Hôm nay,  

Hãy Thường Trực Thấy Vô Ngã

27/10/202619:11:00(Xem: 1082)
blank

Hãy Thường Trực Thấy Vô Ngã
 

Nguyên Giác

 

Hãy thấy vô ngã thường trực. Hãy thấy vô thường không ngừng. Hãy liên tục thấy cõi này bất an như lửa cháy. Sống trong kinh nghiệm thường trực như thế, sẽ ly tham, sẽ giải thoát. Đức Phật đã dạy như thế. Tùy theo duyên nhiều đời, và tùy theo tu tập nơi kiếp này, có người nghe về vô thường, hay vô ngã là tức khắc giải thoát; tương tự, với người khi nghe lời dạy về cõi này là khổ, là bất an. Vô thường và vô ngã không rời nhau, với nhiều Kinh ghi lời Đức Phật hỏi người tới học câu đầu tiên là “có phải mắt là vô thường, có phải tai là vô thường...” rồi Ngài nói về vô ngã, rằng không có cái gì gọi là tôi, không có gì gọi là của tôi; và vì vô thường với vô ngã, nên cõi này liên tục bất an, bất như ý, không ngừng tan rã. Thấy như thế, học nhân sẽ ly tham và giải thoát. Rất nhiều Kinh theo thứ tự như thế.
  

Trong tích truyện Kinh Pháp Cú số 277, có kể về 500 vị tỳ-kheo, sau khi nhận đề mục thiền định từ Đức Phật, đã vào rừng để thực hành thiền, nhưng họ đạt được rất ít tiến bộ. Vì vậy, họ quay lại gặp Đức Phật để xin một đề mục thiền định khác phù hợp hơn với mình. Sau khi quán xét, Đức Phật nhận thấy rằng trong thời của Đức Phật Ca-diếp (Kassapa Buddha), các vị tỳ-kheo này đã từng thực hành thiền quán về tính vô thường. Do đó, Ngài dạy: "Này các tỳ-kheo, tất cả các pháp hữu vi đều phải chịu sự biến đổi và hoại diệt, vì vậy chúng đều là vô thường."

Rồi Đức Phật đọc bài kệ, theo bản dịch Pháp Cú của Thầy Minh Châu:

277. Tất cả hành vô thường. Với Tuệ, quán thấy vậy. Đau khổ được nhàm chán; Chính con đường thanh tịnh.

Khi bài thuyết pháp kết thúc, năm trăm vị tỳ-kheo ấy đã đạt được quả A-la-hán. Tương tự, trong hai trường hợp khác, với mỗi trường hợp là 500 vị sư khi nghe lời dạy khổ và vô ngã là chứng đắc quả A la hán, ghi lại trong tích truyện Pháp Cú ở bài kệ 278 và 279, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:

278. Tất cả hành khổ đau. Với Tuệ quán thấy vậy, Đau khổ được nhàm chán; Chính con đường thanh tịnh.

279. Tất cả pháp vô ngã. Với Tuệ quán thấy vậy, Đau khổ được nhàm chán; Chính con đường thanh tịnh.
  

Chúng ta nên hình dung rằng, chuyện của quý ngài lúc đó không giống như kiểu chúng ta bây giờ ngồi trong hội trường nghe pháp. Cho dù nhiều lần nghe lời dạy về vô ngã, nhưng chúng ta không thấy minh bạch cái thực tướng vô ngã trong thân tâm như quý ngài. Quý ngài lúc đó tới gặp Đức Phật sau khi đã hành thiền nhiều năm, chứ không chỉ hiểu bằng tri thức. Chúng ta nghe về vô ngã, nghĩ về vô ngã bằng ký ức chữ nghĩa. Trong khi đó, quý ngài sống và cảm nhận trực tiếp về vô ngã ngay trong từng hơi thở, không qua chữ nghĩa ký ức. Quý ngài trực tiếp tự quán chiếu thân tâm: thân này luôn biến đổi, cảm thọ luôn sinh diệt, nhận thức đổi thay từng sát-na, không có một "cái tôi" thường hằng nào trong thân và tâm. Và tất cả những gì được chúng sinh trong đời thường gọi là "ta", hay "của ta" chỉ là sự kết hợp tạm thời của các duyên. Trí tuệ quý ngài bừng sáng. Mọi kiến chấp, mọi bám víu đối với thân, tâm và thế giới liền tan rã. Tham ái không còn chỗ nương tựa, ngã mạn bị nhổ tận gốc, các lậu hoặc hoàn toàn đoạn diệt. Ngay tại chỗ ngồi, năm trăm vị tỳ-kheo chứng đắc quả vị A-la-hán, tâm hoàn toàn giải thoát.
  

Chỉ thấy thường trực vô ngã là đã đủ giải thoát, vì tham ái không bám được vào nơi nào trong thân tâm, không dính gì được nơi ngũ uẩn. Không cần định, không cần thần thông. Đây là một điểm rất quan trọng trong Kinh Susima Sutta (SN 12.70) và thường được các học giả Phật giáo dẫn ra để chứng minh rằng trong Phật giáo, A-la-hán quả không đòi hỏi phải thành tựu các thần thông hay các tầng thiền theo nghĩa thường gặp.

Trong Kinh Susima Sutta, du sĩ Susima (nguyên là ngoại đạo mới xin nhập chúng được vài tuần lễ) rất ngạc nhiên khi nghe nhiều vị sư tuyên bố đã chứng quả A-la-hán và được Đức Phật công nhận. Du sĩ hỏi các vị ấy rằng quý ngài có thiên nhãn không, có thiên nhĩ không, có biết tâm người khác không, có nhớ các đời quá khứ không? Các vị A-la-hán trong Kinh này đều trả lời: "Không." Du sĩ Susima lại bối rối, hỏi rằng: nếu không có các thần thông ấy thì làm sao có thể là A-la-hán?

Trong Tạng A Hàm, nơi Kinh SA 347 (tương ưng với Kinh Susima Sutta), theo bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ và Thích Đức Thắng, Susima phiên âm là Tu-thâm, viết như sau:

“Tu-thâm bạch Tỳ-kheo: Bạch Tôn giả, thế nào, có phải học ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác, có quán, có hỷ lạc phát sanh do viễn ly, thành tựu Sơ thiền, là không khởi lên các lậu, tâm khéo giải thoát?” (ngưng trích)

Tỳ kheo trả lời ngài Tu-thâm rằng quý ngài không đắc định, không thành tựu Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền... mà chỉ được tuệ giải thoát.

Đức Phật giải thích trong Kinh Susima Sutta rằng điều cốt lõi của giải thoát không nằm ở thần thông mà nằm ở chánh trí. Các vị ấy là những người được gọi là "tuệ giải thoát". Bản dịch của ngài Bodhi dịch là “liberated by wisdom”. Bản dịch của ngài Sujato dịch là “freed by wisdom”. Bản dịch của ngài Thanissaro dịch là “released through discernment”. Bản dịch Thầy Minh Châu ghi là, “Này Hiền giả Susīma, dù cho ông có biết hay ông không biết, chúng tôi chứng được tuệ giải thoát.”
  

Làm cách nào để chứng được tuệ giải thoát? Đức Phật trong Kinh này dạy Susima, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: “Này Susima, trước hết là trí về pháp trú, sau là trí về Niết-bàn.”

Bản dịch của Thầy Bodhi là: “First, Susīma, comes knowledge of the stability of the Dhamma, afterwards knowledge of Nibbāna.”

Bản dịch của Thầy Sujato là: “Susīma, first comes knowledge of the stability of natural principles. Afterwards there is knowledge of extinguishment.”

Bản dịch của Thầy Thanissaro là: “First, Susima, there is the knowledge of the regularity of the Dhamma [dependent co-arising], after which there is the knowledge of Unbinding.”

Trong Kinh SA 347 của Tạng A Hàm, ghi lời Đức Phật giải thích: “Phật bảo Tu-thâm: Trước hết họ biết pháp trụ, sau đến biết Niết-bàn. Các thiện nam ấy một mình ở nơi thanh vắng, chuyên cần tinh tấn tư duy, sống không buông lung, xa lìa ngã kiến, không khởi lên các lậu, tâm khéo giải thoát.”

Ngắn gọn, đối chiếu các cách dịch trên, có thể nói cho dễ hiểu: Đức Phật dạy rằng muốn có tuệ giải thoát, trước hết cần phải thấy, hiểu vận hành của Pháp, của Luật duyên khởi (chữ trong Thiền Tông là: Thấy Tánh, hay gọi là Thấy Tánh Không), sau đó sẽ thấy Niết Bàn.
  

Kế tiếp, Đức Phật hỏi Susima có phải sắc là vô thường hay không (sắc là: sắc thanh hương vị xúc pháp – tức là: cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường). Và như thế là khổ, là vô ngã.

Rồi Đức Phật dạy Susima, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: “Do vậy, này Susīma, cái gì thuộc sắc pháp quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc pháp cần phải được quán như chơn như sau: Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.”

Chỉ thấy như thế thường trực, là sẽ ly tham, và sẽ giải thoát. Kinh Susima Sutta đặc biệt quan trọng vì cho thấy có nhiều vị A-la-hán tự nói không đắc định, không đắc thần thông và chỉ có tri kiến giải thoát, tức là thấy đúng thực tánh của các pháp. Trong một cuộc thảo luận vài năm trước trên mạng Sutta Central, một số học giả hiện đại nhận định rằng các vị này có thể chỉ chứng được mức định tối thiểu cần thiết cho minh sát, đôi khi được các truyền thống hậu kỳ gọi là cận định (upacāra samādhi) hoặc một mức định vừa đủ để duy trì chánh niệm và tuệ quán. Đó cũng vẫn là sự diễn giải của người đời sau, chứ không phải lời ghi trực tiếp trong kinh. Đọc kỹ, sẽ thấy Kinh Susima Sutta ghi lời quý ngài là chưa đắc định, chưa đắc cả Sơ thiền. Vì vậy, Kinh Susima Sutta là một trong những bản kinh cụ thể nhất nói rằng tuệ giải thoát là con đường trực tiếp dẫn đến quả vị A-la-hán.
  

Thiền Tông Trung Hoa nói rằng người tu phải thấy thường trực vô ngã tức là thấy Tánh, tức là thấy thân tâm mình không hề có tâm nào để tu, tức là không hề thấy có cái gì gọi là sắc thanh hương vị xúc pháp để gọi là sắc thanh hương vị xúc pháp, tức là thấy không hề có con trâu nào để chăn dắt như lộ trình Mười Bức Tranh Chăn Trâu. Trong tuyển tập Bích Nham Lục Của Thiền Sư Phật Quả Viên Ngộ, nơi tắc số 3 có câu nói về nhiệm vụ của bậc thầy trong cửa thiền là: "Nếu là bổn phận Tông sư, đến trong đây phải có thủ đoạn, cướp trâu của người cày, đoạt cơm của người đói..."

Người cày, tức là người tu, phải dắt trâu (điều tâm) đi cày ruộng để có cơm cho hết đói (cơm là Chánh pháp). Khi bị tước đoạt thân tâm, sẽ thấy không có cái gì gọi là tâm để tu nữa (vì thường trực thấy vô ngã). Tương tự, trong sách Pháp Diễn Thiền Sư Ngữ Lục do Pháp Sư Tài Lương biên soạn, cũng ghi về thầy giỏi là phải biết tước đoạt: "Sư Thượng đường nêu: Cổ nhân nói: Phàm là thiện tri thức phải là cướp trâu của người cày đoạt lấy cơm của người đói. Đuổi trâu cày bừa làm cho lúa mạ của họ tốt tươi, đoạt cơm của người đói làm cho họ dứt được cơn đói."
  

Có thể giải thích đơn giản hơn, và cũng truyền thống hơn, rằng vị Thầy giỏi phải chỉ cho Thiền sinh thấy rằng thân tâm và thế giới này đang từng khoảnh khắc bị vô thường tước đoạt, và thực sự cũng không có cái gì gọi là tâm (hình ảnh con trâu) để bị tước đoạt bởi vì tất cả các pháp trong thế gian này chỉ là âm vang, là trăng hiện dưới nước, là ảnh chiếu trong gương, là ráng nắng ban chiều.

Con trâu chính là cái tâm mà chúng ta biện biệt mài giũa và “chăn trâu”. Hễ còn thấy còn con trâu thì còn rong ruổi trên cánh đồng hơn thua và sở đắc. Cho nên thiền sư "cướp mất con trâu" của học trò. Trong khi đó, "cơm của người đói" là những thức ăn tinh thần mà người tu tìm kiếm: danh tiếng, tri thức, sở đắc, kinh nghiệm các tầng thiền, và cả các cảnh giới giác ngộ. Thiền sư tước bỏ hết những thứ ấy, khiến người học không còn chỗ nương tựa, phải trắng tay (không nắm giữ pháp nào). Cuối cùng, khi không còn trâu để cày và cũng không còn cơm nào để bám víu, người học sẽ trực diện thực tại trần trụi như nó đang là. Ngay tại đó, tâm vô ngã hiển lộ.
  

Chúng ta cũng có thể nhớ tới bài"Vô Sanh" trên báo Viên Âm Nguyệt San số 22, ấn bản tháng 7 và 8 năm 1936, được cho là của cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám. Nơi đây, tác giả dùng hình ảnh một cái bàn gỗ để dẫn người học từ lý duyên sinh đến tuệ giác vô ngã và tánh Không. Ngài Tâm Minh giải thích rằng cái bàn không tự nhiên xuất hiện. Nó phải nhờ gỗ, nhờ người thợ cưa xẻ, bào chuốt, ráp mộng, cùng vô số điều kiện khác mới thành hình. Vì vậy, cái bàn là một pháp do nhân duyên hòa hợp mà có.

Nhưng khi khảo sát kỹ hơn, ta không thể chỉ vào bất cứ bộ phận nào và nói: "Đây chính là cái bàn." Các tấm gỗ không phải là bàn. Công thợ không phải là bàn. Từng bộ phận riêng lẻ đều không phải là bàn. Cái gọi là "bàn" chỉ là một danh xưng tạm đặt cho sự kết hợp của nhiều yếu tố. Vì không tìm được một thực thể độc lập nào mang tên "bàn", nên cái bàn là "không có tự tánh", tức là tánh Không. Từ đó, cụ Tâm Minh đưa người đọc tiến xa hơn: sở dĩ ta chấp cái bàn là thật có vì tâm phân biệt đặt tên rồi bám chặt vào tên gọi ấy. Thực ra, "bàn" chỉ là giả danh. Khi thấy rõ điều đó, ta sẽ thấy mọi sự vật, kể cả thân tâm mình, cũng đều là những pháp duyên sinh, không có tự ngã riêng biệt.

Theo cụ, thấy được điều này không phải để phủ nhận thế giới, mà để bước vào Trung đạo. Khi biết các pháp là duyên hợp, không có thực thể cố định, hành giả dần buông bỏ chấp ngã, chấp pháp, không còn bị tham, sân, si chi phối. Chính đó là cửa ngõ đi vào cái thấy vô sanh: các pháp tuy hiện ra như có sinh diệt, nhưng chưa từng có một tự thể độc lập nào thật sự sinh hay thật sự diệt. Tuy cụ dùng Trung Luận để giải thích, nhưng cốt tủy vẫn là nội dung lời Đức Phật dạy trong Kinh Susima Sutta và Pháp Cú 279: không cần tìm kinh nghiệm huyền bí nào, chỉ cần thường trực thấy rõ mọi pháp đều do duyên hợp, không có tự ngã, thì ngay nơi cái bàn gỗ trước mắt cũng cho thấy toàn bộ con đường giải thoát.
  

Hãy tỉnh thức thường trực trong tuệ giải thoát đó. Hãy để các pháp nó như thế là như thế, tức là hãy giữ tâm Như thị. Nghĩa là, hãy để mọi thứ đang là như là đang là. Hãy để mọi thứ thấy nghe hay biết như là cái được thấy nghe hay biết. Hoàn toàn không thể tìm thấy người thấy, người nghe hay người cảm nhận nào ngoài các pháp duyên sinh đang hiện khởi rồi biến mất. Đó chính là cánh cửa đi vào vô ngã.

Đó là những gì chúng ta có thể kinh nghiệm, vì đây là cái trực tiếp sống với đời sống này, chứ không phải suy luận qua trung gian chữ nghĩa. Nói như các thiền sư, rằng hãy đốt hết kinh sách, và sống trực tiếp trong trận gió vô thường chảy xiết qua thân tâm mình. Hãy thấy vô thường đang diễn ra trong từng khoảnh khắc. Bạn nhìn lên bầu trời, vừa thấy một chùm mây, thì hình dạng của mây đã đổi khác. Bạn vừa nghe một nốt nhạc, thì nốt nhạc ấy đã biến mất để nốt nhạc kế tiếp tới. Không có cái được thấy, được nghe nào đứng yên, không có hình ảnh hay âm vang nào nguyên vẹn từ sát-na này sang sát-na khác.

Nơi đó, bạn nhận ra rằng hễ có sinh là có diệt, có tới là có đi, có hiện ra là sẽ có biến mất, và nơi đó không hề có cái gì gọi là “cái tôi, cái của tôi, cái ta, cái của ta” và các câu hỏi tự biến mất ngay khi bạn nhìn thấy con trâu bạn chăn dắt biến mất. Vô thường chính là cánh cửa đơn giản và gần gũi nhất để đi vào cái thấy vô ngã của tuệ giải thoát. Không cần đi vòng quanh. Xin nhớ rằng Đề Bà Đạt Đa đã chứng đắc tứ thiền, đã có nhiều thần thông, nhưng rồi vẫn rơi địa ngục khi “cái ta là” trong tâm ngài dẫn tới tội ngũ nghịch.
  

Do vậy, bạn hãy trực tiếp nhìn ngắm, hãy thường trực cảm nhận sự sinh diệt liên tục của các pháp ngay nơi thân tâm bạn đang thấy nghe hay biết. Bạn hãy cảm nhận trận gió vô thường chảy xiết nơi thân tâm bạn. Khi cảm nhận trận gió vô thường chảy xiết thân tâm, bạn sẽ thấy biến mất tất cả các tư lường, chữ nghĩa, văn tự, ký ức, sẽ thấy biến mất những vô lượng con trâu, những vô lượng cái tâm của ba thời, của hôm qua, hôm nay, ngày mai. Nơi đây, chư Tổ nói rằng hễ mở miệng là trễ rồi, vì mây đã tan và hoa đã rơi. Bạn hãy cảm nhận bạn đang đi đứng nằm ngồi như một cụm mây lung linh vô ngã trong cái thân tâm góp lại từ hàng tỷ hạt bụi vi trần. Thấy như thế là pháp trú, là vô cùng hạnh phúc.

 

 



Thêm nỗi lo COVID-19. Tổ chức Y Tế Thế Giới WHO nói hôm Thứ Hai rằng nơi này đang quan sát vài chục trường hợp nghi từ 2 biến chủng của Omicron để xem có nguy hiểm hay không. Hai biến chủng mới này là BA.4 và BA.5, chị em của BA.1 Omicron.
Quân đội Cộng sản Việt Nam khoe “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”, nhưng sau 78 năm ra đời (22/12/1944) lực lượng này không vượt qua nổi “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” ngay trong hàng ngũ mình và đe dọa sự tồn vong của chế độ...
Trong sáu tuần qua, tên lửa và pháo của Nga đã phá hủy các thành phố, nhà cửa, bệnh viện và trường học của Ukraina. Nhưng chiến tranh cũng đã len lỏi tới các vùng đồng bằng màu mỡ của một khu vực được mệnh danh là vựa lúa mì của châu Âu, làm tê liệt mùa màng, phá hủy các kho đựng lúa và cây giống, đồng thời mang lại hậu quả tàn khốc đối với một quốc gia đang cung ứng một phần lớn ngũ cốc của cả thế giới.
Khi bom rơi, đạn nổ ập xuống nơi đâu thì sinh mệnh nơi đó đều chịu chung thảm trạng máu đổ, thân phơi, tan xương, nát thịt! Nạn nhân có thể không đồng loại, nhưng máu đổ ra thì cùng mầu đỏ, nước mắt trào, cùng vị mặn như nhau!
Những nước nhược tiểu lọt vào vùng tranh chấp giữa các cường quốc, nhất là lại ở cạnh môt nước lớn thường khó có khả năng chọn lựa đường lối ngoai giao theo ý muốn. Phần Lan (giáp biên giời vơi Nga) và Áo (giáp ranh với các nước thuôc khối Warsaw Pact) đều theo chính sách trung lập trong thời Chiến Tranh Lạnh để xoa dịu Liên Xô.
Thật tình Putin đang lo sợ cho số mạng của ông ta và cả ngôi vị Tổng thống mà ông đã cố công dọn sẵn chờ ông cho tới năm 2036. Trước nhứt, ông lo sợ trong nội bộ, như cựu Thủ tướng Dmitri Medvedev bị thất sủng và bị ra rìa trước thế lực của cánh «siloviki» (quân đội và an ninh), Bộ trưởng Quốc phòng Serguei và Tham mưu trưởng Valery Guerrassimov, bỗng vắng bóng, giới trí thức yêu chuộng dân chủ tự do có thái độ bất mãn....
Theo NBC News, Lãnh đạo thiểu số Hạ Viện Kevin McCarthy (Cộng Hòa-CA) sẽ phải ân hận vì đã rút các dân biểu Cộng Hòa ra khỏi Ủy Ban Hạ Viện Điều Tra Bạo Loạn 6/1/2021 sau khi Chủ Tịch Hạ Viện Nancy Pelosi từ chối vài lựa chọn của McCarthy.
Chùa Hương Sen sẽ tổ chức một cuộc thi viết văn bằng tiếng Việt hoặc bằng tiếng Anh về ứng dụng Phật Pháp trong đời sống hàng ngày. Mục đích của cuộc thi giải thưởng là khuyến khích việc sáng tác cá nhân, xuất phát từ nguồn cảm xúc đối với các việc xảy ra trong đời sống xã hội hàng ngày
UKRAINE Thứ Bảy ngày 9 tháng 4 năm 2022, Thủ tướng Áo Karl Nehammer và Thủ tướng Anh Boris Johnson đã đến Kyiv để gặp Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky để thể hiện sự hỗ trợ, theo tin của báo DN, Thụy điển. Trước đó Chủ tịch Ủy ban Châu Âu Ursula von der Leyen và Đại diện Ngoại giao EU Josep Borrell cũng đã đến thăm Kyiv vào thứ Sáu ngày 8 tháng 4 năm 2022.
Từ Rạch Giá – hôm 21 tháng 3 năm 2022 – nhà văn Thận Nhiên đã gửi đến độc giả xa gần tấm hình của người đàn ông gầy gò/đen đủi, ngồi trên chiếc xe lôi (trong một con phố nào đó) ở thị xã này. Bức ảnh tuy chỉ đơn sơ và giản dị thế thôi nhưng vẫn khiến tôi không khỏi ngậm ngùi...
Nga nói rằng các nước Liên Âu có đường biên giới với Nga và Belarus đã chận một số xe vận tải đăng bộ ở 2 nước này, không cho vào kể từ Thứ Sáu 8/4/2022 vì cớ cấm vận, theo Sở Hải Quan Nga. Sở này nói nhiều xe vận tải hàng quốc tế đang dùng số xe đăng bộ Nga và Belarus cũng bị chận như thế.
California: đang đứng đưa tiền vào máy để mua vé số cào, bất ngờ bị ai đụng mạnh, bấm nhầm nút, trúng độc đắc 10 triệu đôla. Cô LaQuedra Edwards không muốn mua vé số cào giá $30 đô. Khi đưa $40 vào máy California Lottery Scratchers ở siêu thị Tarzana tháng 11/2021 ý định chỉ mua vé số cào rẻ hơn.
Từ nhỏ đến lớn, tôi luôn nghi ngờ hai chữ “anh hùng”. Từ thơ ấu, ý nghĩa “anh hùng” đối với tôi, to tác nhưng mơ hồ. Rồi già theo tuổi, ý nghĩa này nhỏ dần, càng nhỏ càng rõ ràng. Sống đến 70 tuổi, chắc chắn đã gặp gỡ, chuyện trò, chứng kiến nhiều loại anh hùng, nhưng hầu hết, khả năng nghi ngờ của tôi khá đúng. Lần lượt các anh hùng lộ dần ra bản chất tiểu nhân (không có nghĩa người xấu, chỉ kém hơn bình thường.) Tôi dùng chữ “anh hùng” bao gồm nam nữ, trẻ già, vì tránh khỏi phải viết: chị hùng, bé hùng, cụ hùng. (Tôi đã thấy cụ hùng chống gậy ra giữa quân thù chiếm đóng làng xóm và chửi rủa thậm tệ, xem cái chết nhẹ như lông gà. Thấy chị hùng đưa dao bén lên cổ tay và thề sẽ cắt đứt mạch máu nếu chồng đi theo vợ bé. Thấy bé hùng dám đánh nhau với những đứa lớn hơn. Nhưng rồi, từ từ, họ hết hùng. Hoặc buồn thê thảm, hoặc khóc tỉ tê, hoặc đưa tay đầu hàng sau trận đòn túi bụi. Có lẽ, anh hùng chỉ xuất hiện trong giây phút hoặc giai đoạn ngắn, sau đó anh hùng bỏ thân xác ra đi,
Kể từ khi Ukraine hứng chịu cuộc xâm lược ngày 24 tháng 2 năm 2022, các thành phố lớn đã bị bao vây trong không kích và đạn pháo. Thương vong gia tăng, bạo lực leo thang, khói lửa chiến trang đã đẩy 3,7 triệu người vào cuộc sống xa xứ, gây ra cuộc khủng hoảng tị nạn nghiêm trọng nhất ở châu Âu kể từ sau Thế Chiến II. Việc ném bom vô tội vạ vào các khu đô thị, bao gồm thủ đô Kyiv, thành phố lớn thứ hai Kharkiv và thành phố cảng phía nam Mariupol, đã làm dấy lên lo ngại rằng các lực lượng Nga sẽ đi vào vết xe đổ của sự tàn phá điên cuồng, như đã từng gây ra trong các cuộc xung đột trước đây ở Chechnya và Syria. Các di sản văn hóa phong phú của Ukraine đang đứng trước nguy cơ bị thiệt hại không thể phục hồi. Các đài kỷ niệm và bảo tàng, đại diện cho nguồn ký ức và bản sắc dân tộc mạnh mẽ, đang trân mình trong bom đạn. Giao tranh đã càn quét qua các địa điểm văn hóa như Bảo Tàng Nghệ Thuật Kuindzhi ở Mariupol, Thư Viện Phục Hưng Gothic ở Chernihiv
Những bài thơ về chiến tranh của Halyna Kruk thật xót xa. Cô ấy nhặt từng nắm đất Ukraine ra khai quật những mảnh vụn đổ nát của lịch sử. Đất mẹ màu mỡ của Ukraine, được gọi là "chernozem" hoặc "đất đen", từng được trồng trọt và nuôi dưỡng bằng bàn tay và tình yêu của người nông dân Ukraine. Vựa lúa mì của châu Âu “lẽ ra” phải sản xuất ngũ cốc cho Liên Bang Xô Viết “hùng mạnh”. Đức Quốc Xã đã từng cho vùng đất này là tiềm năng “lãnh thổ”* dành cho giống dân thượng tôn thuần chủng mắt xanh. Mảnh đất đã gieo bao hoa màu này cũng từng chôn vùi biết bao đau thương của lịch sử. Như Timothy Snyder đã đề cập trong cuốn Bloodlands** 2012, "Tro cốt con người cũng bón phân."
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.