Hôm nay,  

Qua Cửa Tử

01/05/202009:03:00(Xem: 4345)

 


  Ánh nắng chói chang như thiêu đốt nhức cả mắt, cháy cả da thịt, da dẻ ai cũng sạm đen thô ráp, đầu bù tóc rối, môi nút nẻ tứa máu, có vệt đã khô, có vệt mới còn tươi. Mọi người nằm rũ rượi như những tàu lá chuối bị hơ lửa, áo quần nhàu nát, dơ dáy, xốc xếch trông như những hình nhân. Thỉnh thoảng có tiếng rên:

 - Nước, cho tui chút nước. 

 Không có tiếng trả lời, người hỏi cũng thừa biết là không còn một giọt nào trên tàu cả, nhưng vì bản năng sống nên thốt lên trong vô thức. Con bé Tư mười sáu tuổi mà quắt queo khô đét như con mắn mòi, hai mắt trắng dã, tay chân lèo khèo, chiếc quần ngắn cũn cỡn nửa ống quyển, cái áo bà ba nhăm nheo trông nó như mới lên mười. Nó nằm bẹp dí trong hầm, miệng thều thào:

 - Má, con khát quá! 

 Chị Thắm, mẹ con bé cõi lòng tan nát, đau đớn muốn khóc mà lệ dường như khô theo cơn khát, người khô hết lấy đâu ra nước mà chảy nước mắt

 - Ráng chút nữa nha con, tới đảo mình tha hồ uống.

 Con tàu chết máy trôi giạt đã mấy ngày nay, chẳng ai còn lòng dạ nào mà đếm thời gian nữa. Con tàu bị lạc vào dòng nghịch lưu, cộng với gió cứ thế đẩy đưa càng lúc càng xa về hướng nam. Trên thì bầu trời thăm thẳm, dưới biển xanh đến độ thẫm đen, tưởng chừng như thấu tận địa ngục. Khi con thuyền vừa chạm phao số không, tài công la to:

 - Đến hải phận quốc tế rồi bà con ơi!

 Mọi người trên tàu mừng rỡ reo to:

 - Thoát rồi, thoát thật rồi! 

 Mới có mấy ngày mà giờ laị đối diện với địa ngục, cái chết vì đói, khát, tàu chìm đang cận kề gang tấc. Có người hối tiếc vì đã chọn ra đi:” Giá mà biết như vậy, thà ở laị chịu khổ cực nhưng không đến nỗi chết”. Trên tàu không còn một vụn bánh mì, một giọt nước nào. Có người khát quá, liều uống nước biển nhưng vừa hớp một ngụm là vội nhả ra ngay. Ông Hải quỳ mọp ở mạn tàu cầu khẩn:

 - Bồ Tát linh hiển, xin cứu chúng con qua cơn khổ nạn này, vào tới đảo con nguyện ăn chay hết tháng bảy âm lịch.

 Lời khấn nguyện khô khốc, âm thanh đứt quãng bị gió biển thổi át đi. Ngồi trên một đaị dương nước mà không có một giọt nước để uống, trong người còn thủ mấy chục cây vàng mà không có một chút đồ ăn để ăn, càng cám cảnh, càng nghĩ thì càng khốn quẫn. Ông Hải ôm đầu ngồi bệt trên sàn tàu, bây giờ có tiền cũng vô dụng, hồi nào trên bờ ông từng cao giọng:” Có tiền mua tiên cũng được, tiền là chià khoá mở mọi cánh cữa, tiền quyết định tất cả…”Ấy vậy mà giờ, trên con tàu này, tiền không khác chi mảnh giấy lộn, không ăn được, không uống được, chẳng có ích chi cả. Ông Hải thấm thía câu:” Diêm vương không ăn hối lộ, nhân quả chẳng nệ thân sơ, vô thường không chê quý tiện”. Vốn là một tay tài phiệt có tiếng của thành đô, tài sản của ông có khắp nơi, những hãng sản xuất ở Sài Gòn, Biên Hoà; những đồn điền cao su, thông ở Bình Long, Đà Lạt bạt ngàn; những tài khoản khổng lồ trong các nhà băng…và hàng chục ngàn công nhân ngày đêm làm việc không ngừng nghỉ. Ấy thế mà ông Hải rất chi li, đồng lương rẻ mạt mà còn luôn tìm cách thêm giờ, thêm việc, bớt phúc lợi. Ông đi đêm với các nghiệp đoàn và cảnh sát để khống chế các cuộc đấu tranh đòi quyền lợi của công nhân. Có khi căng quá thì ông cũng chịu nhả thêm tí chút, nhưng thói cằn bòn nó laị khiến ông tìm cách để lấy laị bằng những mánh khoé khác, ông có vô số mánh khoé để làm cho hầu bao của mình càng ngày càng phình to. Mỗi khi xã hội có hoạn nạn, thiên tai… cần cứu tế, ông cũng bỏ ra một số tiền, không bỏ ra thì không được vì sĩ diện nhưng ông lận vào đó quảng cáo cho tên tuổi hãng xưởng của ông. Người ta kháo nhau:” Lời chán, xem ra vừa cứu tế mà còn quảng cáo với giá rẻ”. Ông Hải thường nói với bọn đàn em:

 - Tiền liền khúc ruột, kiếm khó lắm nên không thể dùng vào những việc phước đức mơ hồ. Ta chỉ tin tiền đẻ ra tiền!

 Ông Hải là triệu phú của thành đô, xem ra cũng có nhiều phước báo, giữa lúc quốc gia loạn lạc chiến chinh mà công việc của ông vẫn xuôi chèo mát mái, cuộc chiến càng khốc liệt thì việc làm ăn laị càng lên như diều gặp gió. Thế rồi đùng một cái, cuộc chiến tàn, một nửa vui mừng và một nửa hoang mang sợ hãi lạc, chịu nhiều đau thương nghiệt ngã. Cuộc chiến tàn nhưng mở ra một cuộc chiến âm thầm khác, lòng người ly tán, xã hội nhiễu nhương đi vào suy sụp. Ông Hải cùng bao người khác tự nhiên sau một đêm ngủ dậy thì trắng tay, sản nghiệp bị tịch thu, nhà cửa, của cải bị lấy chia cho kẻ khác. Đau đớn tưởng chừng như có thể phát điên, bạn ông nhiều kẻ nhảy lầu. Ông Hải âm thầm chứ không dám hé lộ cùng ai, thời buổi tai vách mạch dừng, nói ra là mang vạ như chơi. Nếu ngày còn chủ cũ, hễ ai động đến một tí là ông mượn truyền thông la to:”Vi phạm nhân quyền, vi phạm tự do cá nhân, tự do ngôn luận…” giờ thì im thin thít, những ngày tháng có miệng mà không dám nói, có tai mà như điếc, có mắt mà như đui. Người người lao mình ra biển tìm đường sống. Ông Hải móc nối được với một đường dây vượt biên, kẻ cò mồi biết ông giàu có nên hét giá: “ năm mươi lượng cho cả nhà”. Vốn có tài mặc cả, sau khi kì kèo hai bên chốt giá ba mươi lượng, giao trước mười lượng, phần còn laị sẽ giao sau khi lên tàu. Nửa đêm cả nhà theo người dẫn đường đi ra một bãi vắng Cần Giờ, nhìn con tàu cũ kỹ và nhỏ bé, ông đã ngần ngừ nhưng gã tài công hối thúc:

 - Lên lẹ đi, chậm chút là bị hốt hết bây giờ! 

Ông Hải và cả nhà lên tàu, bụng bảo dạ:” Ở cũng chết, đi cũng chết, thôi thì lao vào cửa tử tìm đường sống”. Xưa nay ông vẫn tự hào mình là người không ngoan, quyết định sáng suốt, thế mà giờ đành nhắm mắt đưa chân. Con tàu tắt đèn rù rì rẽ sóng trong màn đêm đen kịt. Mọi người dường như nín thở, lòng đầy lo lắng mãi cho đến khi gã tài công reo to tới phao số không thì mọi người mới thở phào, trút cả gánh lo âu. Nỗi mừng chưa được bao lâu thì ngày hôm sau một nỗi sợ hãi khác bao trùm con tàu. Con tàu cứ xành xạch tắt máy mấy bận. Gã tài công và tay thợ máy cởi trần hì hục sửa, sửa mãi hkông xong bèn chửi tục:

 - Đ… mẹ, con heo dầu laị trở chứng!

 Nhiều tiếng phàn nàn:

 - Sao không lo sửa trước khi khởi hành?

 Gã tài côngbực mình nạt:

 - Đ…mẹ, mấy người có ngon thì lái tàu đi! tui hổng lái nữa, ai chết biết liền.

 Chú Hai, người lớn tuổi nhất trên tàu ôn tồn:

 - Đừng nóng chú em, tiền vàng mọi người đóng sòng phẳng rồi, giờ chung một con tàu, sống chết có nhau. Bà con cũng đừng nói nữa, để chú ấy sửa máy. 

 Mọi người im lặng, họ biết số phận mình giờ nằm trong tay gã tài công nên không dám hó hé gì thêm.  Tiếng máy tàu laị xình xịch nổ, con tàu chạy được vài mươi hải lý nữa thì chết máy hẳn, tròng trành giữa sóng nước đaị dương. Cả con tàu râm ran rời khấn nguyện, cầu khẩn. Lòng ông Hải ngổn ngang bao nỗi sợ sệt suy tính, nếu ngày trước, mỗi khi đứng trước biển thì lòng khoan khoái dễ chịu, bao nhiêu bực dọc của cuộc sống thành đô đều tiêu tan. Ấy vậy mà giờ giữa biển khơi thì sợ đến sốt vó, nhìn bốn phía toàn là nước và nước, đường chân trời xa tít tắp, chẳng biết đâu là bến bờ. Ngày trước đi học, sách vở thường ví con tàu ra giữa đaị dương thì như chiếc lá tre, lá trúc, giờ thì thấy không đúng, thật sự tàu giữa đaị dương chỉ như sợi lông măng. Ông Hải laị thấy những người trên tàu không khác gì hoàn cảnh của những con chuột đồng khi mùa nước nổi, bập bềnh trên khúc gỗ, cành cây. Con tàu chết máy cứ trồi lên hụp xuống giữa những lượn sóng. Ông Hải ói sạch cả ruột gan, không gì để ói mà vẫn cứ ói, bụng đau quặn thắt, một tí dịch cũng không còn nhưng cơn buồn ói nó cứ ụa lên. Đói mờ cả mắt, nằm bẹp ở sát mạn tàu, ông Hải thấy thấp thoáng thần chết cận kề, bao nhiêu ký ức trỗi dậy, lòng ăn năn hối hận vô cùng. Một thời giàu sang nhất xứ, đã từng ky cóp để có một gia tài kết xù, đã đối xử bần tiện với người làm công… để rồi mất sạch cả trong một buổi sớm thay ngôi đổi chủ của sơn hà. Ông thầm nghĩ:” Giá mà hồi đó ta san sẻ bớt cho người làm công, kẻ nghèo khổ bần cùng, giúp đỡ tha nhân…thì khi mất hết gia sản cũng còn chút dư phước, đằng này mất cả mà phước báo cũng không , thật đúng là dã tràng xe cát. Ngày trước khi ra đi thì lòng đinh ninh sống chết gì cũng phải đi, giờ nhìn vợ con đói, khát nằm vật vã trên tàu thì lòng thống hối laị càng lớn. Ông Hải ân hận mình đi từ cái sai này đến cái sai khác. Trước khi tàu chết máy, gã tài công cố hướng mũi về Mã Lai nhưng giờ dòng nghịch lưu đẩy nó quay về hướng đông nam. Nước chảy, gió thổi con tàu càng ngày càng xa, hết nắng gay gắt ban ngày lại cái lạnh thấu xương đêm đen. Chẳng còn ai biết đã bao nhiêu ngày trôi qua, con tàu cứ thế trôi, may mà chưa gặp bão hay cướp biển. Thỉnh thoảng thấy xa xa có tàu hàng, mọi người vùng dậy gõ nồi,song, vẫy áo quần hay bất cứ thứ gì vớ được, dồn hơi la hét… nhưng tất cả loãng trong hư không, tàu hàng laị mất hút ở chân trời. Trời vừa hừng đông, chị Liễu ở cuối con tàu, giọng khan đặc la hớt hải: 

 - Con bé Tư chết tự hồi nào, xác cứng đơ đây nè! 

 Nhiều tiếng than tội nghiệp, con nhỏ mới mười mấy tuổi đầu, chưa đủ lớn đã chết khát oan ức trên con tàu này. Đằng kia laị lao xao, có người la lên:

 - Chú Hai chết rồi, xác lạnh ngắt, có lẽ chết tối qua!

 Nhiều tiếng niệm Phật, đọc kinh rì rầm. Có người làm dấu thánh giá, miệng cũng lầm bầm đọc kinh thánh. Mấy anh thanh niên trẻ, khiêng hai cái xác vô hồn thả vào lòng biển cả. Ngày hôm sau laị có ba người nữa bỏ mạng, biển laị nhận thêm cư dân mới. Trên tàu như một bãi tha ma, sự im lặng bao trùm không gian, chỉ còn tiếng óc ách của nước vỗ mạn tàu, con tàu hệt như một nấm mồ nổi giữa sóng nước trùng dương. Ngày kế laị có bốn người chết, rồi ngày tiếp theo có ba người chết, người trên tàu khiêng xác những kẻ xấu số lặng lẽ thả vào lòng biển, không ai còn nước mắt để khóc, những cái xác vô hồn từ từ chìm vào lòng biển xanh thẫm như màu mực. Những người còn laị cũng kiệt sức lắm rồi, chẳng còn biết mình có thể sống được bao lâu nữa, hy vọng được cứu cạn dần. Không biết ai đó thì thào:” Hay là chúng ta mượn tạm thịt xác chết để sống sót?” đa số phản đối, cho man rợ nhưng cũng có một số người im lặng

 Giấc xế chiều, khi ánh nắng bớt gay gắt,  đường chân trời tím thẫm. Gã tài công cùng hai đứa đàn em thân tín thất thểu len lỏi dọc mé tàu, laị chui xuống hầm tàu thì thấy một bà già ngồi khóc khô bên xác con Lành. Ngày con Lành lên tàu, gã tài công đã tăm tia:

 - Con nhỏ tướng tá ngon lành, bá cháy thiệt! 

  Mà quả thật, con Lành trắng da dài tóc, trông mướt rượt. Những gã đàn ông trên tàu đều nhìn chằm chặp, có kẻ buông lời cợt nhã, ấy vậy mà giờ là cái xác xám ngoét không hồn. Gã tài công và hai tên đàn em ráng khiêng xác con Lành đi, bà già níu laị. Gã bèn nói:

 - Dì ơi dì, cô Lành chết rồi, để tụi con đem cô ấy táng vào biển.

 Bà già khô héo quắt queo buông tay ra, thằng đàn em tên Tùng càm ràm:

 - Bà già vậy là lì đòn hơn, con nhỏ trông múp rụp mà laị yếu xìu, chết trước.

 Khiêng lên sàn tàu thì thả xuống nghỉ hơi, đói quá, run tay, kiệt sức…Nghỉ một chặp laị khiêng đến sát mạn tàu để thả xuống biển, khi cái xác được nâng lên vượt mạn, gã tài công đẩy nửa xác con lành ngoài tàu thì thằng Thụ, đàn em của gã tài công rị xác con Lành làm cho rơi laị sàn tàu. Gã tài công bực mình:

 - Đ…mẹ, mầy làm cái quái gì vậy? 

 Thằng Thụ lí nhí:

 - Dù gì thì con Lành cũng chết rồi, tụi mình cần phải sống! 

 Gã tài công thắc mắc

 - Ý mầy sao? Tao hổng hiểu.

 Thằng Thụ không trả lời, nó sụp lạy cái xác con lành ba lạy, vừa lạy vừa van vái:

 - Cô lành sống khôn chết thiêng, xin phù hộ cho tui, xin tha thứ cho tui, đừng bắt tui. Dù gì cô cũng chết rồi, tui đói quá, tui hổng muốn chết, cho tui mượn cô một tí để sống sót. 

 Vái xong nó rút con dao găm thủ sẵn trong túi quần ra và xẻo một miếng thịt đùi trên xác con Lành. Nó đưa lên miệng nhưng vừa cắn thì lập tức gan ruột nó quặn lên, nó ói từ mật xanh tới mật vàng, dù rằng chỉ còn chút xíu xiu nhờn nhợt trên sàn tàu. Gã tài công và thằng Tùng thấy thế há hốc miệng kinh ngạc và cũng lập tức ói theo, cũng như thằng Thụ, cả hai cũng chẳng có gì để ói, chỉ là chút nước tanh tanh. Bà già lần mò bò từ hầm tàu lên, trông thấy tất cả, bà hét lên nhưng không thành tiếng và ngã ra ngất xỉu. Ông Hải nằm gần đấy chứng kiến cảnh tượng từ đầu đến cuối, rùng mình sởn ốc nhưng sức yếu quá vả laị cũng chẳng biết làm gì hơn. Màn đêm từ từ phủ chụp xuống, bóng tối từ đáy biển trồi lên quấn lấy con tàu- nấm mồ nổi vào lòng đêm của nó, cái màu đen đặc quánh đến nghẹt thở, cả con tàu dường như không còn sự sống nào.

  Sáng sớm ngày kế tiếp, sau cái buổi chiều rùng rợn ấy, mọi người trên tàu mở mắt ra và không tin được ở mắt mình, ai cũng duị dụi mắt, có người ngơ ngác nhìn quanh như hỏi xem có phải là sự thật. Một con tàu to lớn như thành phố nổi, mọi người đang nằm trên boong của nó, người thì được truyền nước biển, kẻ thì được tiếp thức ăn…Những giọt nước mắt nóng hỏi chảy ra sau mấy tuần khô kiệt. Có tiếng thều thào:” Sống rồi, chúng ta được vớt rồi”

 Bốn tháng sau, các nhân viên của liên hiệp quốc đến trại lập hồ sơ cho những thuyền nhân. Có người xin đi Canada vì có thân nhân, có kẻ thì xin đến Đức…và những trường hợp này đều ra đi mau chóng. Những người còn laị thì chọn đi Mỹ nhưng phải đợi hơn một năm sau. Ông Hải chọn đi Mỹ, nhân viên liên hiệp quốc xem sơ qua hồ sơ, lời khai lập tức chấp thuận ngay. Ông ôm vợ sung sướng nhỏ lệ:

 - Qua cữa tử rồi em, chúng ta sẽ đến Mỹ làm laị cuộc đời

 Khi ra lên tàu ra đi thì đầy đủ, giờ sắp đến đất tự do, miền đất hứa mà bao nhiêu người mơ ước thì chỉ còn bảy người. Ba người trong gia đình ông vĩnh viễn làm cư dân của đại dương. Lần đầu tới phao số không là qua một cửa tử, lần được vớt lên thuyền viễn dương là qua thêm cửa tử nữa, giờ thì được chấp nhận cho định cư ở Mỹ là qua ba cửa tử. Nghĩ đến đó ông Hải sụp lạy giữa đường, tạ ơn Bồ Tát cứu khổ cứu nạn. 

 Khi Thụ lên phỏng vấn, nhân viên của liên hiệp quốc thông qua một người phiên dịch nói:

 - Anh đã ăn thịt người, vi phạm đạo đức căn bản của con người. Anh sẽ bị trả về nguyên quán! 

 Cả Tùng và gã tài công cũng bị bác hồ sơ vì tiếp tay cho Thụ.  Tùng và gã tài công thấy oan ức toan cãi thì tay nhân viên liên hiệp quốc đuổi ra ngoài. Thụ chết trân, không biết nói lời gì, quả báo thật không sai vạy, mặc dù Thụ chẳng thật sự ăn. Nhiều người  thấy nhưng ai cũng cứ bảo là Thụ ăn thịt người, nỗi tuyệt vọng lẫn uất ức dâng lên làm cho Thụ như ngạt thở, bất thần anh ta rút con dao găm ra và đâm vào bụng mình. Thụ ngã vật xuống, máu lênh láng, con dao găm này lúc trước Thụ đã xẻo miếng thịt trên đùi con Lành vẫn còn ngập trong bụng. Cả trại nhốn nháo lên, tiếng la hét, tiếng gọi cảnh sát, cứu thương ầm ĩ. Thụ nằm mơ màng thấy bồng bềnh trên đaị dương, xác con Lành nhợt nhạt dập dềnh qua làn nước xanh thẫm. 


TIỂU LỤC THẦN PHONG 

Ất lăng thành, 4/2020

 

Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…
Đợi, và đợi. Có đến khoảng gần một trăm người xếp hàng đợi. Mới có năm giờ sáng thôi! Trời Đà Lạt đổ sương xuống nghe ướt tóc, ướt vai. Phòng bán vé còn đóng kín cửa. Sáu giờ mới bán vé. Biết vậy rồi, nhưng đám đông người này vẫn đến sớm chờ đợi. Chẳng qua là số xe có giới hạn, mình đến sớm mới mong có xe đi, nếu không thì phải về và trở lại vào ngày mai. Người ta nhìn nhau, như ngầm nói qua đôi mắt rằng đến sớm chắc ăn hơn. Mà không chừng có người đã ngủ đêm trước phòng bán vé để được xếp hàng phía trên cùng.
Tháng 7 trời xanh cao, mùa lên hâm nóng. Mặt đất nung nhiệt ngấm ngầm địa chấn, như muốn cùng người rung vang lời ngân quá khứ. Tháng 7 gọi về hàng phượng đỏ thắm rung rinh chùm nở, thứ lung linh ảo mờ, gần gụi mà xa thẳm, “mù không lối vào...” (TCS). Vang vang trong gió, lời trẻ thơ láng giềng vọng lại đùa vui tiếng nước...
Nếu Thanksgiving ở bên Mỹ mang màu sắc rộn rã chuẩn bị cho mùa Giáng Sinh, thì Thanksgiving bên Canada lại rơi vào Tháng Mười dịu êm, có đủ màu sắc nâu vàng đỏ của lá cây chuyển màu cuối Thu, với màu cam của những trái pumpkins cho lễ hội Halloween . Những ngày này, gia đình tôi chộn rộn với những đợt “thu hoạch” cuối cùng, chuẩn bị dọn dẹp vườn tược sạch sẽ trước khi mùa lạnh đang đến. Theo ý nghĩa nguyên thủy của Thanksgiving là Tạ Ơn đất trời cho mùa màng bội thu, thì năm nay gia đình tôi cũng xin được Tạ Ơn. Mấy cây táo và plum trúng mùa trĩu quả, hái mấy lượt vẫn không hết. Những quả plum tím căng mọng ngọt ngào, vừa đem tặng bạn bè, hàng xóm, vừa để đông lạnh ăn dần, mà vẫn còn mấy rổ tươi đầy ắp. Mùa táo, nhiều gia đình Việt Nam thích đem ngâm chua ngọt, trong khi những người bản xứ làm mứt táo, hoặc sên táo làm apple pie, một trong những món bánh khoái khẩu của nhiều người trong bàn ăn Thanksgiving bên cạnh pumpkin pie .
Nhạc sĩ Hùng Lân mất vào ngày 17/9/1986 tại Sài Gòn. Hôm nay, ngày 17/9/2025 tôi nhớ tới ông. Tính ra đã 39 năm. Ba năm trước, tại nhà thờ Phanxicô Dakao đã có một lễ giỗ 36 năm ngày mất của ông. Linh mục Đỗ Xuân Quế, chủ tế lễ giỗ, đã nói trong thánh lễ: “‘Hôm nay là lễ giỗ thứ 36 của ông Phêrô Hoàng Văn Hương tức là nhạc sĩ Hùng Lân. Ông là người đáng cho chúng ta trân trọng và quý nhớ. Vậy chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện cho ông được vào nước Thiên Chúa. Nếu ông đã được vào rồi thì xin nhớ đến chúng ta là những người đang tiếp tục cuộc hành trình nơi dương thế đang hướng về Nước Trời.” Sau thánh lễ là chương trình tưởng niệm trong đó có tiết mục trình diễn nhạc của Hùng Lân, cả nhạc đạo lẫn nhạc đời. Người dẫn chương trình cho tiết mục này là nhạc sĩ Cao Huy Hoàng, đến từ Phan Thiết. Ông chia sẻ: “Nếu ngày ấy, thầy Hùng Lân qua đời, Chúa hỏi ‘nén bạc của ta đâu?’, thầy có lẽ không trả lời hoặc chưa trả lời kịp thì hôm nay, chúng ta có thể nhìn lại và thấy được rằng nén bạc của thầ
« Chưa gặp em tôi đã nghĩ rằng, có người con gái đẹp như trăng… khi gặp em rõ thấy một bà chằng! » … Chằng tinh, hay chằn tinh là một loài người hay cũng coi là một loài quỷ hung ác. Tùy vào hoàn cảnh, tùy vào người ta gặp, ta đối diện. Nay thế giới có nhiều loại chằn tinh, chằn ở trong mọi lãnh vực, chính trị, văn hoá, kinh tế, giáo dục và cả trong xã hội v.v…Do đấy, ta muốn tìm hiểu nguyên do chằn ở đâu ra. Hẳn là trong văn hóa Nam Bộ Việt Nam - Ấn Độ - Khmer…? Theo tác giả Huỳnh Thanh Bình, chằn là một loại sinh vật truyền kỳ, làm hộ pháp, canh giữ chùa, tháp, chánh điện phật giáo nam truyền và chiếm vị trí quan trọng trong văn hóa và tâm linh của người Khmer nam bộ, phổ biến trong kho tàng truyện kể dân gian và tuồng tích sân khấu của đa phần người Đông Nam Á.
Cả ông ta và tôi cùng cười xòa. Ui, mình đúng là đãng trí thứ thiệt. Phần Lan đã gia nhập Eurozone từ 1999 và dùng Euro ngay từ buổi đầu như những quốc gia thành viên khác. Ngày trước, nhắc đến những thủ đô bắc Âu, người ta thường nghĩ đến Oslo giàu có của Na Uy, Copenhagen trẻ trung của Đan Mạch. Giờ đây, Helsinki dần dà từng bước góp mặt vào danh sách những thủ đô được du khách ưa chuộng. Sức thu hút của thành phố ngày càng tăng. Từ 15 năm nay, Helsinki là một trong những thành phố tân tiến nhất Âu châu.
Bà xỏ chân vào đôi dép, lê lẹp xẹp vào buồng. Bà lấy ra một bịch nhựa trong đó đựng trăm thứ lặt vặt không ra hình thù gì. Bà nhìn trước, ngó sau như người ăn trộm. Chị mua ve chai đứng ở ngoài cửa bếp. Như một việc đã quá quen thuộc, chị đón lấy cái túi, móc vào cái cân xách. Trước kia chị phân loại giấy ra giấy, nhựa ra nhựa, nay thì hai bên đã thỏa thuận với nhau là có một cái giá trung bình cho toàn thể. Bà thì nhìn đăm đăm vào mớ hàng lặt vặt ấy như nhìn một thứ gì quý giá lắm. Mà không quý sao được, vì đó là kết quả của nhiều tuần bà lượm lặt và cất giữ.
Cho tới bây giờ, thỉnh thoảng trong giấc ngủ tôi vẫn nằm mơ tới chuyện thi Tú tài và giật mình tỉnh dậy, mừng húm mà mồ hôi vẫn đổ ra. Trong lần thi Tú Tài I, tôi đã thức đêm thức hôm học đến bị yếu phổi. Chữ “Tú Tài” nặng nhọc với tôi như vậy tuy nghĩa của nó là “đẹp đẽ, có khả năng, tài giỏi”.Ông Tú Xương có lẽ cay đắng với chữ “Tú Tài” không kém gì tôi. Ông vác lều chõng đi thi tất cả 8 lần, từ khoa Bính Tuất (1886) tới khoa Bính Ngọ (1906). Ba lần đầu ông đạp vỏ chuối, tới lần thứ tư, năm Giáp Ngọ (1894), ông mới vớ được cái Tú Tài nhưng là Tú Tài đậu vớt, chữ ngày đó gọi là “Tú Tài Thiên Thủ”. Ông chết với cái danh Tú Tài, chẳng bao giờ kiếm được cái “Cử Nhân” mặc dù vẫn cặm cụi đi thi.
*SONG THAO Tôi chừ chỉ chơi thể thao trên ghế sa-lông, ngồi coi người ta chơi. Thứ tôi coi người ta chơi là hockey, tennis và đôi khi bóng tròn. Mình không còn khả năng thì coi người ta chạy nhảy cũng là một cách chơi. Cách chơi biết mình biết ta. Các ông bạn tôi cũng chơi như tôi. Có điều mỗi người chơi theo ý thích riêng của mình. Ông Hoàng Xuân Sơn, ông Luân Hoán cũng na ná như tôi. Nhưng ông Luân Hoán hơi ngả về bóng tròn. Ông Hồ Đình Nghiêm máu mê hơn. Ông sa đà vào bóng tròn. Thời gian vừa qua, ông coi giò coi cẳng các nữ nhân tranh giải bóng tròn thế giới FIFA một cách mê mệt. Ngày ngày ông bá cáo bà con trên Facebook tường tận về từng cặp chân vàng mà trắng, cô nào đá hay, cô nào chụp banh giỏi, ông rành như có họ hàng thân thiết.
Bạn có thể xem bài này như truyện ngắn. Có thể gọi là nhiều truyện ngắn trong một truyện ngắn, hay là ghép từ nhiều mẩu truyện. Bạn cũng có thể đọc như tùy bút, hay bản tin, hay là vân vân... nghĩa là bất cứ những gì có chữ, có thể đọc lên, có thể nghe được như âm thanh. Đó là những gì tự nhiên hiện lên trong trí nhớ của tôi, những gì tôi bất chợt nghe bên tai khi ngồi bên sông, ven biển, góc rừng, hay khi nửa đêm nhìn ra hàng hiên.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.