Hôm nay,  

Đợi…

21/02/202000:00:00(Xem: 7466)
Cogai&cabien_tranh Nguyen Trung
Tranh sơn dẫu Nguyễn Trung - Cô Gái & Biển Cả


Bây giờ là mùa xuân, chỉ sau Tết mới tròm trèm mươi ngày, nghĩa là khí dương đang mạnh và mọi thứ đang sinh sôi nảy nở. Nàng nhớ da diết vườn cải hoa vàng nơi góc quê. Cái màu vàng miên man như một dòng ánh sáng dắt con người lùi dần vào một nơi chốn nào đó khuất lấp và sáng dịu, một thứ ánh sáng đã bị bọc kín bởi hoài niệm, xa xôi sương mù. Và đương nhiên phía sau liếp cải vàng sẽ là căn nhà bằng tre, đất sét trát tường và có hai cửa sổ nằm đăng đối, mỗi cửa sổ có một khuôn gió cũng bằng những thanh tre đan vuông góc với nhau. Đó cũng là nơi con mèo vàng của nàng hay đùa giỡn, có nhiều lúc nàng tức giận vì nó nhảy vào liếp hoa cải làm đổ rợp, màu vàng rơi lã chã.

“Em sẽ đợi, cho đến ngày những hạt cải kia được hong khô”. Nàng đã nói như thế khi lời cầu hôn của y thốt lên và y chỉ thấy buồn bởi hình như y mơ hồ nhận ra rằng thứ gì mà nàng quan tâm nhất đều không giống y, nàng mong manh và dễ bị gió mùa thổi lạc. Và cũng hình như chỉ có nàng mới cho y được cái cảm giác chờ đợi của một con người. Y nhớ như in những ngày đầu dậy thì, y bắt đầu mọc lông, và y ngồi trên cái cầu ngang ao cá, nghe tiếng cá đớp lách chách, y nhìn xuống nhúm lông măng và y nghĩ rằng y sẽ chờ đợi cho đến bao giờ đám lông này trở thành rừng rậm, y sẽ được hiểu thế nào là mùi đàn bà. Và tuổi trẻ, cái tuổi mới lớn trở nên rấm rứt, râm ran khó tả. Hình như con người sinh ra để chờ đợi nhiều hơn là đi tới và chạm vào một thứ gì đó hay là nắm bắt lấy nó.

Một cô gái lúc dậy thì, có lẽ cũng chờ đợi cái ngày được gã trai tặng cho một nhắm bông cỏ may hoặc một cái lược hoặc hiện đại hơn, có lẽ các cô bây giờ chờ đợi một đại gia nào đó xuất hiện ngoài ngõ với chiếc Lamborghini mới cóng và cả xóm phải loét mắt thèm thuồng, đại gia đó không có thói quen chơi hoa hồng và cũng không có thói quen tặng hoa cho ai, ông ta quen xếp những đồng bạc trăm đô hoặc năm trăm ngàn thành những pháo đài nhỏ và chơi trò giúp người đẹp ẩn náu. Hình như các cô chân dài đều mong như vậy. 

Nàng thì khác, nàng không chờ đợi giống như các cô và hình như nàng cũng không chờ đợi giống bất kỳ ai. Nàng chờ con mèo vàng trở nên ngoan ngoãn hơn và nó biết thương luống cải vàng giống như nàng, nàng chờ đợi hình ảnh con mèo vàng vờn nhau, nô đùa với lũ bướm vàng trong buổi chiều xuân bảng lảng, nàng chờ đợi một lúc nào đó nàng trưởng thành hơn và nàng cũng chưa hiểu được thế nào là trưởng thành.

“Muốn trưởng thành hơn, em phải có tình yêu” Y nói.

“Nhưng rốt cuộc tình yêu thì có liên quan gì tới trưởng thành?” Nàng hỏi vặn.

“Ờ…!” Y không thể trả lời thêm được. Y không thể nói với nàng là khi yêu, người ta sẽ cảm nhận được mùi thơm da thịt của nhau và cái mùi thơm đó là chất xúc tác khiến cho hệ thống trưởng thành hoạt động. Hay nói khác đi, giả sử như sự trưởng thành là một cỗ máy bắt buộc khi bước vào xã hội thì chính cái mùi thơm, hơi thở thổn thức nhục dục phát ra từ tình yêu sẽ là loại xăng có sức đốt cực mạnh để cỗ máy đó hoạt động. Nhưng đó là quan niệm của y. Vẫn không thiếu người nói với y rằng mùi thân thể, da thịt của người yêu chỉ là một phần nhỏ cảm hứng để người ta bật nổ cái máy trưởng thành, còn chất đốt thực sự của trưởng thành lại là những cái nhà, cái xe và tiền bạc rủng rỉnh, người ta có thể mua sắm bất kỳ thứ gì. Đương nhiên, y chỉ mong người nói ra câu này có cơ hội trưởng thành thêm chút đỉnh dù theo nghĩa nào đó.

*

Hình như nàng chờ đợi cũng đã lâu, những vết nheo mờ trên khóe mắt mỗi khi cười của nàng chỉ cho y thấy điều đó. Và thời gian cũng giúp y gần gũi với nàng tựa như con mèo vàng của nàng, nàng nói rằng nàng không muốn y bước đi xăng xái như gã lực điền, nàng muốn y tập lại bước chân cho vững chãi hơn và dáng đi phải tự tin hơn. Điều này cũng giống như nàng đã chờ đợi một sự dịu dàng ẩn chất lòng yêu thương và trắc ẩn của con mèo vàng mỗi khi nó gặp lũ bướm. Bây giờ không còn vườn cải hay liếp giậu như thuở trước, mọi thứ đã được bê tông hóa và cha mẹ nàng cũng không ngoại lệ. Họ đã phá bỏ đi nếp nhà tranh để xây một căn nhà bằng bê tông với gạch, lợp ngói đỏ au, nơi liếp cải ngày xưa là một vườn hoa hồng và những cội mai già được bứng về từ rừng. Góc sân con mèo hay đùa giỡn với đàn bướm là gara xe của em trai nàng, mọi thứ đã đổi đời. Nhưng nàng vẫn chờ đợi.

“Em vẫn chờ cái ngày ấy”.

“Cái ngày đó là ngày gì?”.

“Em cũng không định hình. Nhưng phải chờ, con mèo của em cũng bắt đầu biết chờ đợi”.

Nghe tới đây thì y phì cười, bởi con mèo già này còn biết làm gì ngoài việc nằm chờ đợi ai đó mang thức ăn đến, nó sẽ uể oải ngồi nhổm tư thế nửa nằm nửa ngồi để liếm láp dĩa thức ăn. Y lấy làm lạ là cả thời trẻ trai của nó cứ quanh quẩn suốt bên nàng để chờ nàng vuốt ve, khi ngủ nó cũng chờ nàng ôm vào giường như vậy thì liệu có lúc nào nó bỗng dưng động dục và chạy trốn nàng để đi tìm một con mèo cái hay không. Nếu không có một cuộc bỏ trốn hay lén lút nào đó để tìm mèo cái thì thật là tội cho nó. Nhưng rồi, y lại nghĩ đến chuyện suốt cả đời nàng chỉ thích vuốt ve con mèo vàng như vậy, liệu có lúc nào nàng trốn nó để gặp một gã trai nào đó hay không, vì nếu không làm vậy thì thật tội nghiệp cho nàng.

“Nhưng phải biết chờ đợi!”

“Chờ đợi cái gì?”

“Ngày còn nhỏ, em nhìn những sợi lông măng trên tay, rồi sau đó lông trên… Em thấy lâng lâng khi nghĩ đến một lúc nào đó, chàng ấy sẽ đến trong huyền nhiệm, vạm vỡ và mở tung cuộc đời em. Những lúc nghĩ như vậy, em chỉ muốn… ngay! Nhưng rồi khi mọi sợi lông đã hoàn thiện, chàng vẫn bặt vô âm tín! Và em lại tiếp tục chờ để một ngày đầu mùa nào đó, khi những bông cải này bắt đầu rực vàng, chàng lại đến, mạnh mẽ, phong trần và lột xác cuộc đời em. Như một con ve sầu. Nhưng chuyện ấy cũng không đến. Bây giờ, em đã kém sắc. Lại đợi một ngày…”

Y chỉ biết im lặng. Bởi lời của nàng như những nhát dao cắt xéo vào tuổi trẻ phung phí của y. Y hoàn toàn đánh mất hy vọng bởi hầu như trong cuộc rong ruổi của đời y, y có thể ngủ với không dưới một ngàn gái điếm. Và y cũng đã biến gần một ngàn gái điếm ấy thành những phiên bản mờ nhòa của nàng. Y đã chờ đợi, mặc dầu y chẳng thể lý giải tại sao y phải chờ đợi nàng, trong khi đó, mọi sự hối thúc về hôn nhân của y đã khiến không ít lần cha y nổi cuồng và giữa y với cha y gần như không còn lành lặn kể từ sau những vụ cãi vã đến nảy lửa. Nhưng y xem như cuộc đời y không có gì khác ngoài những chiếc bong bóng cá tuổi thơ.

Những chiếc bong bóng cá y từng nhìn thấy ở mương nước quanh vườn. Vườn có một con mương nhỏ, nước róc rách, trong veo, nó được trổ từ đám ruộng bên ngoài. Bà của y thả những con cá cờ, còn ông của y thì mua những con cá kim, cá phướng về cho y để thả xuống mương. Mùa đông tới, nếu không có lụt, chúng sẽ sinh sôi nảy nở rất nhanh và chúng có thể tăng gấp ba số lượng khi xuân về. Mùa hè, có những năm hạn hán, đất lòng mương khô nẻ vì thiếu nước. Những con cá biến mất theo lòng đất. Y (lúc ấy là cậu bé) đã khóc thật nhiều và làm một đám tang tiễn chúng về trời bằng những ngọn lửa đốt từ lá khô, và y làm đám giỗ cho lũ cá bằng những viên kẹo nhỏ. Thế nhưng không hiểu sao, khi mùa đông tới, nước bắt đầu ẩm ướt và dâng đầy mương thì lũ cá lại xuất hiện, chúng bơi tung tăng như chưa từng có mùa khô hạn nào.

Y lấy làm lạ, hỏi ông, ông bảo nó chui dưới lòng đất. Y vẫn lấy làm lạ bởi không có nước làm sao chúng thở được. Y hỏi bà, bà bảo rằng mỗi con cá có một cái bong bóng lớn bao bọc lấy nó, và mỗi con người cũng có một chiếc bong bóng lớn bao bọc lấy họ. Vậy nghĩa là sao, y càng phân vân, không riêng gì lúc tấm bé mà mãi cho đến bây giờ, y vẫn phân vân với chiếc bong bóng bao bọc lấy con người. Bà nói rằng, những chiếc bong bóng ấy quyết định số phận con người lớn hay nhỏ, cô đơn lẻ loi hay sầm uất và lả lướt. Nó đong tất cả mọi hình ảnh của cuộc đời, và khi con người di chuyển, cũng đồng nghĩa với hàng triệu con người, hàng triệu hào quang và bóng tối đang di chuyển cùng. Thực sự, y không hiểu cho mấy. Nhưng có vẻ như y lờ mờ nhận ra được chiếc bong bóng của đời y, nó có vẻ phản chiếu sự lẻ loi, cô đơn và một ít bóng tối của số phận ban cho. Cứ như thể, mỗi khi đứng ở ngã tư chờ đèn đỏ, y lại lơ mơ thử nhìn những chiếc bong bóng khác và hình như cho dù nó có phản chiếu nhiều ánh sáng nhường nào thì y vẫn thấy những khoảng tối trống hoác và đâu đó có cả bóng đêm vây bủa. Y nhìn cho đến khi đèn xanh trở lại, còi xe kêu inh ỏi vì sự tắc trách của y thì y mới di chuyển cùng đàn đàn lóp ngóp bong bóng. Y thấy họ, những người đi trên đường cùng với y là những con cá buồn đang di chuyển trong một con mương mùa nước cạn và chẳng biết đến bao giờ, con mương ấy sẽ cạn khô, trơ đáy rồi nứt nẻ. Nhưng những con cá kia sẽ chui vào lòng đất với chiếc bong bóng của nó, còn y và họ sẽ chui về đâu. Y nghĩ như vậy và không nhịn được cười bởi hình ảnh một cặp đôi đang vừa chạy xe máy vừa cố ngoái đầu lại hôn nhau. Thật là điên rồ cho cả y và họ nếu như có tiếng va ầm. Rất may là họ đã kịp dừng!

*

“Con mèo đã biến mất!” Nàng nói trong hoảng loạn.

“Em hãy chờ nó về!”

“Không, em không thể chờ đợi lâu hơn nữa, nó đi đã hơn tuần nay!”

“Đúng rồi, phải đến mười ngày nó mới quay trở lại. Bởi mùa động dục của mèo kéo dài tới mười ngày!”

“Em không nghĩ là vậy, nó quá già, nó động dục chẳng khác nào em sinh con”.

“Em sinh con cũng là chuyện bình thường mà!”

“Anh không hiểu phụ nữ!” Nói xong, nàng thở dài thườn thượt, mặt mày thêm phần ủ rũ.

“Anh xin lỗi, có lẽ…!”

“À, người ấy đã xuất hiện, em quên kể với anh!” Nàng reo lên như một đứa trẻ.

“Lúc nào?”

“Thôi, không cần kể ra thời gian, nói chung là anh ấy đã xuất hiện, anh ấy kể thật nhiều về Vạn Lý Trường Thành, về đất nước Nhật Bản có nhiều hoa anh đào, về những con sư tử đá ở quốc đảo Singapore, ồ hóa ra chúng không đến mức hùng vĩ và ly kỳ như mình thấy đâu! Đơn giản hơn nhiều, và anh ấy cũng từng đi sang Ai Cập, rồi Hoa Kỳ, dường như anh ấy có mặt nhiều nơi. Em nghĩ rằng, chỉ có Chúa mới có thể biết được nhiều nơi hơn anh ấy một chút!”

“Ờ…!” Mi cảm thấy có một ai đó vừa dùng kim để chọc chiếc bong bóng chung quanh mi và nàng. Mi không thể nói gì hơn. Tự dưng, dáng ngồi của nàng khiến mi hơi rờn rợn nhớ đến hai mẹ con người đàn bà ngồi dưới trăng, hát ru và xõa tóc, họ đã tồn tại và mãi trẻ trung qua ba thế hệ, nghĩa là họ cùng tuổi với bà mi. Thế nhưng một trái bom nổ và hai mẹ con họ bị vùi dưới hầm tre, thời chiến, chẳng mấy ai đủ thời gian và dũng cảm để ra đào bụi tre mà tìm xác. Bụi tre trốc ngược trở thành mộ của họ. Mãi đến sau này, cứ mỗi đêm trăng, người mẹ lại mặc bộ áo quần trắng ngồi bồng con và hát ru. Âm ngữ của họ khàn đục, buồn rầu và có pha lẫn chút giọng người từ quá khứ nào đó vọng về. Họ hát bằng thứ ngôn ngữ rất lạ, không thể biết được họ hát bài gì nhưng chắc chắn, đó phải là bài hát ru. Đã nhiều lần mi nhìn thấy và cố lắng nghe tiếng hát nhưng không hiểu được đó là tiếng hát gì. Mi mang máng hiểu ra rằng đó là thứ ngôn ngữ đã bọc kín trong chiếc bong bóng. Và hai mẹ con của họ được bọc trong chiếc bong bóng. Nghĩ vậy, mi rùng mình và thấy buồn, nhất là khi nàng bỗng dưng nói cười hoạt náo, nàng rủ mi cùng uống rượu, cùng xem phim và không ngần ngại rủ mi cùng xem một bộ phim về giới tính khá mạnh. Điều này hoàn toàn khác con người của nàng. Mi thấy một nỗi sợ mơ hồ nào đó về chiếc bong bóng…

*

Sau đêm ấy, dường như giữa y và nàng có một khoảng cách rất xa lạ. Mặc dù mọi thứ đã trở nên gần gũi hơn rất nhiều, y có thể đến với nàng bất kỳ giờ nào và y lấy làm lạ là ở tuổi của nàng, tưởng chừng như mọi thứ thanh xuân đã trôi, nhưng không, nàng như một chén trà khô chưa bao giờ được pha chế. Và mọi hương thơm của chén trà ấy được đánh thức một cách mãnh liệt, đặc quánh. Nhưng, y lại cảm thấy trong cái gần gũi và mãnh liệt ấy, có một thứ mầm ly biệt, khó nói, y có cảm giác chiếc bong bóng bọc cuộc đời nàng trở nên xơ cứng và lạnh lẽo, nó cũng giống như chiếc bong bóng của cuộc đời y trở nên trơ lạnh và thi thoảng, có âm của tuyết rơi.

“Con mèo, nó trở về, và…”

“Em thấy đó, anh nói đâu có sai. Nó sẽ về!”

“Nhưng em đã chôn nó. Nó hình như về mấy ngày rồi, nằm sau bụi chuối, có vài vết máu”.

“Chắc là đi tranh nhan sắc với mấy con còn trẻ, khỏe!”

“Chắc là vậy, tuổi già rồi, dù có động cỡn cỡ nào cũng phải đổ gục thôi!” Nàng nói xong và dường như quên mất mình vừa nói gì, nàng vục đầu vào ngực y và bắt đầu hôn. Mãi cho đến lúc trên người y và nàng không còn mảnh vải, nàng từ từ đưa y vào. Y, thay vì hân hoan hay xúc động, y lại thấy sợ hãi mơ hồ, về một điều gì đó. Ánh sáng nhợt nhạt chiếu qua liếp cửa, một liếp cửa hình những thanh tre đan vào nhau như một tấm phên tre nhưng kỳ thực nó được làm bằng những thanh sắt và sơn màu giống hệt tre khô. Vườn hoa cải không còn nhưng phòng nàng lúc nào cũng ngào ngạt mùi dầu hoa cải cùng với bức tranh lớn vạt hoa cải dán trên tường, một chút ánh sáng đánh nhẹ trên bề mặt bức tranh luôn cho cảm giác đang ngồi bên vườn cải, trong một chiều xuân nào đó.

*

“Anh xin lỗi, anh hỏi không phải! Người ấy là ai?”

Nàng lắc đầu.

“Lẽ nào? Em không thể chia sẻ với anh sao?”

Nàng lại lắc đầu.

“Người ấy đang chu du ở một quốc gia nào đó hay sao?”

Nàng tiếp tục lắc đầu và choàng vội chiếc khăn vào người. Y cảm nhận tiếng khò khè trong lồng ngực nàng. Nàng nói yếu ớt với y rằng nàng sẽ tiếp tục chờ đợi.

“Nhưng em chờ đợi điều gì?”

Nàng lại lắc đầu, lần này, nàng lắc đầu rất mệt nhọc, vẻ mệt nhọc của nàng hiện rõ trên gương mặt nhợt nhạt và tái xanh.

*

Y gọi cấp cứu.

*

Nàng đã có di chúc, mọi thứ nàng có dành cho em của nàng, riêng chiếc điện thoại thông minh thì dành cho y. Hôm làm lễ mở cửa mả cho nàng, y mở tin nhắn Facebook. Có một dãy tin chờ, từ một đứa trẻ hình như chưa đầy mười lăm tuổi. Mà cũng có thể là hình ảo của một ai đó. Tin nhắn kể với nàng về những cuộc rong chơi qua các nước. Y đọc thật kỹ và nhận ra đây là một đứa trẻ mồ côi, đang sống với người bà ở Bắc Kinh. Cha mẹ cậu bé thuộc vào diện giàu nhất nhì xứ Hương Cảng, đã mất trong một vụ tai nạn xe hoặc có thể là vụ thanh toán nào đó. Cậu nói tiếng Việt khá rành vì từng ở Việt Nam nhiều lần, nếu cộng hết thời gian lưu trú xứ này, chắc có khi chiếm mất một phần ba tuổi trên gương mặt.

Y nổi da gà với tin nhắn bằng âm thanh, hình như là tin cuối của cậu bé “Cô ơi, con vẫn chờ đợi cô. Chỗ này buồn lắm, con đã cách ly ngày thứ mười ba. Người ta hình như không còn là loài người. Có vẻ như tay chân con nhích không nổi nữa!” Y cảm thấy có thứ gì đó đè nặng lên lồng ngực của y, bởi Trung Hoa Đại Lục đang mùa dịch phổi, người chết la liệt và có thể, những cuộc trò chuyện của nàng với cậu bé mà nàng cất công chờ đợi mấy mươi năm nay cũng đang nằm trong một chiếc smartphone nào đó, lẻ loi giữa một mớ điện thoại thông minh nằm chất đống, mệt nhoài và la liệt ngoài hành lang nhà hỏa táng. Tự dưng, y trào nước mắt và khóc rấm rứt. Y chưa bao giờ khóc như vậy!

Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.