Hôm nay,  

Sài Gòn Đứt Đoạn

30/04/202010:20:00(Xem: 4465)


Ngà lật sách, đọc được một đoạn rồi bỏ xuống, không hiểu mình đang đọc cái gì.  Không biết chữ vô nghĩa vô cảm hay đầu óc Ngà tê liệt.  Ngà tự hỏi điều gì đang xảy ra cho mình.  Ngà bắt đầu đếm hơi thở - hít vào 4 nhịp thở ra 7 nhịp, không biết ai chọn ra những con số ấy nhưng mới hít vào chưa kịp đếm đến 4 thì bụng đã căng phồng như cóc, cố thêm e vỡ bụng.  Thở ra phì phò hít vào ì ạch.  Ngà nằm lâu trên giường, đêm vẫn trắng.

Ra phòng khách tìm một quyển sách cũ chưa bao giờ xem tới mang vào phòng.  Nam Hoa Kinh, trang đầu tiên mang chữ ký của anh Lâm, 1987 đọc lần thứ 3.  Ngà tần ngần.  1987, anh chỉ độ 40 ngoài, đọc quyển sách ấy lần thứ 3?  Ngà nhớ những ngày tháng ấy, những ngày tháng xa lìa đứt đoạn với một kiếp đời.  Hóa ra không chỉ mình Ngà thức thâu đêm, không chỉ mình Ngà đi tìm những gì xưa cũ, những bí mật của Sài Gòn đã mất.

Dọc theo sách là những ghi chú suy nghĩ của anh.  Ngà bồi hồi, bởi Ngà chưa bao giờ đến gần anh để biết một điều gì về con người ấy, bây giờ đến thật gần thì anh đã mất.  

Cũng như cô Thảo đã mất.  Cô mất lúc nào Ngà chẳng hay, chỉ biết tin nhờ cái tật tò mò gì cũng đọc.  Ngà nhớ mình đã lật tới lật lui tờ báo Người Việt như thể sẽ tìm thêm ra được chữ trên bài báo về ông giám đốc nhân sự mới của tỉnh.  Chính là anh ta, nét mặt ấy vóc dáng ấy, cái tên ấy, và những chi tiết về cha mẹ - trên đời làm gì có quá nhiều trùng hợp đến thế, và vậy là cô Thảo đã mất được 10 năm, nghĩa là năm cô chỉ khoảng 68 tuổi, còn quá trẻ.  Cô mất vì bịnh gì?  

Ngà thấy buồn mênh mang, bởi cô Thảo là người bạn đầu tiên của Ngà trên đất lạ.  Cô mang cả một Sài Gòn theo với cô, trong tính cách con người, trong cách cư xử với lũ trẻ như Ngà, và cả trong việc cô giễu cợt Ngà dùng chữ Việt Cộng.  Những khi cô Thảo ghẹo Ngà thấy hơi quê, nhưng Ngà tự hiểu, nỗi buồn của Ngà tựa như tự ái của đứa con nhà nghèo phải mặc quần áo chắp vá vạ vịt vì không có gì để mặc, và tủi phận khi bị chê cười.  Còn cô, chọc ghẹo Ngà vậy thôi chứ cô thường bảo Ngà trạc tuổi con trai lớn của cô.  Ngà hiểu, cô thương Ngà hai mươi tuổi bơ vơ trên xứ lạ không một tình thân, không như gia đình cô đủ đôi bên nội ngoại đã đi thoát từ 1975.  Nhưng cô nào hiểu, tuổi 20 Ngà không hề muốn khóc trao nỗi lòng dù với mẹ cha huống gì kẻ lạ, Ngà nào muốn ai thương hại mình khốn khó bơ vơ.  Cô càng thương Ngà càng muốn xa, và rồi Ngà đã bỏ cái hãng nhỏ ấy để lấy một việc làm khác có lương cao hơn và nhiều quyền lợi.

Ôi, cô Thảo, Ngà cứ cảm nghĩ mình thiếu nợ cô mà không biết nợ nần gì, và Ngà cũng đã muốn xa cô thật xa mà chả biết tại sao.  Cũng không phải là không biết, chỉ là biết mơ hồ.  Nếu màu da xác nhận với người địa phương cái gốc Á châu của Ngà thì những chữ trời ơi nơi cửa miệng xác nhận với người đồng chủng rằng Ngà đến từ xứ cộng sản.  Nhưng làm sao xóa được cái hậu Sài gòn khi Ngà đã ở lại 4 năm, đã rước vào đầu những chữ vớ vẩn dẫu thâm tâm không thể nào chấp nhận được họ.  Ngà không có lỗi dẫu nói sai, mà cô Thảo càng chẳng có lỗi khi nói đúng tiếng Sài Gòn.  Ngà và cô như bộ đồ trà đã bể vụn, 2 miếng sành vỡ không còn ghép lại được, bởi cô biết đến Ngà qua phim ảnh báo chí truyền thông và Ngà biết cô bằng quá khứ cho dẫu cô với Ngà là hai cảnh đời xa lạ.  

Quá khứ của cô là trường Marie Curi đài các, là ngồi cát xê quán kem Phi Điệp của gia đình, là anh thiếu úy phi công hào hoa, thông gia với chỉ huy trưởng Tân Sơn Nhất.  Sài Gòn của cô thật dày bóng mát.  Còn Ngà, cái trường Gia Long là kỷ niệm hiển hách và duy nhất của cuộc đời quá khứ.  Cái hiển hách ấy bao gồm 2 tấm áo dài tê tơ rông trắng mỗi năm và ngày ngày đạp xe ra phố giúp má dọn hàng.  Và Ngà cũng có hình bóng một người lính trong lòng dẫu không biết mặt và không thể là người tình.

Tuổi mười lăm nhiều mắc cở vụng về, ăn chưa no lo chưa tới.  Ngà đạp xe mini yên sau chở thùng đựng đá chứa trăm thứ lẩm cẩm từ cửa hàng lụp xụp về nhà.  Tới ngã tư đèn đỏ thì thùng nghiêng lệch sửa soạn đổ mà cái xe mini không cho phép Ngà dựng chân để sửa.  Xe Suzuki đỏ bên cạnh là hai người lính, anh ngồi sau lẹ làng nhảy xuống sốc thùng đồ trên xe Ngà lên ngay ngắn cột lại chặt chẽ.  Vừa kịp đèn xanh lên, anh thót trở lại yên sau và chiếc xe lăn nhanh theo dòng lưu chuyển.  Ngà không kịp nhìn mặt, anh không chờ lời cám ơn.  Tấm áo lính mờ bụi in xuống lòng đường Ngà đã qua, in vào quá khứ của Ngà một cách êm đềm không cầu gợi chút niềm thân mật.

Sài Gòn của Ngà rồi còn gập ghềnh hơn những năm sau chiến tranh.

Làm sao tránh được cái tranh giành chụp giựt cả trong những việc thật nhỏ mọn bởi chậm là đói.  Làm sao không dòm ngó người khác bởi sơ ý thì sẽ mắc nhiều cái vạ không biết đâu mà gỡ.  Có bao nhiêu lần Ngà thấy ngượng cho mình vì không muốn nói lập trường tào lao thì phải đành moi xấu nhau cái chuyện quần thấp guốc cao trong những buổi họp hành kiểm thảo.  Hoặc nói dối hoặc nói bậy, người ta không có quyền im, không có quyền Take The Fifth!!!  Ngà đã bỏ đi không luyến tiếc, đâu ngờ vết dao quá lớn quá sâu.  Ngà cứ ngỡ mình bỏ đi rồi thì Sài Gòn chỉ còn là mảnh đất chập chờn ẩn hiện lúc nhớ thương, chứ nào biết nó ngày đêm theo với cuộc sống của Ngà trên đất lạ.

Khác với cô Thảo yên tâm xây lập cuộc đời mới trên đất mới, Ngà sống quanh cái miệng chén Sài Gòn.  Tay nào đi làm kiếm sống, túi nào dành chút tiền lẻ gửi về, và những đêm nào mộng mị miệt mài đi tìm Sài Gòn đã mất. 

Ngà lại cầm cuốn sách của anh Lâm để lại đây lần bỏ qua Texas.  Sài Gòn của triết Đông triết Tây.  Sài Gòn của Chiến Tranh và Dân Tộc.  Những năm 80 ấy Ngà cũng đọc bá vạn thứ như vầy, chả biết tại sao mình muốn đọc, phải đọc.  Anh Lâm đã đi qua Sài Gòn bằng một phần của tuổi trẻ, Ngà chỉ mới bước khỏi thềm tuổi thơ.  Phải chăng mất cội rễ người ta phải tìm, và tìm đâu hơn là tìm ở những gì từ vạn thuở xa xưa đã nuôi lớn một dân tộc cho dẫu nó chỉ còn lưu lại trên trang giấy.  Nhưng Nam Hoa Kinh, Ngà nghĩ, cũng chỉ là một cứu cánh cho anh Lâm thấy vết thương của mình chẳng là gì cả sẽ không là gì cả, để lòng bớt đau hồn bớt mỏi, để thoát ra cái bế tắc của cuộc đời hiện tại.  Còn Ngà, ngày Ngà đi làm hết cả hơi, đêm về dỗ giấc ngủ bằng cuốn kinh thánh dày như tự điển Nguyễn Văn Khôn cũng qua được từng đêm.

***

Ngà thức dậy đã 11 giờ sáng.  Ngày bây giờ trọn vẹn của mình, không phải chạy với kim đồng hồ thật sướng.  Bao người hăm rằng sẽ buồn chán, sẽ bị trầm cảm, thiệt vậy không?  Ngà chỉ biết đời mình đã rẽ, rẽ vào chặng cuối cùng, và cho dẫu vào hơi sớm cũng chẳng có gì để luyến tiếc con đường bụi loạn vừa bỏ lại.  Hưu rồi mới thấy ra, mình đã quá mệt mỏi từ biết bao lâu nay và không hiểu mình đã loay hoay ra sao để cáng đáng những ngày 25 tiếng đã qua.  Nhưng thật buồn cười, hưu việc rồi cũng hưu cả nhà thờ - Ngà không còn nhớ lần cuối mình đến nhà thờ là lúc nào.  Ngà thấy dường như mình chẳng còn muốn gì và chẳng còn thấy có gì quan trọng.  Mới ngày nào còn thơ Ngà đã từng đếm tuổi – rằng đến cái năm mà mọi người lo tận thế mình vẫn chưa được nửa trăm năm!

Ngà vào bàn bắt đầu thoa kem bôi phấn.  Ngà vẽ mắt thật tỉ mỉ sao cho mắt lớn rộng ra để bù đắp cái co cụp tuổi đời đè xuống.  Vẽ mắt rồi lại chậm thêm phấn đặc che cái “thượng thọ” nơi quầng dưới mắt.  Rồi lại phấn nâu để thuôn má phệ.  Rồi lại mascara cho đen dài tấm mi thưa…  Ôi, nhan sắc.  Ngà bật cười nhớ lần đầu Má giúp đánh phấn, Má quét cho một lớp thật dày trắng xóa, mi mày chẳng còn thấy chi.  Kịp đến anh chàng phó nhòm chụp cho một loạt hình kiểu cũng cho người dặm lên mặt mình không biết bao nhiêu là những má hồng với chì với son với mày với tóc.  Ngà biết ra mình cần thấy chính mình và tự trang điểm cho chắc ăn!  

Mặc vào bộ quần áo trắng, giờ tha hồ mặc màu nhạt không sợ cọ quẹt lấm lem, Ngà lên xe lần theo địa chỉ để đón Mai.

Mai đích thị tiểu thư, đời nhung lụa nhàn nhã, sống bên kia cửa thiên đường mộng mơ nên dẫu học chung lớp mà có bao giờ Ngà bước lại gần để kết bạn.  Cả cái trường đại học theo đuổi Mai, từ trò đến thầy, từ bạn đến thù dẫu Mai yểu điệu tơ đào thì làm gì có kẻ thù - chỉ là những kẻ khổ đau không được kết bạn kết tình với một cánh sao kiêu sa.  Ngà không biết sau 40 năm xa cách thì Mai ra sao và cuộc gặp gỡ này rồi có trở thành tai vạ.  Nghĩ, rồi lòng chợt bâng khuâng.  Phân cách xã hội đã đeo đẳng hoài trong tâm trí mà Ngà chả bao giờ nhận ra.

Ngà bước vào, Mai đang nói điện thoại với bà dì, chỉ nhẹ nhàng đến ôm Ngà hôn lên má.  Xong cuộc nói chuyện, Mai đến xoay người Ngà ngắm nghía cười khanh khách, “Ngà vẫn như xưa!”  Cái hồn nhiên vui vẻ cười thành tiếng của Mai nói với Ngà rằng lớp vỏ e dè khép nép vì xã hội vì cách biệt của buổi đổi đời đã được bóc gột sạch.  Nơi trời đất mới, cánh mai nay được nở bung bừng tươi sức sống.  Mai mang theo mình cái ăn diện tỉ mỉ của những cô gái Sài Gòn xưa, như trong hàng ngàn hàng trăm những tấm ảnh mà đâu đó người ta đã lưu lại để bây giờ mang ra cho mình xem mà nhớ mà thương.  Ôi Sài Gòn của Ngà.  Ôi tuổi thơ của Ngà.  Ngà nào đã được biết gì, được đi đến đâu được sống bao nhiêu trong cái thành phố hằng thương tưởng ấy.  Ngà như đóa hoa chưa kịp nở đã phải bị héo quặt bứt rời mà hồn chẳng cam nên cứ hoài lưu luyến.

Hai đứa vào quán ăn đã hẹn trước với một vài bạn.  Tiếng cười gọi tiếng cười, chuyện quẩn quanh vẫn là những gì đã xảy ra cho từng đứa khi mọi người đứng bên nhau mà lòng văng muôn ngả.  Những mảnh vụn được dần ghép lại để Ngà thấy ra lứa của Ngà đã thiếu mất một phần niên thiếu.  Tâm trí Ngà lại từ từ trôi giạt, tiếng cười nói như những mảnh vụn bánh mì rơi xuống mặt bàn.  Ngà nhìn Mai, nhìn chị Thi, nhìn Thiện, nhìn ngược lại mình.  Ngà buồn rầu nghĩ mình chỉ còn là con ma sống dai trên dương thế.

Con ma ấy ngày ngày qua phố Sài Gòn Nhỏ, đi len lỏi trên lề hẹp đầy những quầy bán sách báo vàng nhang ảnh tượng quần áo thời trang từ Việt nam gửi sang, những loại cây cảnh quê nhà phải ương trồng 5,7 năm mới ra hoa trái, những rổ rau quả các cụ lấy từ vườn nhà đem bán mua vui, để thấy bồi hồi tưởng mình đi trên khúc đường Lê Thánh Tôn ngày cũ với tủ kính mát, sạp hoa ni lông, sạp áo thun, sạp nón, sạp giày, tiệm thuốc tây, tiệm huy chương An Thành, tiệm quần áo trẻ con, tiệm vân vân.  À, tiệm thuốc tây, tiệm thuốc tây có cô chị cao lớn mặc áo dạ hội vai trần bó ngực dài phết đất, má phấn môi son đẹp như tài tử ngoại quốc đi dạ vũ ở Maxim, có cô em nhỏ người xinh như búp bê cũng không kém phần lộng lẫy một lúc lâu sau mới ra tưởng như em là cô bé lọ lem mãi rồi mới lựa thóc đậu xong để được bộ quần áo kiêu sa mà đi phó hội.  Ôi, Sài Gòn của Ngà, cái Sài Gòn xưa với đủ mọi sắc màu tươi thắm lấm lem, cổ tích với dân dã, ngọt ngào lẫn tủi cực, cái Sài Gòn mà người ta nhất quyết bôi xóa, nó đã mọc lên ở đây, ở cái khe đất người bản xứ không chú ý, như những cây me con con đã nhờ gió thổi hạt bay tứ phương rồi lén lút trồi lên ở bất cứ rãnh đất trống nào, trong khi Sài Gòn ngày nay ở quê nhà lại như những con phố ngoại quốc lòe loẹt cửa hàng thời trang với những tòa nhà chọc trời che hết thổi bay hết các sắc mùi quê hương yêu dấu.  

Đâu chỉ cô Thảo, anh Lâm, những người mà Ngà đã biết đã gặp trong buổi đầu đời trên đất lạ nay mất đi.  Chính Ngà cũng biệt tăm, như những khe trống của đường ranh giới đoạn nổi trên tấm bản đồ của một thành phố đã mất.



Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…
Đợi, và đợi. Có đến khoảng gần một trăm người xếp hàng đợi. Mới có năm giờ sáng thôi! Trời Đà Lạt đổ sương xuống nghe ướt tóc, ướt vai. Phòng bán vé còn đóng kín cửa. Sáu giờ mới bán vé. Biết vậy rồi, nhưng đám đông người này vẫn đến sớm chờ đợi. Chẳng qua là số xe có giới hạn, mình đến sớm mới mong có xe đi, nếu không thì phải về và trở lại vào ngày mai. Người ta nhìn nhau, như ngầm nói qua đôi mắt rằng đến sớm chắc ăn hơn. Mà không chừng có người đã ngủ đêm trước phòng bán vé để được xếp hàng phía trên cùng.
Tháng 7 trời xanh cao, mùa lên hâm nóng. Mặt đất nung nhiệt ngấm ngầm địa chấn, như muốn cùng người rung vang lời ngân quá khứ. Tháng 7 gọi về hàng phượng đỏ thắm rung rinh chùm nở, thứ lung linh ảo mờ, gần gụi mà xa thẳm, “mù không lối vào...” (TCS). Vang vang trong gió, lời trẻ thơ láng giềng vọng lại đùa vui tiếng nước...
Nếu Thanksgiving ở bên Mỹ mang màu sắc rộn rã chuẩn bị cho mùa Giáng Sinh, thì Thanksgiving bên Canada lại rơi vào Tháng Mười dịu êm, có đủ màu sắc nâu vàng đỏ của lá cây chuyển màu cuối Thu, với màu cam của những trái pumpkins cho lễ hội Halloween . Những ngày này, gia đình tôi chộn rộn với những đợt “thu hoạch” cuối cùng, chuẩn bị dọn dẹp vườn tược sạch sẽ trước khi mùa lạnh đang đến. Theo ý nghĩa nguyên thủy của Thanksgiving là Tạ Ơn đất trời cho mùa màng bội thu, thì năm nay gia đình tôi cũng xin được Tạ Ơn. Mấy cây táo và plum trúng mùa trĩu quả, hái mấy lượt vẫn không hết. Những quả plum tím căng mọng ngọt ngào, vừa đem tặng bạn bè, hàng xóm, vừa để đông lạnh ăn dần, mà vẫn còn mấy rổ tươi đầy ắp. Mùa táo, nhiều gia đình Việt Nam thích đem ngâm chua ngọt, trong khi những người bản xứ làm mứt táo, hoặc sên táo làm apple pie, một trong những món bánh khoái khẩu của nhiều người trong bàn ăn Thanksgiving bên cạnh pumpkin pie .
Nhạc sĩ Hùng Lân mất vào ngày 17/9/1986 tại Sài Gòn. Hôm nay, ngày 17/9/2025 tôi nhớ tới ông. Tính ra đã 39 năm. Ba năm trước, tại nhà thờ Phanxicô Dakao đã có một lễ giỗ 36 năm ngày mất của ông. Linh mục Đỗ Xuân Quế, chủ tế lễ giỗ, đã nói trong thánh lễ: “‘Hôm nay là lễ giỗ thứ 36 của ông Phêrô Hoàng Văn Hương tức là nhạc sĩ Hùng Lân. Ông là người đáng cho chúng ta trân trọng và quý nhớ. Vậy chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện cho ông được vào nước Thiên Chúa. Nếu ông đã được vào rồi thì xin nhớ đến chúng ta là những người đang tiếp tục cuộc hành trình nơi dương thế đang hướng về Nước Trời.” Sau thánh lễ là chương trình tưởng niệm trong đó có tiết mục trình diễn nhạc của Hùng Lân, cả nhạc đạo lẫn nhạc đời. Người dẫn chương trình cho tiết mục này là nhạc sĩ Cao Huy Hoàng, đến từ Phan Thiết. Ông chia sẻ: “Nếu ngày ấy, thầy Hùng Lân qua đời, Chúa hỏi ‘nén bạc của ta đâu?’, thầy có lẽ không trả lời hoặc chưa trả lời kịp thì hôm nay, chúng ta có thể nhìn lại và thấy được rằng nén bạc của thầ
« Chưa gặp em tôi đã nghĩ rằng, có người con gái đẹp như trăng… khi gặp em rõ thấy một bà chằng! » … Chằng tinh, hay chằn tinh là một loài người hay cũng coi là một loài quỷ hung ác. Tùy vào hoàn cảnh, tùy vào người ta gặp, ta đối diện. Nay thế giới có nhiều loại chằn tinh, chằn ở trong mọi lãnh vực, chính trị, văn hoá, kinh tế, giáo dục và cả trong xã hội v.v…Do đấy, ta muốn tìm hiểu nguyên do chằn ở đâu ra. Hẳn là trong văn hóa Nam Bộ Việt Nam - Ấn Độ - Khmer…? Theo tác giả Huỳnh Thanh Bình, chằn là một loại sinh vật truyền kỳ, làm hộ pháp, canh giữ chùa, tháp, chánh điện phật giáo nam truyền và chiếm vị trí quan trọng trong văn hóa và tâm linh của người Khmer nam bộ, phổ biến trong kho tàng truyện kể dân gian và tuồng tích sân khấu của đa phần người Đông Nam Á.
Cả ông ta và tôi cùng cười xòa. Ui, mình đúng là đãng trí thứ thiệt. Phần Lan đã gia nhập Eurozone từ 1999 và dùng Euro ngay từ buổi đầu như những quốc gia thành viên khác. Ngày trước, nhắc đến những thủ đô bắc Âu, người ta thường nghĩ đến Oslo giàu có của Na Uy, Copenhagen trẻ trung của Đan Mạch. Giờ đây, Helsinki dần dà từng bước góp mặt vào danh sách những thủ đô được du khách ưa chuộng. Sức thu hút của thành phố ngày càng tăng. Từ 15 năm nay, Helsinki là một trong những thành phố tân tiến nhất Âu châu.
Bà xỏ chân vào đôi dép, lê lẹp xẹp vào buồng. Bà lấy ra một bịch nhựa trong đó đựng trăm thứ lặt vặt không ra hình thù gì. Bà nhìn trước, ngó sau như người ăn trộm. Chị mua ve chai đứng ở ngoài cửa bếp. Như một việc đã quá quen thuộc, chị đón lấy cái túi, móc vào cái cân xách. Trước kia chị phân loại giấy ra giấy, nhựa ra nhựa, nay thì hai bên đã thỏa thuận với nhau là có một cái giá trung bình cho toàn thể. Bà thì nhìn đăm đăm vào mớ hàng lặt vặt ấy như nhìn một thứ gì quý giá lắm. Mà không quý sao được, vì đó là kết quả của nhiều tuần bà lượm lặt và cất giữ.
Cho tới bây giờ, thỉnh thoảng trong giấc ngủ tôi vẫn nằm mơ tới chuyện thi Tú tài và giật mình tỉnh dậy, mừng húm mà mồ hôi vẫn đổ ra. Trong lần thi Tú Tài I, tôi đã thức đêm thức hôm học đến bị yếu phổi. Chữ “Tú Tài” nặng nhọc với tôi như vậy tuy nghĩa của nó là “đẹp đẽ, có khả năng, tài giỏi”.Ông Tú Xương có lẽ cay đắng với chữ “Tú Tài” không kém gì tôi. Ông vác lều chõng đi thi tất cả 8 lần, từ khoa Bính Tuất (1886) tới khoa Bính Ngọ (1906). Ba lần đầu ông đạp vỏ chuối, tới lần thứ tư, năm Giáp Ngọ (1894), ông mới vớ được cái Tú Tài nhưng là Tú Tài đậu vớt, chữ ngày đó gọi là “Tú Tài Thiên Thủ”. Ông chết với cái danh Tú Tài, chẳng bao giờ kiếm được cái “Cử Nhân” mặc dù vẫn cặm cụi đi thi.
*SONG THAO Tôi chừ chỉ chơi thể thao trên ghế sa-lông, ngồi coi người ta chơi. Thứ tôi coi người ta chơi là hockey, tennis và đôi khi bóng tròn. Mình không còn khả năng thì coi người ta chạy nhảy cũng là một cách chơi. Cách chơi biết mình biết ta. Các ông bạn tôi cũng chơi như tôi. Có điều mỗi người chơi theo ý thích riêng của mình. Ông Hoàng Xuân Sơn, ông Luân Hoán cũng na ná như tôi. Nhưng ông Luân Hoán hơi ngả về bóng tròn. Ông Hồ Đình Nghiêm máu mê hơn. Ông sa đà vào bóng tròn. Thời gian vừa qua, ông coi giò coi cẳng các nữ nhân tranh giải bóng tròn thế giới FIFA một cách mê mệt. Ngày ngày ông bá cáo bà con trên Facebook tường tận về từng cặp chân vàng mà trắng, cô nào đá hay, cô nào chụp banh giỏi, ông rành như có họ hàng thân thiết.
Bạn có thể xem bài này như truyện ngắn. Có thể gọi là nhiều truyện ngắn trong một truyện ngắn, hay là ghép từ nhiều mẩu truyện. Bạn cũng có thể đọc như tùy bút, hay bản tin, hay là vân vân... nghĩa là bất cứ những gì có chữ, có thể đọc lên, có thể nghe được như âm thanh. Đó là những gì tự nhiên hiện lên trong trí nhớ của tôi, những gì tôi bất chợt nghe bên tai khi ngồi bên sông, ven biển, góc rừng, hay khi nửa đêm nhìn ra hàng hiên.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.