Hôm nay,  

Hãy Thường Trực Thấy Vô Ngã

27/10/202619:11:00(Xem: 1099)
blank

Hãy Thường Trực Thấy Vô Ngã
 

Nguyên Giác

 

Hãy thấy vô ngã thường trực. Hãy thấy vô thường không ngừng. Hãy liên tục thấy cõi này bất an như lửa cháy. Sống trong kinh nghiệm thường trực như thế, sẽ ly tham, sẽ giải thoát. Đức Phật đã dạy như thế. Tùy theo duyên nhiều đời, và tùy theo tu tập nơi kiếp này, có người nghe về vô thường, hay vô ngã là tức khắc giải thoát; tương tự, với người khi nghe lời dạy về cõi này là khổ, là bất an. Vô thường và vô ngã không rời nhau, với nhiều Kinh ghi lời Đức Phật hỏi người tới học câu đầu tiên là “có phải mắt là vô thường, có phải tai là vô thường...” rồi Ngài nói về vô ngã, rằng không có cái gì gọi là tôi, không có gì gọi là của tôi; và vì vô thường với vô ngã, nên cõi này liên tục bất an, bất như ý, không ngừng tan rã. Thấy như thế, học nhân sẽ ly tham và giải thoát. Rất nhiều Kinh theo thứ tự như thế.
  

Trong tích truyện Kinh Pháp Cú số 277, có kể về 500 vị tỳ-kheo, sau khi nhận đề mục thiền định từ Đức Phật, đã vào rừng để thực hành thiền, nhưng họ đạt được rất ít tiến bộ. Vì vậy, họ quay lại gặp Đức Phật để xin một đề mục thiền định khác phù hợp hơn với mình. Sau khi quán xét, Đức Phật nhận thấy rằng trong thời của Đức Phật Ca-diếp (Kassapa Buddha), các vị tỳ-kheo này đã từng thực hành thiền quán về tính vô thường. Do đó, Ngài dạy: "Này các tỳ-kheo, tất cả các pháp hữu vi đều phải chịu sự biến đổi và hoại diệt, vì vậy chúng đều là vô thường."

Rồi Đức Phật đọc bài kệ, theo bản dịch Pháp Cú của Thầy Minh Châu:

277. Tất cả hành vô thường. Với Tuệ, quán thấy vậy. Đau khổ được nhàm chán; Chính con đường thanh tịnh.

Khi bài thuyết pháp kết thúc, năm trăm vị tỳ-kheo ấy đã đạt được quả A-la-hán. Tương tự, trong hai trường hợp khác, với mỗi trường hợp là 500 vị sư khi nghe lời dạy khổ và vô ngã là chứng đắc quả A la hán, ghi lại trong tích truyện Pháp Cú ở bài kệ 278 và 279, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:

278. Tất cả hành khổ đau. Với Tuệ quán thấy vậy, Đau khổ được nhàm chán; Chính con đường thanh tịnh.

279. Tất cả pháp vô ngã. Với Tuệ quán thấy vậy, Đau khổ được nhàm chán; Chính con đường thanh tịnh.
  

Chúng ta nên hình dung rằng, chuyện của quý ngài lúc đó không giống như kiểu chúng ta bây giờ ngồi trong hội trường nghe pháp. Cho dù nhiều lần nghe lời dạy về vô ngã, nhưng chúng ta không thấy minh bạch cái thực tướng vô ngã trong thân tâm như quý ngài. Quý ngài lúc đó tới gặp Đức Phật sau khi đã hành thiền nhiều năm, chứ không chỉ hiểu bằng tri thức. Chúng ta nghe về vô ngã, nghĩ về vô ngã bằng ký ức chữ nghĩa. Trong khi đó, quý ngài sống và cảm nhận trực tiếp về vô ngã ngay trong từng hơi thở, không qua chữ nghĩa ký ức. Quý ngài trực tiếp tự quán chiếu thân tâm: thân này luôn biến đổi, cảm thọ luôn sinh diệt, nhận thức đổi thay từng sát-na, không có một "cái tôi" thường hằng nào trong thân và tâm. Và tất cả những gì được chúng sinh trong đời thường gọi là "ta", hay "của ta" chỉ là sự kết hợp tạm thời của các duyên. Trí tuệ quý ngài bừng sáng. Mọi kiến chấp, mọi bám víu đối với thân, tâm và thế giới liền tan rã. Tham ái không còn chỗ nương tựa, ngã mạn bị nhổ tận gốc, các lậu hoặc hoàn toàn đoạn diệt. Ngay tại chỗ ngồi, năm trăm vị tỳ-kheo chứng đắc quả vị A-la-hán, tâm hoàn toàn giải thoát.
  

Chỉ thấy thường trực vô ngã là đã đủ giải thoát, vì tham ái không bám được vào nơi nào trong thân tâm, không dính gì được nơi ngũ uẩn. Không cần định, không cần thần thông. Đây là một điểm rất quan trọng trong Kinh Susima Sutta (SN 12.70) và thường được các học giả Phật giáo dẫn ra để chứng minh rằng trong Phật giáo, A-la-hán quả không đòi hỏi phải thành tựu các thần thông hay các tầng thiền theo nghĩa thường gặp.

Trong Kinh Susima Sutta, du sĩ Susima (nguyên là ngoại đạo mới xin nhập chúng được vài tuần lễ) rất ngạc nhiên khi nghe nhiều vị sư tuyên bố đã chứng quả A-la-hán và được Đức Phật công nhận. Du sĩ hỏi các vị ấy rằng quý ngài có thiên nhãn không, có thiên nhĩ không, có biết tâm người khác không, có nhớ các đời quá khứ không? Các vị A-la-hán trong Kinh này đều trả lời: "Không." Du sĩ Susima lại bối rối, hỏi rằng: nếu không có các thần thông ấy thì làm sao có thể là A-la-hán?

Trong Tạng A Hàm, nơi Kinh SA 347 (tương ưng với Kinh Susima Sutta), theo bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ và Thích Đức Thắng, Susima phiên âm là Tu-thâm, viết như sau:

“Tu-thâm bạch Tỳ-kheo: Bạch Tôn giả, thế nào, có phải học ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác, có quán, có hỷ lạc phát sanh do viễn ly, thành tựu Sơ thiền, là không khởi lên các lậu, tâm khéo giải thoát?” (ngưng trích)

Tỳ kheo trả lời ngài Tu-thâm rằng quý ngài không đắc định, không thành tựu Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền... mà chỉ được tuệ giải thoát.

Đức Phật giải thích trong Kinh Susima Sutta rằng điều cốt lõi của giải thoát không nằm ở thần thông mà nằm ở chánh trí. Các vị ấy là những người được gọi là "tuệ giải thoát". Bản dịch của ngài Bodhi dịch là “liberated by wisdom”. Bản dịch của ngài Sujato dịch là “freed by wisdom”. Bản dịch của ngài Thanissaro dịch là “released through discernment”. Bản dịch Thầy Minh Châu ghi là, “Này Hiền giả Susīma, dù cho ông có biết hay ông không biết, chúng tôi chứng được tuệ giải thoát.”
  

Làm cách nào để chứng được tuệ giải thoát? Đức Phật trong Kinh này dạy Susima, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: “Này Susima, trước hết là trí về pháp trú, sau là trí về Niết-bàn.”

Bản dịch của Thầy Bodhi là: “First, Susīma, comes knowledge of the stability of the Dhamma, afterwards knowledge of Nibbāna.”

Bản dịch của Thầy Sujato là: “Susīma, first comes knowledge of the stability of natural principles. Afterwards there is knowledge of extinguishment.”

Bản dịch của Thầy Thanissaro là: “First, Susima, there is the knowledge of the regularity of the Dhamma [dependent co-arising], after which there is the knowledge of Unbinding.”

Trong Kinh SA 347 của Tạng A Hàm, ghi lời Đức Phật giải thích: “Phật bảo Tu-thâm: Trước hết họ biết pháp trụ, sau đến biết Niết-bàn. Các thiện nam ấy một mình ở nơi thanh vắng, chuyên cần tinh tấn tư duy, sống không buông lung, xa lìa ngã kiến, không khởi lên các lậu, tâm khéo giải thoát.”

Ngắn gọn, đối chiếu các cách dịch trên, có thể nói cho dễ hiểu: Đức Phật dạy rằng muốn có tuệ giải thoát, trước hết cần phải thấy, hiểu vận hành của Pháp, của Luật duyên khởi (chữ trong Thiền Tông là: Thấy Tánh, hay gọi là Thấy Tánh Không), sau đó sẽ thấy Niết Bàn.
  

Kế tiếp, Đức Phật hỏi Susima có phải sắc là vô thường hay không (sắc là: sắc thanh hương vị xúc pháp – tức là: cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường). Và như thế là khổ, là vô ngã.

Rồi Đức Phật dạy Susima, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: “Do vậy, này Susīma, cái gì thuộc sắc pháp quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc pháp cần phải được quán như chơn như sau: Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.”

Chỉ thấy như thế thường trực, là sẽ ly tham, và sẽ giải thoát. Kinh Susima Sutta đặc biệt quan trọng vì cho thấy có nhiều vị A-la-hán tự nói không đắc định, không đắc thần thông và chỉ có tri kiến giải thoát, tức là thấy đúng thực tánh của các pháp. Trong một cuộc thảo luận vài năm trước trên mạng Sutta Central, một số học giả hiện đại nhận định rằng các vị này có thể chỉ chứng được mức định tối thiểu cần thiết cho minh sát, đôi khi được các truyền thống hậu kỳ gọi là cận định (upacāra samādhi) hoặc một mức định vừa đủ để duy trì chánh niệm và tuệ quán. Đó cũng vẫn là sự diễn giải của người đời sau, chứ không phải lời ghi trực tiếp trong kinh. Đọc kỹ, sẽ thấy Kinh Susima Sutta ghi lời quý ngài là chưa đắc định, chưa đắc cả Sơ thiền. Vì vậy, Kinh Susima Sutta là một trong những bản kinh cụ thể nhất nói rằng tuệ giải thoát là con đường trực tiếp dẫn đến quả vị A-la-hán.
  

Thiền Tông Trung Hoa nói rằng người tu phải thấy thường trực vô ngã tức là thấy Tánh, tức là thấy thân tâm mình không hề có tâm nào để tu, tức là không hề thấy có cái gì gọi là sắc thanh hương vị xúc pháp để gọi là sắc thanh hương vị xúc pháp, tức là thấy không hề có con trâu nào để chăn dắt như lộ trình Mười Bức Tranh Chăn Trâu. Trong tuyển tập Bích Nham Lục Của Thiền Sư Phật Quả Viên Ngộ, nơi tắc số 3 có câu nói về nhiệm vụ của bậc thầy trong cửa thiền là: "Nếu là bổn phận Tông sư, đến trong đây phải có thủ đoạn, cướp trâu của người cày, đoạt cơm của người đói..."

Người cày, tức là người tu, phải dắt trâu (điều tâm) đi cày ruộng để có cơm cho hết đói (cơm là Chánh pháp). Khi bị tước đoạt thân tâm, sẽ thấy không có cái gì gọi là tâm để tu nữa (vì thường trực thấy vô ngã). Tương tự, trong sách Pháp Diễn Thiền Sư Ngữ Lục do Pháp Sư Tài Lương biên soạn, cũng ghi về thầy giỏi là phải biết tước đoạt: "Sư Thượng đường nêu: Cổ nhân nói: Phàm là thiện tri thức phải là cướp trâu của người cày đoạt lấy cơm của người đói. Đuổi trâu cày bừa làm cho lúa mạ của họ tốt tươi, đoạt cơm của người đói làm cho họ dứt được cơn đói."
  

Có thể giải thích đơn giản hơn, và cũng truyền thống hơn, rằng vị Thầy giỏi phải chỉ cho Thiền sinh thấy rằng thân tâm và thế giới này đang từng khoảnh khắc bị vô thường tước đoạt, và thực sự cũng không có cái gì gọi là tâm (hình ảnh con trâu) để bị tước đoạt bởi vì tất cả các pháp trong thế gian này chỉ là âm vang, là trăng hiện dưới nước, là ảnh chiếu trong gương, là ráng nắng ban chiều.

Con trâu chính là cái tâm mà chúng ta biện biệt mài giũa và “chăn trâu”. Hễ còn thấy còn con trâu thì còn rong ruổi trên cánh đồng hơn thua và sở đắc. Cho nên thiền sư "cướp mất con trâu" của học trò. Trong khi đó, "cơm của người đói" là những thức ăn tinh thần mà người tu tìm kiếm: danh tiếng, tri thức, sở đắc, kinh nghiệm các tầng thiền, và cả các cảnh giới giác ngộ. Thiền sư tước bỏ hết những thứ ấy, khiến người học không còn chỗ nương tựa, phải trắng tay (không nắm giữ pháp nào). Cuối cùng, khi không còn trâu để cày và cũng không còn cơm nào để bám víu, người học sẽ trực diện thực tại trần trụi như nó đang là. Ngay tại đó, tâm vô ngã hiển lộ.
  

Chúng ta cũng có thể nhớ tới bài"Vô Sanh" trên báo Viên Âm Nguyệt San số 22, ấn bản tháng 7 và 8 năm 1936, được cho là của cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám. Nơi đây, tác giả dùng hình ảnh một cái bàn gỗ để dẫn người học từ lý duyên sinh đến tuệ giác vô ngã và tánh Không. Ngài Tâm Minh giải thích rằng cái bàn không tự nhiên xuất hiện. Nó phải nhờ gỗ, nhờ người thợ cưa xẻ, bào chuốt, ráp mộng, cùng vô số điều kiện khác mới thành hình. Vì vậy, cái bàn là một pháp do nhân duyên hòa hợp mà có.

Nhưng khi khảo sát kỹ hơn, ta không thể chỉ vào bất cứ bộ phận nào và nói: "Đây chính là cái bàn." Các tấm gỗ không phải là bàn. Công thợ không phải là bàn. Từng bộ phận riêng lẻ đều không phải là bàn. Cái gọi là "bàn" chỉ là một danh xưng tạm đặt cho sự kết hợp của nhiều yếu tố. Vì không tìm được một thực thể độc lập nào mang tên "bàn", nên cái bàn là "không có tự tánh", tức là tánh Không. Từ đó, cụ Tâm Minh đưa người đọc tiến xa hơn: sở dĩ ta chấp cái bàn là thật có vì tâm phân biệt đặt tên rồi bám chặt vào tên gọi ấy. Thực ra, "bàn" chỉ là giả danh. Khi thấy rõ điều đó, ta sẽ thấy mọi sự vật, kể cả thân tâm mình, cũng đều là những pháp duyên sinh, không có tự ngã riêng biệt.

Theo cụ, thấy được điều này không phải để phủ nhận thế giới, mà để bước vào Trung đạo. Khi biết các pháp là duyên hợp, không có thực thể cố định, hành giả dần buông bỏ chấp ngã, chấp pháp, không còn bị tham, sân, si chi phối. Chính đó là cửa ngõ đi vào cái thấy vô sanh: các pháp tuy hiện ra như có sinh diệt, nhưng chưa từng có một tự thể độc lập nào thật sự sinh hay thật sự diệt. Tuy cụ dùng Trung Luận để giải thích, nhưng cốt tủy vẫn là nội dung lời Đức Phật dạy trong Kinh Susima Sutta và Pháp Cú 279: không cần tìm kinh nghiệm huyền bí nào, chỉ cần thường trực thấy rõ mọi pháp đều do duyên hợp, không có tự ngã, thì ngay nơi cái bàn gỗ trước mắt cũng cho thấy toàn bộ con đường giải thoát.
  

Hãy tỉnh thức thường trực trong tuệ giải thoát đó. Hãy để các pháp nó như thế là như thế, tức là hãy giữ tâm Như thị. Nghĩa là, hãy để mọi thứ đang là như là đang là. Hãy để mọi thứ thấy nghe hay biết như là cái được thấy nghe hay biết. Hoàn toàn không thể tìm thấy người thấy, người nghe hay người cảm nhận nào ngoài các pháp duyên sinh đang hiện khởi rồi biến mất. Đó chính là cánh cửa đi vào vô ngã.

Đó là những gì chúng ta có thể kinh nghiệm, vì đây là cái trực tiếp sống với đời sống này, chứ không phải suy luận qua trung gian chữ nghĩa. Nói như các thiền sư, rằng hãy đốt hết kinh sách, và sống trực tiếp trong trận gió vô thường chảy xiết qua thân tâm mình. Hãy thấy vô thường đang diễn ra trong từng khoảnh khắc. Bạn nhìn lên bầu trời, vừa thấy một chùm mây, thì hình dạng của mây đã đổi khác. Bạn vừa nghe một nốt nhạc, thì nốt nhạc ấy đã biến mất để nốt nhạc kế tiếp tới. Không có cái được thấy, được nghe nào đứng yên, không có hình ảnh hay âm vang nào nguyên vẹn từ sát-na này sang sát-na khác.

Nơi đó, bạn nhận ra rằng hễ có sinh là có diệt, có tới là có đi, có hiện ra là sẽ có biến mất, và nơi đó không hề có cái gì gọi là “cái tôi, cái của tôi, cái ta, cái của ta” và các câu hỏi tự biến mất ngay khi bạn nhìn thấy con trâu bạn chăn dắt biến mất. Vô thường chính là cánh cửa đơn giản và gần gũi nhất để đi vào cái thấy vô ngã của tuệ giải thoát. Không cần đi vòng quanh. Xin nhớ rằng Đề Bà Đạt Đa đã chứng đắc tứ thiền, đã có nhiều thần thông, nhưng rồi vẫn rơi địa ngục khi “cái ta là” trong tâm ngài dẫn tới tội ngũ nghịch.
  

Do vậy, bạn hãy trực tiếp nhìn ngắm, hãy thường trực cảm nhận sự sinh diệt liên tục của các pháp ngay nơi thân tâm bạn đang thấy nghe hay biết. Bạn hãy cảm nhận trận gió vô thường chảy xiết nơi thân tâm bạn. Khi cảm nhận trận gió vô thường chảy xiết thân tâm, bạn sẽ thấy biến mất tất cả các tư lường, chữ nghĩa, văn tự, ký ức, sẽ thấy biến mất những vô lượng con trâu, những vô lượng cái tâm của ba thời, của hôm qua, hôm nay, ngày mai. Nơi đây, chư Tổ nói rằng hễ mở miệng là trễ rồi, vì mây đã tan và hoa đã rơi. Bạn hãy cảm nhận bạn đang đi đứng nằm ngồi như một cụm mây lung linh vô ngã trong cái thân tâm góp lại từ hàng tỷ hạt bụi vi trần. Thấy như thế là pháp trú, là vô cùng hạnh phúc.

 

 



Một siêu thị nổi tiếng của Ukraine ở khu vực phía nam Zaporizhzhia đã thông báo mở cửa lại vào thứ Bảy dưới sự quản lý mới của người Nga. Đây là dấu hiệu mới nhất cho thấy những nỗ lực của các lực lượng đang chiếm đóng của Nga nhằm xóa bỏ bản sắc của người Ukraine trong các vùng lãnh thổ do nước này kiểm soát.
... Thiệt tình! Có ai mà dè cái Tivi trắng đen (ngày ấy) nay vẫn còn là niềm ước mơ của mấy chú lính Putin...
Dân Biểu Hoa Kỳ Alan Lowenthal, Lou Correa, cùng đồng viện kêu gọi Quốc Hội không cung cấp ngân quỹ liên bang vào việc trục xuất người gốc tỵ nạn từ Việt Nam, Campuchia, và Lào...
Tiến sĩ Jacqueline Kim, một học giả do NCI tài trợ tại Khoa Tâm lý UCLA (UCLA Psychology Department) đang tiến hành nghiên cứu nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống cho những người Mỹ gốc Á được chẩn đoán mắc bệnh ung thư di căn (ung thư đã lây lan từ nơi bắt đầu đến một bộ phận xa khác của cơ thể, thường được gọi là Giai đoạn 4).
Tìm hiểu Lịch Sử Gia Đình Người Việt Tị Nạn là cuốn sách chúng tôi vừa xuất bản. Chúng tôi không tưởng được mình có thể hoàn thành cuốn sách giáo trình dày gần 200 trang chỉ trong vòng hai tháng trời, từ lúc bắt đầu bản thảo cho tới khi xuất bản...
Ukraine cho biết đã tái chiếm một thị trấn gần Kharkiv từ tay quân Nga. Kostiantyn Nemichev, một quan chức Quân Khu Kharkiv và là thành viên của trung đoàn Azov, cho biết các lực lượng Ukraine đã tái chiếm khu định cư Ruska Lozova, nằm ngay phía bắc Kharkiv.
USA Today, tờ báo có số lượng phát hành rộng rãi nhất nước Mỹ, hôm nay, 29/4, có bài đặc biệt về nữ tài tử Kiều Chinh nhân đánh dấu biến cố 30/4 với sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam...
Vương mạnh dạn quyết định biến nỗi đau Việt và những tổn thương giữa các thế hệ thành vẻ đẹp. "Để trở thành một con đập thiệt hại," Vương tiếp tục viết trong bài thơ "Not Even This." "Tôi nghĩ, sự tồi tệ của mình sẽ không thể xâm nhập vào thế giới và nhanh chóng trở thành anh hùng của mình." Quyết định rằng "từ nay sẽ là niềm vui", bài thơ kết thúc bằng sự tái sinh của Vương. Hình ảnh vượt qua những thương tích giữa các thế hệ, anh viết:" Những ngọn đèn rực sáng chung quanh tôi thành một khí hậu trắng xóa / và tôi bay bổng, ướt đẫm máu, ra khỏi mẹ, vào thế giới, gào thét / và có đủ." […] Trong bài thơ "Nothing", người kể xúc tuyết với người bạn đời, Peter: "Người đàn ông này và tôi, lấy những gì sẽ biến mất, bỏ qua một bên, cho trống chỗ." Người kể chứng kiến cảnh Peter âm thầm đương đầu với lịch sử của gia đình mình, cách anh ta hiểu tên anh được đặt theo tên của ông chú, em của bà nội, người Do Thái, đã chết khi chạy trốn Stalin.
Trong chiến tranh vừa qua ở Việt Nam (1954-1975), quân đội cộng sản Bắc Việt Nam tấn công mạnh mẽ khắp nơi vào đầu năm 1975, tiến chiếm Vùng I Chiến thuật, rồi vùng II Chiến thuật của Việt Nam Cộng Hòa, và xua quân đe dọa thủ đô Sài Gòn. (Điều nầy đã được viết nhiều, xin không trình bầy lại ở đây.) Tình hình quân sự đang dồn dập ngoài mặt trận, thì một cuộc vận động ngoại giao quốc tế âm thầm diễn ra, nhằm tránh sự sụp đổ của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ở Nam Việt Nam. Tích cực trong việc nầy là hai chính phủ Pháp và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa..
Tháng Ba 2019, ba tháng trước khi cuốn sách “Một Thoáng Rực Rỡ Chốn Nhân Gian” (On Earth We’re Briefly Gorgeous) của Ocean Vương phát hành, anh gọi cho nhà xuất bản từ bệnh viện: “Tôi không thể nào đi tour ra mắt sách được,” anh nói: “Mẹ tôi bị ung thư. Mọi thứ đều chấm dứt.” Lần đầu tiên bà Hồng, mẹ anh, vào bệnh viện cấp cứu với cơn đau dữ dội sau lưng, anh không bên cạnh Mẹ. Bệnh viện gởi bà về nhà với dải băng nóng dán sau lưng. Ocean Vương, lúc đó đang sống tại Northampton, Mass., cùng với Peter, đến thăm bà và đưa bà trở lại phòng cấp cứu, lần này, bác sĩ làm thử nghiệm và sau đó báo kết quả bà bị ung thư vú, giai đoạn thứ tư. Ung thư đã di căn vào xương sống, tủy sống của bà.
“Ấn tượng” không đủ để diễn tả sự mở đầu của Yaamava’ Theater - địa điểm giải trí hoàn toàn mới tại Yaamava’ Resort & Casino at San Manuel (trước đây là San Manuel Casino). Nhà hát mới này đã được khai trương vào thứ Năm, ngày 14 tháng 4, với buổi biểu diễn riêng độc quyền của các nghệ sĩ từng đoạt giải Grammy đến từ ban nhạc Red Hot Chili Peppers trên sân khấu hiện đại hoàn toàn mới.
Vào trưa ngày Chủ Nhật 24/04/2022, tại Viện Bảo Tàng Quân Lực VNCH (9842 Bolsa Ave B106, Westminster) đã có buổi thuyết trình về lịch sử Việt Nam Cộng Hòa, từ đó dẫn đến lịch sử người Việt tị nạn dành cho các em học sinh trung học thuộc các học khu Garden Grove và Westminster. Đây là một trong những hoạt động của viện bảo tàng nhân dịp tưởng niệm lần thứ 47 biến cố Tháng Tư Đen.
Sở Di trú và Nhập tịch Hoa Kỳ (USCIS) đã công bố một số biện pháp mới, bao gồm việc mở rộng việc duyệt xét nhanh đặc biệt (premium processing) với các loại mẫu đơn bổ túc, hỗ trợ các cá nhân đang chờ giấy phép lao động và thiết lập các mục tiêu để giảm tải việc tồn đọng trên toàn thể cơ quan. Sở Di trú Hoa kỳ, một tổ chức thu phí, đã phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt ngân sách chưa từng có và tồn đọng các hồ sơ duyệt xét vào năm 2020 và 2021 do đại dịch coronavirus và các hạn chế về nguồn lực. Theo số liệu cơ quan này công bố, có khoảng 9 triệu đơn đang chờ duyệt xét.
Tại hội trường Thư Viện Việt Nam vào lúc 2 giờ chiều Chủ Nhật ngày 24 tháng Tư năm 2022, Nhóm Hát Quỳnh Hoa đã tổ chức buổi văn nghệ đấu tranh tưởng niệm này Quốc Hận 30 tháng Tư và nguyện cầu cho quê hương Việt Nam sớm có tự do dân chủ. Tham dự buổi văn nghệ ngoài các thành viên trong nhóm hát Quỳnh Hoa còn có một số quý niên trưởng, quý chiến hữu thuộc các quân binh chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một số các cơ quan truyền thông và đồng hương, Niên trưởng Phan Kỳ Nhơn, Bà Nguyễn Thanh Thủy và phu quân, Nghị Viên Kimberly Hồ, ứng cử viên Dân Biểu Tiểu Bang…
Nhân mùa tưởng niệm Quốc hận 30 tháng Tư, Tại NT Dance Studio 15436 Brookhurst ST, Thành Phố Westminster CA 92683 vào lúc 2 giờ chiều Chủ Nhật ngày 24 tháng 4 năm 2022, Nhạc Sĩ Trần Chí Phúc đã tổ chức buổi nhạc “Lấy Lại Tên Sài Gòn”, Lấy Lại Tên Sài Gòn là đề tựa của bản nhạc trong số 18 bản nhạc mà Anh đã viết về Sài Gòn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.