Hôm nay,  

Vải Bao Cát

1/31/202000:00:00(View: 7144)
Cao Xuan Huy
Nhà văn Cao Xuân Huy 

 

 

Lời tòa soạn: Nhà văn Cao Xuân Huy sinh 1947, nguyên quán Bắc Ninh, đi lính 02/1968, bị bắt làm tù binh 03/1975, vượt biển đến Mỹ 10/1983, nguyên Tổng thư ký tạp chí Văn Học, mất 11/2010. Ông viết ít, xuất bản chỉ hai tác phẩm: Tháng Ba Gãy Súng, thể dạng bút ký chiến tranh, và tập truyện Vài Mẩu Chuyện. Đề tài ông viết thường xoay quanh cuộc chiến Việt Nam vì suốt thời thanh xuân ông cầm súng chiến đấu không ngừng, thân thể hơn một lần hằn vết thương chiến tranh và khi cuộc chiến kết thúc thì cả tâm hồn lẫn thể xác bị đày ải trong các lao tù cải tạo Cộng sản. Cuốn Tháng Ba Gãy Súng ông viết sau khi đã vượt thoát ra hải ngoại, cuốn sách ghi chép lại cuộc tháo chạy kinh hoàng của quân dân miền Nam sau khi thua trận, đầu hàng, tái bản ít nhất 14 lần, được xem là một trong những tác phẩm viết về chiến tranh Việt Nam trung thực nhất. Cuốn sách gắn liền với tên tuổi tác giả, nhắc đến Cao Xuân Huy người ta nghĩ ngay đến nhan đề Tháng Ba Gãy Súng. Ông cũng là một trong những thành viên trụ cột của tờ tạp chí Văn Học cùng với nhiều nhà văn khác như Nguyễn Mộng Giác, Trịnh Y Thư… Việt Báo hân hạnh giới thiệu đến quý độc giả bốn phương truyện ngắn Vải Bao Cát dưới đây, một truyện ngắn tiêu biểu cho đề tài và phong cách văn học của nhà văn Cao Xuân Huy. (Được biết NXB Văn Học Press trong năm 2020 sẽ cho xuất bản Cao Xuân Huy Toàn Tập, nhân dịp giỗ năm thứ 10 của nhà văn.)

 

*

 

Hùng mơ màng, suy nghĩ. Đã nhiều lần anh chàng tự nhủ, ừ, tại sao lại không, tại sao lại không nghĩ nhỉ. Không có gì quý hơn độc lập tự do, thì tại sao lại không tận hưởng cái quyền độc lập và tự do không giới hạn này, nghĩ. Nghĩ thế, Hùng cứ một mình tiếp tục ung dung suy nghĩ, đố đứa nào báo cáo, chúng mày có giỏi thì kiểm thảo xem. Nghĩ, miên man hết chuyện này sang chuyện khác. Chuyện giày cao gót, chuyện giày saut, chuyện dép râu, rồi thì chuyện củ sắn củ khoai... Kể cả chuyện một mai anh trở về dang dở đời em...

   Ấy thế mà, cái phần gia tài duy nhất ấy rồi cũng cạn dần theo năm tháng. Hùng bây giờ như phiến đá, như cây rừng. Thôi ngủ yên đi “con”, ngủ cho qua cơn mộng dữ này. Đừng vui, đừng buồn, đừng hy vọng thì lấy gì mà tuyệt vọng.

   “Hùng, mày tiếc bữa ăn sáng phải không?”

   Lại cái thằng Phương lý tài, Hùng giấm giẳn:

   “Tiếc cái con củ cải tao ấy, càng đỡ phải nhịn đi cầu.”

   “Không tiếc thì tại sao lại cứ thừ người ra như vậy?”

   “Thừ với thiếc cái mẹ gì. Có bốn cái khoái trên đời...”

   “Áp-phe thì phải vậy chứ. Muốn được cái nọ thì phải bỏ cái kia. Bỏ cái khoái thứ nhất đổi lấy cái thứ ba, lời thêm được cái thứ tư, cái đỡ phải nhịn... còn than gì nữa?”

   “Cái khoản thứ ba ấy à, cái khoản này, mẹ, “nhìn ” còn không có, có chi “chi”. Tao với cái khoản ấy đã ly tán từ cơn gió bụi này rồi.”

   “Ly tán? Sắp ‘tha hương ngộ cố tri’ chứ.”

   “Ừ thì “ngộ cố tri.’”

   Không muốn nói chuyện thêm với Phương, Hùng quay đi. Nhưng cái vụ “ngộ cố tri” cứ lẩn quẩn trong đầu.

   Đã bao năm rồi không thấy nó,

   Mà ta vẫn sống, có lạ không?

   Hùng lắc đầu, vậy mà cũng đòi làm thơ, lạ mẹ gì, thi sĩ mà không có óc tưởng tượng, hoặc kiếm được gì gợi hứng cho sự tưởng tượng, anh mới than thân như vậy. Chứ còn như ta đây:

   Ta “sờ râu” ta cho đỡ nhớ

   Không thanh tâm tuyền,

   Không Thanh Tâm Tuyền!

   Hùng bật cười, vừa ngâm nga một cách thú vị, vừa đưa tay xoa xoa, sờ sờ cái cằm lởm chởm râu. Bộ râu chẳng phải vật “tư hữu” của Hùng là gì. Vậy mà, có mỗi bộ râu để “sờ”, anh chàng cũng phải để một cách lén lút. Mà râu thì ở ngay trên mặt, ở ngay trên cằm chứ có kín đáo gì cho cam, để lén thế quái nào được, làm sao mà để “chui” cho được, hơi lởm chởm thế này cũng đã là một kỳ công rồi. Thành thử ra...

   Ta sờ râu ta cho đỡ nhớ...

   Râu thì cũng lại đành là, có đủ đâu để mà sờ, nhưng chút nữa đây, một chút nữa thôi, cái “cố tri”, cái mà Hùng phải sờ râu “cho đỡ nhớ” sẽ hiện ra, ngay trước mặt, bằng “xương”, bằng thịt.

Mắt Hùng sáng lên khi thây toán tải thương thâp thoáng ngoài cổng trạm xá. Ta đợi em từ ba mươi năm. Cuối cùng thì Hùng cũng sẽ được nhìn, có thể còn được cả chạm tay vào cái “em”, cái mà lâu nay anh chàng chỉ được nhìn ngắm, chiêm nghiệm qua trí nhớ, mà mấy năm nay anh chàng chỉ được sờ, được mân mó qua chính cái... cằm của mình. Cái “em” ấy đang đến gần, đang tình cờ đến gần và lọt thỏm vào tầm tay Hùng.

   Hùng đã phải năn nỉ, ỉ ôi, đã phải nộp nguyên phần ăn sáng ngày hôm sau cho cái thằng Phương nhất định giành “công tác” cầm đèn với mình. Đói thì đã đói rồi, nhịn thêm một bữa ăn sáng cũng vẫn chỉ là đói, chứ có thằng Tây nào chết đâu. Nhịn phần ăn sáng để đổi lấy việc cầm đèn.

   Cầm đèn!

   Ừ, cầm đèn. Chỉ cần nghĩ đến cảnh một chút nữa đây, tay trái cầm đèn soi thật rõ để tay phải lần cởi cái cúc áo, nhẹ nhàng cởi cái giải rút... Trời ơi, Phương ơi, dù có phải nộp mười phần ăn sáng cho mày tao cũng ừ, chứ đừng nói là có mỗi một phần. Thiên hạ cứ hay nói “ăn cái giải gì” một cách ngon lành, mà chắc gì đã hiểu được cái giá trị “kinh tế vĩ đại” này. Thế hóa ra cái “giải rút”, trong một vài trường hợp cũng “ăn” được đấy chứ, Phương nhỉ.

   Toán tải thương dùng võng cáng vào phòng mổ một người con gái bị trúng mảnh đạn M-79 khi cô nàng đang cuốc đất. Nhìn con mồi mơn mởn nằm trên võng, mắt nhắm nghiền, mặt tái xanh, Hùng mỉm cười. Qua kinh nghiệm, rõ ràng là cô nàng thiếp đi vì sợ, chứ vết thương tuy nhiều, máu ra cũng khá, nhưng, ối giào, một loại kiến cắn, cao lắm cũng chỉ ngang với gà mổ là cùng, đâu nguy hiểm đến nỗi mà phải ngất đi như thế kia.

   Bác sĩ Thông, buông dao đang băm dây lang nấu cháo heo xuống, rửa vội tay trong thau nước, quẹt quẹt hai tay vào hai bên hông, rồi chạy thẳng vào phòng mổ. Thiên chức thầy thuốc khiến bác sĩ Thông nhà ta đành phải buông dao nuôi heo chuyển sang cầm dao cứu người.

   Phòng mổ, một gian nhà tranh, vách trét đất, bên trong kê một cái bàn bằng gỗ tạp để dao kéo.

Giường mổ, một cái chõng tre, có giăng mùng để che ruồi.

   Hùng mặt mũi hớn hở đứng sẵn trong mùng, tay cầm đèn quơ qua quơ lại trên thân thể cô gái lúc đó vẫn chưa tỉnh, miệng không ngớt réo Phương đang ngồi hì hục quay máy phát điện bên ngoài:

   “Mạnh tay lên chút coi. Đèn mờ quá.”

   “Mờ cái gì? Có câm mồm đi không?”

   “Mẹ kiếp, một bữa ăn sáng, nhớ nghe con.”

   Bác sĩ Thông cười cười:

   “Cũng mua bán được à?”

   “Mua chứ! Ba bốn năm nay mới có một thuở mà, ông ơi. Vợ con thì đã chẳng...”

   “Còn thằng Phương?”

   “Nó dân địa phương ông ơi, vợ nó ở ngay đây, lâu lâu vẫn “mang” vào cho nó. Ít nhất thì dù lén lút, ‘xuân thu’ nó cũng còn được ‘nhị kỳ.’”

   “Thôi đủ rồi cha nội, làm việc đi. Mà cởi từ từ thôi nghe. Chỗ mấy vết thương, nhẹ tay nghe cha.”

   “Yên tâm đi bác sĩ. Chỗ nào cũng nhẹ tay hết. Mọi chỗ, mọi chỗ đều nhẹ tay, nhẹ tay...”

   Dù hai hàm răng đang trong thời kỳ giống như miền Nam vào những ngày cuối tháng Tư, Hùng vẫn dùng răng ngậm đèn để rảnh tay cởi quần áo cô gái. Cố gắng dùng thật ít ngón tay để cởi cúc áo, mấy ngón còn lại Hùng cố tình vi phạm hiệp định, lấn đất giành... da!

   Người con gái vẫn nằm bất động, hai mắt nhắm nghiền.

   Bác sĩ Thông nhìn Hùng, khó chịu, hơi gắt:

   “Nhanh tay lên! Cái ngữ anh, chỉ cần làm y tá một buổi là tôi tống cổ ra tác chiến rồi.”

   Hai hàm răng Hùng vẫn cắn lấy cái đèn:

   “Thế ông mới là bác sĩ. Chứ tôi có phải là bác sĩ đâu mà ông không cho tôi động lòng... lương y như từ mẫu.”

   Hùng vừa banh áo cô gái ra, vừa lẩm bẩm một mình:

   “Cha mẹ ơi, gái quê, suốt ngày ngoài nắng mà sao da thịt trắng đến thế này!”

   “Ông đang ‘khấn tiên sư’ gì đấy?”

   “Con khô mực này đâu có banh ra được, phải cởi ra chứ?”

   “Làm lẹ đi cha nội!”

   “Ông cầm hộ tôi cái đèn.”

   Hùng vòng hai tay ra sau lưng cô gái, mũi dí sát vào một bên cổ cô nàng hít hít. Mùi khét nắng từ tóc, mùi hơi thở từ miệng, mùi da thịt giống cái từ dưới vành tai thốc thẳng vào mũi Hùng. Mê mẩn, lúc này, mùi gì từ trong thân thể cô gái toát ra mà chẳng làm anh chàng mê mẩn. Không biết vì lâu ngày không “nhớ chỗ” hay vì cố tình lính quýnh, mà anh chàng cứ như thằng hậu đậu, loay hoay mãi mới tháo được cái móc.

   “Ôi chao” trắng quá nhìn không “da.”

   Hùng liếm môi, Bộ ngực bi thương “co... ó... ” rợn tình. Hai cái núm như hai “nốt ruồi son” đỏ hồng, con gái nguyên si? “Vú em chum chủm chũm cau, Cho anh bóp tí, nhỡ đau anh đền.” Trời ơi! Thế này thì có chết người ta không cơ chứ. Chết chứ, chết thật chứ chẳng chơi. Đền, nhất định là anh đền, dù đền bằng gì anh cũng vẫn cứ đền. Vẫn là cứ đền...

   Những vết thương loang máu trên bụng, trên ngực làm cho nước da càng như trắng thêm. Da trắng thế này mà bì bạch thì phải biết! Anh chàng ngẩn ra, bị hai “nốt ruồi son” thôi miên mất rồi.

   “Cởi nốt cái quần, rồi xê ra cho tôi làm việc!”

   Tiếng bác sĩ Thông khiến Hùng chợt tỉnh. Bây giờ mới bắt đầu vào cao điểm của “chiến dịch tiến chiếm mục tiêu.”

   “Cố tri” ơi, ta sắp “ngộ” nhau rồi!

   Hai mắt Hùng hau háu.

   Hai tay Hùng lính quýnh.

   Hùng từ từ kéo quần cô gái xuống.

   Hồi hộp.

   Đợi chờ.

   Trời ơi, bao nhiêu năm, bao nhiêu tháng, bao nhiêu ngày. Hôm nay tao mới gặp mày, “cố tri” ơi. Không còn phải tưởng tượng nữa, không còn phải sờ râu nữa. Tao sẽ nhìn mày tận mắt, tao sẽ bắt mày tận tay, tao sẽ day mày tận...

   Hùng háo hức đắm chìm theo những tưởng tượng...

   Bất chợt, hai mắt đang hau háu chợt dịu lại.

   Lúng túng.

   Hai tay đang tụt quần cô gái chợt khựng lại.

   Ngập ngừng.

   “Làm gì mà đứng nghệt ra vậy?”

   Hùng như không nghe tiếng bác sĩ Thông, vẫn đứng trơ ra, mắt như dán vào mảnh vải che phần dưới thân thể cô gái.

   Đờ đẫn.

   Thẫn thờ.

   Mắt Hùng như dại đi.

   Trong đầu, chập chùng những hình ảnh. Giao thông hào, lô cốt, hầm chữ A, hầm chữ T. Tiếng   bom, tiếng mìn, tiếng lựu đạn, không giật, sơn pháo. Những đợt tấn công, phản công. Những xác người, xác ta, xác địch, xác bạn, xác dân. Bữa ăn vội vã bên bìa rừng, một viên đạn bắn sẻ, thằng đệ tử ruột ngã ngửa, bát cơm biến thành bát máu. Đôi dép râu với cặp chân xanh mét vắt ngang giao thông hào. Và, bao cát, những bao cát đẫm máu một người dân, người thiếu nữ chết banh thây trên nóc hầm trú ẩn, thịt da dính bầy nhầy trên những bao cát, óc trắng, tóc đen hòa với máu đỏ trộn lẫn với đất từ những bao cát... Cái chết bi thảm, cái hình ảnh tang thương của người thiếu nữ xuân thì ấy đã in đậm trong tâm trí Hùng, trở thành nỗi ám ảnh triền miên.

   Và, bao cát, phương tiện thô sơ tận cùng, có mặt khắp mọi ngõ ngách của chiến tranh, bảo vệ người sống, chôn vùi người chết, đẫm máu người banh thây, mà lại còn có mặt như thế này sao? Phải thôi chứ, phải hết rồi chứ. Bao cát, sao lại bao cát, chiến tranh đã hết rồi mà, đã hết lâu rồi mà.

   Chém giết đâu còn nữa mà trong đầu Hùng chập chùng những hình ảnh cố quên. Đạn bom đâu còn nữa, mà trong tai Hùng vang dội những âm thanh đã cũ. Chỉ vì miếng vải thô nhám này sao?

Hùng dụi mắt, quẹt mồ hôi trán, cố trấn tĩnh nhìn lại thêm một lần nữa miếng vải duy nhất còn lại trên thân thể cô gái. Và bỗng dưng, thấy tràn ngập trong lòng một niềm cảm động, xót thương.

   Bằng tất cả gượng nhẹ, với tất cả ân cần, Hùng cúi xuống gỡ nốt phần vải thô nhám loang những vết máu khô. Chàng lẩm bẩm nói với cô, như thầm nói với người thiếu nữ thịt da bầy nhầy dính vào những bao cát trên nóc hầm trú ẩn ngày nào:

   “Khốn khổ cho cô, và cũng khốn khổ cả cho tôi, đã đành. Khốn khổ cho đất nước tang thương này. Nhưng chiến tranh đã qua rồi, chiến tranh đã qua lâu rồi mà, mọi chuyện rồi sẽ phải qua đi. Yên tâm đi cô bé, vết thương cô sẽ lành. Mọi vết thương đều sẽ phải lành. Ngủ yên đi cô. Thôi nhé, hãy ngủ yên và đừng sợ hãi. Sẽ không có ai làm gì cô đâu. Một ngày nào đó, chúng ta sẽ không còn phải dùng bao cát để làm gì nữa. Không dùng bao cát để làm hầm trú ẩn, không bao cát để đắp giao thông hào. Và, như những phụ nữ may mắn được sống trong những nước không bị tan nát bởi chiến tranh như đất nước chúng ta, cô sẽ có lụa là mềm mại để mặc lên thân mình con gái, chứ không còn phải dùng bao cát để làm vải che thân nữa! Chiến tranh đã hết rồi mà...”

 

 

Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng. «… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
Tháng tư ngửa mặt nhìn trời | Nhớ xem hồng nhạn đã rơi phương nào | Cánh chim gãy sợi tóc đau | Con đò chở khẳm nỗi sầu lưu vong.
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt.
Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời. Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.