiệm các tầng thiền, và cả các cảnh giới giác ngộ. Thiền sư tước bỏ hết những thứ ấy, khiến người học không còn chỗ nương tựa, phải trắng tay (không nắm giữ pháp nào). Cuối cùng, khi không còn trâu để cày và cũng không còn cơm nào để bám víu, người học sẽ trực diện thực tại trần trụi như nó đang là. Ngay tại đó, tâm vô ngã hiển lộ.
  

Chúng ta cũng có thể nhớ tới bài"Vô Sanh" trên báo Viên Âm Nguyệt San số 22, ấn bản tháng 7 và 8 năm 1936, được cho là của cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám. Nơi đây, tác giả dùng hình ảnh một cái bàn gỗ để dẫn người học từ lý duyên sinh đến tuệ giác vô ngã và tánh Không. Ngài Tâm Minh giải thích rằng cái bàn không tự nhiên xuất hiện. Nó phải nhờ gỗ, nhờ người thợ cưa xẻ, bào chuốt, ráp mộng, cùng vô số điều kiện khác mới thành hình. Vì vậy, cái bàn là một pháp do nhân duyên hòa hợp mà có.

Nhưng khi khảo sát kỹ hơn, ta không thể chỉ vào bất cứ bộ phận nào và nói: "Đây chính là cái bàn." Các tấm gỗ không phải là bàn. Công thợ không phải là bàn. Từng bộ phận riêng lẻ đều không phải là bàn. Cái gọi là "bàn" chỉ là một danh xưng tạm đặt cho sự kết hợp của nhiều yếu tố. Vì không tìm được một thực thể độc lập nào mang tên "bàn", nên cái bàn là "không có tự tánh", tức là tánh Không. Từ đó, cụ Tâm Minh đưa người đọc tiến xa hơn: sở dĩ ta chấp cái bàn là thật có vì tâm phân biệt đặt tên rồi bám chặt vào tên gọi ấy. Thực ra, "bàn" chỉ là giả danh. Khi thấy rõ điều đó, ta sẽ thấy mọi sự vật, kể cả thân tâm mình, cũng đều là những pháp duyên sinh, không có tự ngã riêng biệt.

Theo cụ, thấy được điều này không phải để phủ nhận thế giới, mà để bước vào Trung đạo. Khi biết các pháp là duyên hợp, không có thực thể cố định, hành giả dần buông bỏ chấp ngã, chấp pháp, không còn bị tham, sân, si chi phối. Chính đó là cửa ngõ đi vào cái thấy vô sanh: các pháp tuy hiện ra như có sinh diệt, nhưng chưa từng có một tự thể độc lập nào thật sự sinh hay thật sự diệt. Tuy cụ dùng Trung Luận để giải thích, nhưng cốt tủy vẫn là nội dung lời Đức Phật dạy trong Kinh Susima Sutta và Pháp Cú 279: không cần tìm kinh nghiệm huyền bí nào, chỉ cần thường trực thấy rõ mọi pháp đều do duyên hợp, không có tự ngã, thì ngay nơi cái bàn gỗ trước mắt cũng cho thấy toàn bộ con đường giải thoát.
  

Hãy tỉnh thức thường trực trong tuệ giải thoát đó. Hãy để các pháp nó như thế là như thế, tức là hãy giữ tâm Như thị. Nghĩa là, hãy để mọi thứ đang là như là đang là. Hãy để mọi thứ thấy nghe hay biết như là cái được thấy nghe hay biết. Hoàn toàn không thể tìm thấy người thấy, người nghe hay người cảm nhận nào ngoài các pháp duyên sinh đang hiện khởi rồi biến mất. Đó chính là cánh cửa đi vào vô ngã.

Đó là những gì chúng ta có thể kinh nghiệm, vì đây là cái trực tiếp sống với đời sống này, chứ không phải suy luận qua trung gian chữ nghĩa. Nói như các thiền sư, rằng hãy đốt hết kinh sách, và sống trực tiếp trong trận gió vô thường chảy xiết qua thân tâm mình. Hãy thấy vô thường đang diễn ra trong từng khoảnh khắc. Bạn nhìn lên bầu trời, vừa thấy một chùm mây, thì hình dạng của mây đã đổi khác. Bạn vừa nghe một nốt nhạc, thì nốt nhạc ấy đã biến mất để nốt nhạc kế tiếp tới. Không có cái được thấy, được nghe nào đứng yên, không có hình ảnh hay âm vang nào nguyên vẹn từ sát-na này sang sát-na khác.

Nơi đó, bạn nhận ra rằng hễ có sinh là có diệt, có tới là có đi, có hiện ra là sẽ có biến mất, và nơi đó không hề có cái gì gọi là “cái tôi, cái của tôi, cái ta, cái của ta” và các câu hỏi tự biến mất ngay khi bạn nhìn thấy con trâu bạn chăn dắt biến mất. Vô thường chính là cánh cửa đơn giản và gần gũi nhất để đi vào cái thấy vô ngã của tuệ giải thoát. Không cần đi vòng quanh. Xin nhớ rằng Đề Bà Đạt Đa đã chứng đắc tứ thiền, đã có nhiều thần thông, nhưng rồi vẫn rơi địa ngục khi “cái ta là” trong tâm ngài dẫn tới tội ngũ nghịch.
  

Do vậy, bạn hãy trực tiếp nhìn ngắm, hãy thường trực cảm nhận sự sinh diệt liên tục của các pháp ngay nơi thân tâm bạn đang thấy nghe hay biết. Bạn hãy cảm nhận trận gió vô thường chảy xiết nơi thân tâm bạn. Khi cảm nhận trận gió vô thường chảy xiết thân tâm, bạn sẽ thấy biến mất tất cả các tư lường, chữ nghĩa, văn tự, ký ức, sẽ thấy biến mất những vô lượng con trâu, những vô lượng cái tâm của ba thời, của hôm qua, hôm nay, ngày mai. Nơi đây, chư Tổ nói rằng hễ mở miệng là trễ rồi, vì mây đã tan và hoa đã rơi. Bạn hãy cảm nhận bạn đang đi đứng nằm ngồi như một cụm mây lung linh vô ngã trong cái thân tâm góp lại từ hàng tỷ hạt bụi vi trần. Thấy như thế là pháp trú, là vô cùng hạnh phúc.

 

 



Kinh Phật thường nói rằng chúng ta đang sống trong nhà lửa. Nghĩa là, hiểm họa liên tục, không có gì bình an. Và phải lo tìm đường giải thoát. Lời Phật dạy không đơn giản có ý nói rằng hãy rời nơi này để qua nơi khác. Không đơn giản như thế. Bởi vì chuyện dời đổi không gian và thời gian không cứu được chúng ta, khi còn danh sắc này, còn thân tâm này.
- Kentucky: 85% người dân Quận Knox bầu cho Trump, bây giờ thê thảm vì mất Medicaid và SNAP và 200.000 bệnh nhân Kentucky sẽ mất bảo hiểm. - Texas: Cũng vì Ban giám đốc trại hè nhiều lần kháng cáo, không muốn tên trại hè nằm trong các nơi dễ bị lũ lụt.
Sáng thứ Sáu 11/7, Tom Homan, “trùm biên giới” của chính quyền Donald Trump nói trên đài truyền hình Fox News: “Hãy nghe đây, quý vị cần phải hiểu rằng, cảnh sát di trú ICE và cảnh sát biên phòng không cần có lý do chính đáng để bước đến trước mặt một ai đó, tạm giữ họ và tra hỏi họ. Không cần lý do xác đáng. Chỉ cần nghi ngờ hợp lý.”
- Nam California: ICE bố ráp nông trại Camarillo, dân biểu tình phản đối, đòi ICE ra. Lựu đạn cay bắn vào dân. - California: Đại học Cal State L.A. cho các GS chuyển sang dạy trực tuyến để ngừa ICE vào trường bố ráp di dân - Nam Califgornia: Thị trưởng Perris (78% dân số Perris là gốc Latinh) yêu cầu cư dân đừng ra phố vì đặc vụ ICE đang bố ráp.
Dù chưa một lần đặt chân đến Phi Châu trong cả hai nhiệm kỳ Tổng thống, Donald Trump đã không ít lần khiến lục địa này “nóng mặt.” Ngay trong nhiệm kỳ đầu, ông từng khiến cả Phi Châu dậy sóng khi được cho là đã gọi Haiti và các quốc gia của lục địa này là “các nước thối tha” (shithole countries). Trước phản ứng gay gắt từ dư luận quốc tế, Trump đã chối là mình không có dùng cụm từ đó. Dù vậy, TNS Dick Durbin (Dân Chủ, Illinois), người có mặt trong buổi họp kín đó, khẳng định rằng Trump liên tục thốt ra “những lời lẽ đầy ác ý, bẩn thỉu và sặc mùi kỳ thị sắc tộc.”
Lịch sử bang giao Hoa Kỳ và Iran khởi đầu từ những năm 1950 và trải qua bao thăng trầm, nhưng với các cuộc không kích của Mỹ vào các cơ sở hạt nhân của Iran vào ngày 22/6/2025 là cao điểm của tình trạng xung đột. Một hoà ước cho mối thù không đội trời chung này của hai nước vẫn chưa có triển vọng đạt được mà vũ khí hạt nhân là trong các chủ đề tranh chấp chính.
Ngày 4 Tháng Bảy, 2025 — khi pháo hoa còn loé sáng trên bầu trời Mỹ, hàng chục triệu công dân lớn tuổi đồng loạt nhận một lá thư điện tử từ Sở An Sinh Xã Hội (SSA). Trong thư, SSA trích thông cáo báo chí tuyên bố: “Dự luật mới sẽ ‘xóa bỏ thuế thu nhập liên bang trên khoản trợ cấp An Sinh Xã Hội cho đa số người đang hưởng.’”(Trích theo The Washington Post, 4.7.2025) Thông tin lan nhanh khắp mạng xã hội, được không ít người chia sẻ như món quà mừng Độc Lập. Ngay trong tối hôm đó, tại sân vận động ở Iowa, Tổng Thống Donald Trump tiếp tục lặp lại: “Không còn thuế An Sinh Xã Hội cho những bậc cao niên tuyệt vời của chúng ta.”
Vào tháng 7 năm 1868, Tu chính án thứ Mười bốn đã được bổ túc vào Hiến pháp Hoa Kỳ. Tu chính án này bảo đảm quyền công dân Hoa kỳ cho tất cả trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Hoa Kỳ, kể cả những người từng là nô lệ. Ngoại lệ duy nhất là con của các nhà ngoại giao. Vào ngày 20 tháng 1 năm 2025, Tổng thống Trump đã ký một sắc lệnh hành pháp nhằm chấm dứt quyền công dân theo nơi sinh đối với những trẻ em sinh ra từ cha mẹ là người di dân bất hợp pháp hoặc người ở Hoa kỳ với chiếu khán du lịch. Ngay sau khi sắc lệnh được ban hành, đã có nhiều vụ kiện chống lại sắc lệnh này. Kết quả là một tòa án liên bang Quận phán quyết rằng quyền công dân theo nơi sinh không thể bị chấm dứt cho đến khi Tòa án Tối cao Hoa Kỳ quyết định cho vấn đề này.
Trong một cuộc phỏng vấn dành cho nhật báo The New York Times, Mark Rutte, Tổng Thư ký NATO, đã lên tiếng cảnh báo về một viễn ảnh nghiêm trọng có thể đưa thế giới bước vào một thời kỳ xáo trộn chưa từng thấy kể từ sau Đệ Nhị Thế Chiến. Theo Rutte, trong trường hợp Bắc Kinh quyết định đánh chiếm Đài Loan, thì khả năng Tập Cận Bình sẽ liên lạc và phối hợp với Vladimir Putin để gây rối tại Âu Châu là rất cao
Sáu tổ chức y tế hàng đầu Hoa Kỳ vừa đệ đơn kiện Robert F. Kennedy Jr., Bộ trưởng Y Tế, cùng Bộ Y Tế & Dịch Vụ Nhân Sinh Liên Bang (H.H.S.), cáo buộc các quyết định hạn chế tiếp cận vaccine Covid là phi khoa học, gây hại cho công chúng, theo bản tin của tờ The New York Times. Đơn kiện nộp tại toà án liên bang miền tây Massachusetts, yêu cầu khôi phục vaccine Covid vào danh sách chích ngừa khuyến nghị cho trẻ em khoẻ mạnh và phụ nữ mang thai.
California là tiểu bang đang phản kháng mạnh mẽ những chính sách chống di dân của chính quyền liên bang. Trong lĩnh vực giáo dục, Tiểu Bang Vàng tiếp tục hỗ trợ cho các sinh viên thuộc các gia đình di dân chưa có giấy tờ. Vào cuối tháng 6, American Community Media tổ chức một cuộc họp báo toàn tiểu bang, trong đó Ủy Ban Hỗ Trợ Sinh Viên California (CSAC) tái khẳng định cam kết của California trong việc hỗ trợ sinh viên di dân.
Kể từ nhiệm kỳ đầu tiên, tổng thống Trump đã thường xuyên xung đột với California, thành trì của các chính sách tiến bộ về di dân, y tế toàn dân, bảo vệ môi trường. Với số lượng di dân đông đúc, luật tiểu bang bảo vệ di dân, California trở thành mục tiêu thường xuyên của phe bảo thủ. Tiểu Bang Vàng trở thành Dân Chủ kể từ những năm 1990, khi ảnh hưởng của đảng Cộng Hòa bị suy giảm do Dự Luật 187 năm 1994 của Thống Đốc Pete Wilson (Cộng Hòa), đưa ra nhằm hạn chế quyền tiếp cận giáo dục và chăm sóc sức khỏe của người nhập cư.
Đức Phật trả lời: “—Này Ác ma, mắt là của Ông, sắc là của Ông, thức xứ do mắt xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có mắt, không có sắc, không có thức xứ xúc chạm, thời chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.” Và tương tự với tai, mũi, lưỡi, thân, ý... Như thế, thấy không một pháp nào là ta, là tôi, là của tôi, là của ta... thì là giải thoát. Tạm gọi là một cũng được, tạm gọi là vô lượng như biển cũng được. Như thế, không thấy có cái gì là ta hay người, thì lấy chỗ nào mà đau khổ nữa.
(WASHINGTON, ngày 9 tháng 7, Reuters) – Chính phủ Hoa Kỳ cho biết sẽ trừng phạt Francesca Albanese, phúc trình viên (special rapporteur) về tình hình nhân quyền tại Palestine của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, sau khi bà nhiều lần chỉ trích chiến dịch quân sự của Israel tại Gaza.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.