Hôm nay,  

Anh và Em

28/03/202012:47:00(Xem: 6665)
Anh và em
Anh và Em - Minh họa Đinh Trường Chinh



Đoàn Thị

Tác giả định cư tại Pháp nhưng thường lui tới với nước Mỹ, tham gia Viết Về Nước Mỹ từ tháng Ba 2010. Họp mặt giải thưởng năm 2011, bà đã bay từ Paris sang California để nhận giải Vinh Danh Tác Giả -thường được gọi đùa là giải Á Hậu. Bài mới của Đoàn Thị viết nhân Ngày Lễ Mẹ 2019.

 

***

 

Cả tuần ở ẩn, sáng trưa chiều tối, anh và em, hai người không xa lạ 24 giờ trên 24 bốn mắt nhìn nhau quen quen mấy mươi năm nay, bỗng tự giam hãm ta với mình cận kề đến đuối sức.

Ngày hai buổi cơm hai đứa coi TV quanh quẩn dịch bệnh Tàu cộng, thế sự đó đây toàn cầu mang màu tử khí từ vi khuẩn cô vy 19, Tàu tuyên bố hết bệnh, thế giới bước vào dịch bệnh dãy dụa tức tưởi.

 

Nhân gian vật lộn với tử thần, tự cách ly tránh dịch bệnh, anh và em cũng không ngoại lệ, tự giải khoay chui vào chốn nửa thật nửa ngờ, hư ảo từ chiếc laptop vật bất ly thân, gia tài của anh, tài sản của em, mỗi đứa RIÊNG MỘT GÓC TRỜI - MỘT CÕI ĐI VỀ.

 

Anh vùi đầu vào chuyện đại sự cứu 90 triệu dân VN, em rong chơi Chợ Phây (fb) tìm lại bạn cũ. Em kết bạn mới đông vui, dù đôi khi trên phây có ý kiến trái ngược kẻ giận người hờn, may thay cơn  gió hòa giải đã thổi bay lời qua tiếng lại ra tận biển xa.

Giờ cơm đến rồi hai đứa lại gặp nhau, chia sẻ nỗi niềm riêng hé lộ hai phương trời cách biệt về chính trị, thôi đành « anh ở đầu sông em cuối sông » không uống chung giọt nước nào cả.

 

Anh hí hửng khoe vừa kết bạn với một gã, một ả Yêu Nước vô bờ bến đến phải hiến thân cứu nước. Em uể oải ngậm nghe, chả buồn báo tin vui em vừa tìm lại đứa bạn thất lạc nửa thế kỷ trên Phây.

Lòng anh trĩu nặng thương quê mình bị Tàu thâu tóm, đô hộ, tức nghẹn cho dân oan khắp nước than khóc, anh không thể bó tay vô can nhảy vào cuộc ủng hộ hết mình anh chị đấu tranh chống cộng.

Thế là anh kết thêm cả trăm bạn mới, đầu tiên là các vị cứu nước cho đến Fan của họ bất kể trai gái, tuổi tác, anh cảm thấy ấm lòng đứng vào hàng ngũ hải ngoại tìm cách giúp dân VN. 

 

Niềm vui của anh vỡ ào khi một số anh hùng nữ tướng liên lạc nhờ anh chuyển buổi diễn thuyết trực tiếp chống cộng của họ đến khắp nơi từ trạm truyền tải và năm bẩy hội nhóm do anh thành lập.

Từ một thính giả tích cực anh bỗng biến thành cánh tay nối dài, ăng ten truyền tin nhanh toàn cầu được anh chị đấu tranh tín nhiệm nhờ vã, một bất ngờ thú vị anh không thể giữ cho riêng mình.

Anh miên man kể cho em nghe vài nữ tướng xinh đẹp thu hút hàng vạn fan như nam châm mà anh ủng hộ hết mình, anh khen người phụ nữ cao cả hy sinh đời mình vì tổ quốc, đẹp người đẹp nết thật.

 

Em lại ngậm nghe anh và nghe chừng hai đứa bắt đầu lạc mất thâm tình cố kiết, khoảnh khắc ngoài vợ ngoài chồng cấm cọc giữa hai đứa, anh hoan hỷ nỗi niềm riêng quên biến em luôn bên cạnh anh.

Xung đột vỡ ào khi em chê nữ tướng nào đó yếu kém bị bò đỏ xỏ mũi, tự ái đàn ông nổi lên như sóng dữ và lên án em hẹp hòi, trận đấu khẩu nổ tan hoang, ta và địch vỏn vẹn chỉ hai đứa mình thôi.

Anh thách đố, em có giỏi lên diễn đàn thuyết trình như cô ấy chứ đừng chê, lời anh như nhác búa cắt đứt tình tự của hai đứa vốn mong manh mục rữa chực chờ cơn bão lòng là đứt lìa.

 

Em dằn cơn buồn tủi, nhỏ nhẹ đưa anh về thực tại :

- Em không thuyết trình, thuyết phục đồng bào quốc nội như anh chị kia vì em biết thế lực ngầm điều khiển chính trị toàn cầu họ nắm quyền chia chát thị phần thế giới theo từng giai đoạn lịch sử. 

Tề gia rồi mới bình thiên hạ, đấu tranh kiểu anh lắm kẻ đã lỵ dị nhau mà vẫn không cứu nổi vì CSVN đã bán nước cho tàu cộng, tương lai nước Việt nằm trong tay đồng bào trong nước.

 

Chuyện anh và em bốc lửa từ cuộc chiến cứu nước xa xôi dịu vợi thiêu rụi hai quả tim giấy, bên đống hoang tàn hai kẻ chiến bại tự vấn có nên bỏ qua tự ái vá víu lại chuyện chúng mình.

Nhân gian đang bấn loạn vì dịch bệnh tàn phá khắp nơi, anh và em có vô duyên, vô lý đến độ tự hủy diệt vì tự ái và hào quan vu vơ đến đánh mất chính mình.

 

Tâm tình bạn tôi mùa dịch bệnh, ANH & EM vừa khám phá một nửa của mình tầm thường đến độ họ không còn nhận ra nhau.

Hai bạn chưa bị nhiễm Cô Vy 19, chỉ cô kia vừa bước vào đời Anh & Em, nguy hiểm chết người.

 

28 Mars 2020 / Đoàn Thị

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.