Hôm nay,  

Hãy Thường Trực Thấy Vô Ngã

27/10/202619:11:00(Xem: 23)
blank

Hãy Thường Trực Thấy Vô Ngã
 

Nguyên Giác

 

Hãy thấy vô ngã thường trực. Hãy thấy vô thường không ngừng. Hãy liên tục thấy cõi này bất an như lửa cháy. Sống trong kinh nghiệm thường trực như thế, sẽ ly tham, sẽ giải thoát. Đức Phật đã dạy như thế. Tùy theo duyên nhiều đời, và tùy theo tu tập nơi kiếp này, có người nghe về vô thường, hay vô ngã là tức khắc giải thoát; tương tự, với người khi nghe lời dạy về cõi này là khổ, là bất an. Vô thường và vô ngã không rời nhau, với nhiều Kinh ghi lời Đức Phật hỏi người tới học câu đầu tiên là “có phải mắt là vô thường, có phải tai là vô thường...” rồi Ngài nói về vô ngã, rằng không có cái gì gọi là tôi, không có gì gọi là của tôi; và vì vô thường với vô ngã, nên cõi này liên tục bất an, bất như ý, không ngừng tan rã. Thấy như thế, học nhân sẽ ly tham và giải thoát. Rất nhiều Kinh theo thứ tự như thế.
  

Trong tích truyện Kinh Pháp Cú số 277, có kể về 500 vị tỳ-kheo, sau khi nhận đề mục thiền định từ Đức Phật, đã vào rừng để thực hành thiền, nhưng họ đạt được rất ít tiến bộ. Vì vậy, họ quay lại gặp Đức Phật để xin một đề mục thiền định khác phù hợp hơn với mình. Sau khi quán xét, Đức Phật nhận thấy rằng trong thời của Đức Phật Ca-diếp (Kassapa Buddha), các vị tỳ-kheo này đã từng thực hành thiền quán về tính vô thường. Do đó, Ngài dạy: "Này các tỳ-kheo, tất cả các pháp hữu vi đều phải chịu sự biến đổi và hoại diệt, vì vậy chúng đều là vô thường."

Rồi Đức Phật đọc bài kệ, theo bản dịch Pháp Cú của Thầy Minh Châu:

277. Tất cả hành vô thường. Với Tuệ, quán thấy vậy. Đau khổ được nhàm chán; Chính con đường thanh tịnh.

Khi bài thuyết pháp kết thúc, năm trăm vị tỳ-kheo ấy đã đạt được quả A-la-hán. Tương tự, trong hai trường hợp khác, với mỗi trường hợp là 500 vị sư khi nghe lời dạy khổ và vô ngã là chứng đắc quả A la hán, ghi lại trong tích truyện Pháp Cú ở bài kệ 278 và 279, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:

278. Tất cả hành khổ đau. Với Tuệ quán thấy vậy, Đau khổ được nhàm chán; Chính con đường thanh tịnh.

279. Tất cả pháp vô ngã. Với Tuệ quán thấy vậy, Đau khổ được nhàm chán; Chính con đường thanh tịnh.
  

Chúng ta nên hình dung rằng, chuyện của quý ngài lúc đó không giống như kiểu chúng ta bây giờ ngồi trong hội trường nghe pháp. Cho dù nhiều lần nghe lời dạy về vô ngã, nhưng chúng ta không thấy minh bạch cái thực tướng vô ngã trong thân tâm như quý ngài. Quý ngài lúc đó tới gặp Đức Phật sau khi đã hành thiền nhiều năm, chứ không chỉ hiểu bằng tri thức. Chúng ta nghe về vô ngã, nghĩ về vô ngã bằng ký ức chữ nghĩa. Trong khi đó, quý ngài sống và cảm nhận trực tiếp về vô ngã ngay trong từng hơi thở, không qua chữ nghĩa ký ức. Quý ngài trực tiếp tự quán chiếu thân tâm: thân này luôn biến đổi, cảm thọ luôn sinh diệt, nhận thức đổi thay từng sát-na, không có một "cái tôi" thường hằng nào trong thân và tâm. Và tất cả những gì được chúng sinh trong đời thường gọi là "ta", hay "của ta" chỉ là sự kết hợp tạm thời của các duyên. Trí tuệ quý ngài bừng sáng. Mọi kiến chấp, mọi bám víu đối với thân, tâm và thế giới liền tan rã. Tham ái không còn chỗ nương tựa, ngã mạn bị nhổ tận gốc, các lậu hoặc hoàn toàn đoạn diệt. Ngay tại chỗ ngồi, năm trăm vị tỳ-kheo chứng đắc quả vị A-la-hán, tâm hoàn toàn giải thoát.
  

Chỉ thấy thường trực vô ngã là đã đủ giải thoát, vì tham ái không bám được vào nơi nào trong thân tâm, không dính gì được nơi ngũ uẩn. Không cần định, không cần thần thông. Đây là một điểm rất quan trọng trong Kinh Susima Sutta (SN 12.70) và thường được các học giả Phật giáo dẫn ra để chứng minh rằng trong Phật giáo, A-la-hán quả không đòi hỏi phải thành tựu các thần thông hay các tầng thiền theo nghĩa thường gặp.

Trong Kinh Susima Sutta, du sĩ Susima (nguyên là ngoại đạo mới xin nhập chúng được vài tuần lễ) rất ngạc nhiên khi nghe nhiều vị sư tuyên bố đã chứng quả A-la-hán và được Đức Phật công nhận. Du sĩ hỏi các vị ấy rằng quý ngài có thiên nhãn không, có thiên nhĩ không, có biết tâm người khác không, có nhớ các đời quá khứ không? Các vị A-la-hán trong Kinh này đều trả lời: "Không." Du sĩ Susima lại bối rối, hỏi rằng: nếu không có các thần thông ấy thì làm sao có thể là A-la-hán?

Trong Tạng A Hàm, nơi Kinh SA 347 (tương ưng với Kinh Susima Sutta), theo bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ và Thích Đức Thắng, Susima phiên âm là Tu-thâm, viết như sau:

“Tu-thâm bạch Tỳ-kheo: Bạch Tôn giả, thế nào, có phải học ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác, có quán, có hỷ lạc phát sanh do viễn ly, thành tựu Sơ thiền, là không khởi lên các lậu, tâm khéo giải thoát?” (ngưng trích)

Tỳ kheo trả lời ngài Tu-thâm rằng quý ngài không đắc định, không thành tựu Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền... mà chỉ được tuệ giải thoát.

Đức Phật giải thích trong Kinh Susima Sutta rằng điều cốt lõi của giải thoát không nằm ở thần thông mà nằm ở chánh trí. Các vị ấy là những người được gọi là "tuệ giải thoát". Bản dịch của ngài Bodhi dịch là “liberated by wisdom”. Bản dịch của ngài Sujato dịch là “freed by wisdom”. Bản dịch của ngài Thanissaro dịch là “released through discernment”. Bản dịch Thầy Minh Châu ghi là, “Này Hiền giả Susīma, dù cho ông có biết hay ông không biết, chúng tôi chứng được tuệ giải thoát.”
  

Làm cách nào để chứng được tuệ giải thoát? Đức Phật trong Kinh này dạy Susima, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: “Này Susima, trước hết là trí về pháp trú, sau là trí về Niết-bàn.”

Bản dịch của Thầy Bodhi là: “First, Susīma, comes knowledge of the stability of the Dhamma, afterwards knowledge of Nibbāna.”

Bản dịch của Thầy Sujato là: “Susīma, first comes knowledge of the stability of natural principles. Afterwards there is knowledge of extinguishment.”

Bản dịch của Thầy Thanissaro là: “First, Susima, there is the knowledge of the regularity of the Dhamma [dependent co-arising], after which there is the knowledge of Unbinding.”

Trong Kinh SA 347 của Tạng A Hàm, ghi lời Đức Phật giải thích: “Phật bảo Tu-thâm: Trước hết họ biết pháp trụ, sau đến biết Niết-bàn. Các thiện nam ấy một mình ở nơi thanh vắng, chuyên cần tinh tấn tư duy, sống không buông lung, xa lìa ngã kiến, không khởi lên các lậu, tâm khéo giải thoát.”

Ngắn gọn, đối chiếu các cách dịch trên, có thể nói cho dễ hiểu: Đức Phật dạy rằng muốn có tuệ giải thoát, trước hết cần phải thấy, hiểu vận hành của Pháp, của Luật duyên khởi (chữ trong Thiền Tông là: Thấy Tánh, hay gọi là Thấy Tánh Không), sau đó sẽ thấy Niết Bàn.
  

Kế tiếp, Đức Phật hỏi Susima có phải sắc là vô thường hay không (sắc là: sắc thanh hương vị xúc pháp – tức là: cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường). Và như thế là khổ, là vô ngã.

Rồi Đức Phật dạy Susima, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: “Do vậy, này Susīma, cái gì thuộc sắc pháp quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc pháp cần phải được quán như chơn như sau: Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.”

Chỉ thấy như thế thường trực, là sẽ ly tham, và sẽ giải thoát. Kinh Susima Sutta đặc biệt quan trọng vì cho thấy có nhiều vị A-la-hán tự nói không đắc định, không đắc thần thông và chỉ có tri kiến giải thoát, tức là thấy đúng thực tánh của các pháp. Trong một cuộc thảo luận vài năm trước trên mạng Sutta Central, một số học giả hiện đại nhận định rằng các vị này có thể chỉ chứng được mức định tối thiểu cần thiết cho minh sát, đôi khi được các truyền thống hậu kỳ gọi là cận định (upacāra samādhi) hoặc một mức định vừa đủ để duy trì chánh niệm và tuệ quán. Đó cũng vẫn là sự diễn giải của người đời sau, chứ không phải lời ghi trực tiếp trong kinh. Đọc kỹ, sẽ thấy Kinh Susima Sutta ghi lời quý ngài là chưa đắc định, chưa đắc cả Sơ thiền. Vì vậy, Kinh Susima Sutta là một trong những bản kinh cụ thể nhất nói rằng tuệ giải thoát là con đường trực tiếp dẫn đến quả vị A-la-hán.
  

Thiền Tông Trung Hoa nói rằng người tu phải thấy thường trực vô ngã tức là thấy Tánh, tức là thấy thân tâm mình không hề có tâm nào để tu, tức là không hề thấy có cái gì gọi là sắc thanh hương vị xúc pháp để gọi là sắc thanh hương vị xúc pháp, tức là thấy không hề có con trâu nào để chăn dắt như lộ trình Mười Bức Tranh Chăn Trâu. Trong tuyển tập Bích Nham Lục Của Thiền Sư Phật Quả Viên Ngộ, nơi tắc số 3 có câu nói về nhiệm vụ của bậc thầy trong cửa thiền là: "Nếu là bổn phận Tông sư, đến trong đây phải có thủ đoạn, cướp trâu của người cày, đoạt cơm của người đói..."

Người cày, tức là người tu, phải dắt trâu (điều tâm) đi cày ruộng để có cơm cho hết đói (cơm là Chánh pháp). Khi bị tước đoạt thân tâm, sẽ thấy không có cái gì gọi là tâm để tu nữa (vì thường trực thấy vô ngã). Tương tự, trong sách Pháp Diễn Thiền Sư Ngữ Lục do Pháp Sư Tài Lương biên soạn, cũng ghi về thầy giỏi là phải biết tước đoạt: "Sư Thượng đường nêu: Cổ nhân nói: Phàm là thiện tri thức phải là cướp trâu của người cày đoạt lấy cơm của người đói. Đuổi trâu cày bừa làm cho lúa mạ của họ tốt tươi, đoạt cơm của người đói làm cho họ dứt được cơn đói."
  

Có thể giải thích đơn giản hơn, và cũng truyền thống hơn, rằng vị Thầy giỏi phải chỉ cho Thiền sinh thấy rằng thân tâm và thế giới này đang từng khoảnh khắc bị vô thường tước đoạt, và thực sự cũng không có cái gì gọi là tâm (hình ảnh con trâu) để bị tước đoạt bởi vì tất cả các pháp trong thế gian này chỉ là âm vang, là trăng hiện dưới nước, là ảnh chiếu trong gương, là ráng nắng ban chiều.

Con trâu chính là cái tâm mà chúng ta biện biệt mài giũa và “chăn trâu”. Hễ còn thấy còn con trâu thì còn rong ruổi trên cánh đồng hơn thua và sở đắc. Cho nên thiền sư "cướp mất con trâu" của học trò. Trong khi đó, "cơm của người đói" là những thức ăn tinh thần mà người tu tìm kiếm: danh tiếng, tri thức, sở đắc, kinh nghiệm các tầng thiền, và cả các cảnh giới giác ngộ. Thiền sư tước bỏ hết những thứ ấy, khiến người học không còn chỗ nương tựa, phải trắng tay (không nắm giữ pháp nào). Cuối cùng, khi không còn trâu để cày và cũng không còn cơm nào để bám víu, người học sẽ trực diện thực tại trần trụi như nó đang là. Ngay tại đó, tâm vô ngã hiển lộ.
  

Chúng ta cũng có thể nhớ tới bài"Vô Sanh" trên báo Viên Âm Nguyệt San số 22, ấn bản tháng 7 và 8 năm 1936, được cho là của cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám. Nơi đây, tác giả dùng hình ảnh một cái bàn gỗ để dẫn người học từ lý duyên sinh đến tuệ giác vô ngã và tánh Không. Ngài Tâm Minh giải thích rằng cái bàn không tự nhiên xuất hiện. Nó phải nhờ gỗ, nhờ người thợ cưa xẻ, bào chuốt, ráp mộng, cùng vô số điều kiện khác mới thành hình. Vì vậy, cái bàn là một pháp do nhân duyên hòa hợp mà có.

Nhưng khi khảo sát kỹ hơn, ta không thể chỉ vào bất cứ bộ phận nào và nói: "Đây chính là cái bàn." Các tấm gỗ không phải là bàn. Công thợ không phải là bàn. Từng bộ phận riêng lẻ đều không phải là bàn. Cái gọi là "bàn" chỉ là một danh xưng tạm đặt cho sự kết hợp của nhiều yếu tố. Vì không tìm được một thực thể độc lập nào mang tên "bàn", nên cái bàn là "không có tự tánh", tức là tánh Không. Từ đó, cụ Tâm Minh đưa người đọc tiến xa hơn: sở dĩ ta chấp cái bàn là thật có vì tâm phân biệt đặt tên rồi bám chặt vào tên gọi ấy. Thực ra, "bàn" chỉ là giả danh. Khi thấy rõ điều đó, ta sẽ thấy mọi sự vật, kể cả thân tâm mình, cũng đều là những pháp duyên sinh, không có tự ngã riêng biệt.

Theo cụ, thấy được điều này không phải để phủ nhận thế giới, mà để bước vào Trung đạo. Khi biết các pháp là duyên hợp, không có thực thể cố định, hành giả dần buông bỏ chấp ngã, chấp pháp, không còn bị tham, sân, si chi phối. Chính đó là cửa ngõ đi vào cái thấy vô sanh: các pháp tuy hiện ra như có sinh diệt, nhưng chưa từng có một tự thể độc lập nào thật sự sinh hay thật sự diệt. Tuy cụ dùng Trung Luận để giải thích, nhưng cốt tủy vẫn là nội dung lời Đức Phật dạy trong Kinh Susima Sutta và Pháp Cú 279: không cần tìm kinh nghiệm huyền bí nào, chỉ cần thường trực thấy rõ mọi pháp đều do duyên hợp, không có tự ngã, thì ngay nơi cái bàn gỗ trước mắt cũng cho thấy toàn bộ con đường giải thoát.
  

Hãy tỉnh thức thường trực trong tuệ giải thoát đó. Hãy để các pháp nó như thế là như thế, tức là hãy giữ tâm Như thị. Nghĩa là, hãy để mọi thứ đang là như là đang là. Hãy để mọi thứ thấy nghe hay biết như là cái được thấy nghe hay biết. Hoàn toàn không thể tìm thấy người thấy, người nghe hay người cảm nhận nào ngoài các pháp duyên sinh đang hiện khởi rồi biến mất. Đó chính là cánh cửa đi vào vô ngã.

Đó là những gì chúng ta có thể kinh nghiệm, vì đây là cái trực tiếp sống với đời sống này, chứ không phải suy luận qua trung gian chữ nghĩa. Nói như các thiền sư, rằng hãy đốt hết kinh sách, và sống trực tiếp trong trận gió vô thường chảy xiết qua thân tâm mình. Hãy thấy vô thường đang diễn ra trong từng khoảnh khắc. Bạn nhìn lên bầu trời, vừa thấy một chùm mây, thì hình dạng của mây đã đổi khác. Bạn vừa nghe một nốt nhạc, thì nốt nhạc ấy đã biến mất để nốt nhạc kế tiếp tới. Không có cái được thấy, được nghe nào đứng yên, không có hình ảnh hay âm vang nào nguyên vẹn từ sát-na này sang sát-na khác.

Nơi đó, bạn nhận ra rằng hễ có sinh là có diệt, có tới là có đi, có hiện ra là sẽ có biến mất, và nơi đó không hề có cái gì gọi là “cái tôi, cái của tôi, cái ta, cái của ta” và các câu hỏi tự biến mất ngay khi bạn nhìn thấy con trâu bạn chăn dắt biến mất. Vô thường chính là cánh cửa đơn giản và gần gũi nhất để đi vào cái thấy vô ngã của tuệ giải thoát. Không cần đi vòng quanh. Xin nhớ rằng Đề Bà Đạt Đa đã chứng đắc tứ thiền, đã có nhiều thần thông, nhưng rồi vẫn rơi địa ngục khi “cái ta là” trong tâm ngài dẫn tới tội ngũ nghịch.
  

Do vậy, bạn hãy trực tiếp nhìn ngắm, hãy thường trực cảm nhận sự sinh diệt liên tục của các pháp ngay nơi thân tâm bạn đang thấy nghe hay biết. Bạn hãy cảm nhận trận gió vô thường chảy xiết nơi thân tâm bạn. Khi cảm nhận trận gió vô thường chảy xiết thân tâm, bạn sẽ thấy biến mất tất cả các tư lường, chữ nghĩa, văn tự, ký ức, sẽ thấy biến mất những vô lượng con trâu, những vô lượng cái tâm của ba thời, của hôm qua, hôm nay, ngày mai. Nơi đây, chư Tổ nói rằng hễ mở miệng là trễ rồi, vì mây đã tan và hoa đã rơi. Bạn hãy cảm nhận bạn đang đi đứng nằm ngồi như một cụm mây lung linh vô ngã trong cái thân tâm góp lại từ hàng tỷ hạt bụi vi trần. Thấy như thế là pháp trú, là vô cùng hạnh phúc.

 

 



Theo thông báo, bà Navi Pillay được trao Giải Nobel Hòa bình năm 2026 vì những nỗ lực thúc đẩy hòa bình và luật pháp quốc tế. Ủy ban Nobel ghi nhận đóng góp lâu dài của bà đối với nhân quyền, công lý quốc tế và việc truy cứu trách nhiệm về tội ác chiến tranh, tội ác chống nhân loại và diệt chủng. Bà nhận tin khi đang tham dự một hội nghị pháp lý quốc tế tại Nuremberg, Đức. Và bà chỉ biết tin sau khi giải thưởng được công bố vì Ủy Ban Nobel không thể liên lạc với bà.
Vùng Appalachia: số người xin cứu đói tăng 25%, thực phẩm liên bang cấp giảm 1/3 - Có hơn 5 triệu người, trong đó có ít nhất 1 triệu trẻ em, đã bị cắt trợ cấp thực phẩm
- Nhân Viên ICE Bắn Ít Nhất Bảy Phát Đạn Vào Xe Giữa Phố New York, Một Người Bị Thương, Bé Trai 5 Tuổi Thoát Nạn - Thủ Tướng Canada Bác Bỏ Lời Kêu Gọi Ly Khai Của Elon Musk: Tương Lai Canada Do Dân Canada Quyết Định - Iran Gia Tăng Tấn Công Tàu Dầu Tại Eo Biển Hormuz, Gây Thêm Áp Lực Lên Trump Trước Bầu Cử Giữa Nhiệm Kỳ - Trump Tuyên Bố Ai Còn Gọi AI Là “Trí Tuệ Nhân Tạo” Đều Là “Kẻ Thù” - Mạnh Thường Quân Của Trump Tố Gia Đình Tổng Thống Làm Giàu, Chê Thế Giới Của Họ Đầy Trò Bẩn Thỉu - Hoa Kỳ Sẽ Truyền Hình Trực Tiếp Cuộc Hành Quyết Bằng Đội Súng, Lần Đầu Tiên Trong Lịch Sử - Chính Quyền Trump Điều Tra 9 Đại Học Hàng Đầu Hoa Kỳ Về Visa Sinh Viên Và Nhà Nghiên Cứu Ngoại Quốc - Đà Nẵng Quyết Dẹp Nạn Ăn Xin Trước Cuối Năm 2026 Để Thu Hút Du Khách - Nobel Hòa Bình 2026 Sắp Có Chủ Nhân: 287 Ứng Viên, Trump Và Thủ Tướng Canada Được Nhắc Tên
Tôi không thức dậy mỗi sáng, pha một tách cà phê rồi mở báo ra xem thế giới hôm nay có chuyện gì. Chúng ta không còn một tờ báo lớn, vững vàng và đáng tin cậy đến mức chỉ cần đọc nó là đủ biết những gì cần biết. Chúng ta cũng không có một hệ thống truyền hình tin tức lớn nào đưa tin mà không khiến người xem, ít nhất đôi lúc, cảm thấy mình ngu đi một chút. Thay vào đó là những công ty truyền thông đang vật lộn tìm lợi tức, đem tin tức bọc trong lớp áo giải trí để bán cho độc giả. Mạng xã hội lại buộc ngay cả những nguồn tin tốt phải chẻ nội dung thành từng mẩu nhỏ mới mong có người đọc, trong khi những nguồn tệ nhất thì liên tục tung ra tin câu người đọc, tin kích giận dữ và tin sai lạc.
Tuần trước, chính quyền Tổng thống Trump đã nối lại việc duyệt xét hồ sơ xin chiếu khán di dân cho Hungary và Ba Lan, nhưng tiếp tục tạm thời đình chỉ các cuộc hẹn chiếu khán di dân tại tất cả các quốc gia khác. Bộ Ngoại giao không trả lời các câu hỏi về lý do tại sao họ chỉ nối lại việc duyệt xét chiếu khán di dân cho Hungary và Ba Lan. Ông Trump từ lâu luôn phản đối di dân bất hợp pháp, nhưng trong nhiệm kỳ thứ hai tại Nhà Trắng, ông cũng tích cực thực hiện các biện pháp nhằm làm giảm di dân hợp pháp. Hoa Kỳ đã áp đặt lệnh cấm đi lại đối với hàng chục quốc gia, đưa ra các khoản phí mới đắt đỏ đối với một số loại chiếu khán làm việc và yêu cầu tất cả đương đơn xin chiếu khán phải trải qua quá trình kiểm tra lịch sử hoạt động trên mạng xã hội.
Ba nhà khoa học Karl Deisseroth, Peter Hegemann và Georg Nagel vừa đoạt Giải Nobel Y Khoa 2026 nhờ công trình giúp con người dùng ánh sáng để điều khiển hoạt động của tế bào thần kinh. Điều đáng chú ý là câu chuyện ấy bắt đầu không phải từ não người, mà từ một loài tảo đơn bào rất nhỏ có tên Chlamydomonas. Peter Hegemann, thuộc Humboldt University of Berlin, và Georg Nagel, thuộc University of Würzburg, ban đầu chỉ muốn biết một câu hỏi căn bản: làm sao loài tảo này nhận ra ánh sáng và bơi về phía có ánh sáng?
Một thiết bị cấy trên não vừa giúp hai người bị liệt điều khiển một hình đại diện ảo để vừa “nói” vừa làm cử chỉ cùng lúc — điều mà phần lớn các giao diện não–máy tính trước đây chưa làm được. Công trình, công bố trên tạp chí Nature Neuroscience ngày 14 tháng 9, 2026, vẫn còn ở giai đoạn thử nghiệm rất sớm. Nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng kỹ thuật này một ngày nào đó có thể giúp người bị liệt giao tiếp tự nhiên hơn, hoặc điều khiển tay chân giả bằng ý nghĩ. Trong đời sống hằng ngày, lời nói và cử chỉ thường đi chung với nhau. Một người nói “có lẽ” trong khi gật đầu sẽ truyền đạt ý nghĩa khác hẳn với khi vừa nói vừa lắc đầu.
Nhà vật lý Francis Halzen, 82 tuổi, được trao Giải Nobel Vật Lý 2026 hôm Thứ Ba, 6 tháng 10, nhờ những đóng góp quyết định cho Đài Quan Sát Neutrino IceCube và việc khám phá các neutrino năng lượng cao có nguồn gốc ngoài Trái Đất. Halzen sinh tại Bỉ, hiện là giáo sư Đại Học Wisconsin–Madison. Ông đã dành nhiều thập niên theo đuổi một ý tưởng có vẻ gần như không tưởng: biến lớp băng sâu dưới Nam Cực thành một kính thiên văn khổng lồ để tìm những hạt neutrino cực kỳ khó phát hiện.
Một mũi kim rất nhỏ, cắm vào một điểm nhất định trên cơ thể, thoạt nghe khó có thể liên hệ với chuyện giảm đau. Nhưng ngày càng có thêm bằng chứng cho thấy châm cứu có thể kích hoạt một loạt phản ứng trong mô liên kết, hệ thần kinh và não bộ, từ đó làm giảm cảm giác đau ở một số người. Châm cứu, bắt nguồn từ y học cổ truyền Trung Hoa, từ lâu vẫn đứng giữa hai thế giới: được sử dụng rộng rãi để trị đau, nhưng cũng thường bị xem là hiệu ứng giả dược.
Google vừa phóng một vệ tinh thử nghiệm cỡ chiếc tủ lạnh lên quỹ đạo thấp quanh Trái Đất, mở đầu cho một ý tưởng nghe như khoa học giả tưởng: đưa những trung tâm dữ liệu phục vụ trí tuệ nhân tạo lên không gian. Vệ tinh được phóng ngày 1 tháng 10 trên hỏa tiễn SpaceX, thuộc Project Suncatcher, chương trình của Google nhằm thử xem những bộ óc điện tử của hãng có chịu nổi cuộc sống ngoài khí quyển hay không.
Các công tố viên cho biết tại tòa vào thứ Tư rằng Miao đã bay một chiều về Trung Quốc cách đây hai tuần; họ gọi ông là "Cá nhân số 1" (Individual 1). Bộ Tư pháp chưa buộc tội ông về bất kỳ hành vi sai trái nào, và một người thân mô tả ông là người "hay nghe theo người khác" (follower), khó có khả năng tham gia vào các hoạt động tinh vi của chính phủ.
Nếu bạn là cử tri Quận Boone, nơi phía Bắc tiểu bang Kentucky, hẳn là bạn biết nhiều hơn những người Việt nơi khác về ứng cử viên gốc Việt Lianna Nguyen (Đảng Dân Chủ) đang tranh một ghế cấp quận. Kentucky là một tiểu bang không có nhiều người Việt cư trú, do vậy cô Lianna Nguyen tập trung vào các vấn đề chung mà cử tri thường quan tâm. Thêm nữa, cô Lianna Nguyen là một điển hình của thế hệ thứ nhì của cộng đồng Việt tại Hoa Kỳ.
• Trump Lại Giở Chiêu Trò Mua Phiếu, Phát $90 Cho Người Hưởng Medicare Trước Bầu Cử, Hàng Chục Triệu Người Bị Loại • Dầu Vọt Lên 105 Mỹ Kim, Chứng Khoán Lao Dốc Vì Trump Cân Nhắc Tấn Công Iran Trở Lại • Nga Oanh Tạc Hai Xe Buýt Ở Ukraine, Ít Nhất 33 Người Thiệt Mạng • Trump Bị Người Biểu Tình Liên Tiếp Cắt Lời Trong Cuộc Vận Động Tranh Cử Tại Texas • Dân Chủ Hứa Khôi Phục Trợ Cấp Y Tế Nếu Giành Được Hạ Viện • Hai Vụ Kiện Nhắm Vào Quảng Cáo Dùng Tiền Thuế Của Trump • Hoa Kỳ Dự Tính Thu Lệ Phí 70.000 Mỹ Kim Đối Với Sinh Viên Ngoại Quốc Muốn Làm Việc • Bị Tiêm Thuốc Độc Hành Quyết, Sáu Ngày Sau Christa Pike Tỉnh Dậy, Phẫn Nộ Và Hoang Mang: “Tôi Đang Ở Đâu?” • Cảnh Sát Pháp Đàn Áp Biểu Tình Học Sinh: Một Em Vỡ Hàm, Một Em Mất Bàn Tay, Hơn 6,500 Người Bị Bắt • Nobel Văn Chương 2026 Vinh Danh Anne Carson, Nhà Thơ, Nhà Văn, Dịch Giả Canada
Nói về chữ "văn phong" hẳn là có những định nghĩa rất mực uyên bác trong sách vở. Một thời tôi đã từng học những thứ rất phức tạp trong các chứng chỉ Triết học, và bây giờ tôi đã quên sạch. Trong đầu tôi không còn chữ nào (không phải là vô niệm, như kiểu các Thiền sư nói; mà thực tế là vô tự, tức là không có chữ nào hiện lên trong tâm, và tôi không nhớ tôi đã tu tập kiểu nào mà lại ra như thế). Tôi cũng không phải chuyên gia về ngữ học. Nơi đây tôi chỉ muốn nói theo kiểu rất mực học trò thời mới lớn (may ra còn vài chữ), rằng văn phong là cái giọng mình nhận ra sau một cuộc nói chuyện với một ai đó. Thí dụ, bạn nhớ rằng hồi sáng, bạn nói chuyện gì đó với một thiếu nữ trên chuyến xe buýt, rồi bạn nhớ tới giọng Huế của cô này, tiếng cô cười dòn tan và dịu dàng khi từ biệt xuống trạm. Đọc một cuốn sách cũng thế, khi bạn gấp sách lại, bạn sẽ nhớ tới giọng riêng của từng tác giả và không khí truyện. Thí dụ, văn phong trong truyện Bố Già hiển nhiên là khác với trong Hoàng Tử Bé.
Đúng 1 giờ trưa thứ Năm, giờ Stockholm, Viện Hàn Lâm Thụy Điển công bố quyết định trao giải Nobel Văn Chương năm nay cho Anne Carson, người phụ nữ thứ 19 nhận được vinh dự này. Trong lời tuyên dương, Viện Hàn Lâm Thụy Điển vinh danh bà: “Vì sự nghiệp sáng tác táo bạo, độc đáo, qua cuộc đối thoại tài tình và dí dỏm với truyền thống văn chương cổ điển, đã khai mở những hình thức biểu đạt mới cho văn học đương đại.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.