Hôm nay,  

Nó

14/06/202009:42:00(Xem: 7275)

Vừa ngồi được phút chốc thì thấy một thiếu phụ lên xe, nhìn cái bụng lum lum có bầu biết là chị ta khó nhọc lắm. Nó uể oải đứng dậy nhường chỗ cho chị ta, mặc dù nó đã đứng suốt ngày trong xưởng, hai chân mỏi muốn rũ ra. Xe buýt đầy nhóc, mọi người chen chân đứng như thế mà chị còn mang cái bầu nữa thì mệt phải biết. Nghĩ mình nhường ghế cho chị cũng là một hành vi đẹp nên dù có mệt nó vẫn thấy vui vui và thoải mái trong lòng.

 

 Qua chừng năm trạm nữa, người lên kẻ xuống tấp nập, chị có bầu kia cũng xuống xe, trước khi đi chị chào và cảm ơn nó lần nữa. Nó cũng vui vẻ chào laị, bảo chị đừng bận tâm chi, chuyện nhường ghế cho người có bầu, cụ già, em bé là chuyện đương nhiên. Xe đến trạm gần cuối thì xe vắng hẳn, đang hí hoáy quẹt quẹt trên cái điện thoại thông minh, bất chợt nó ngưng laị nhìn quanh quất và thấy một cái ví gần gầm ghế. Nó nhặt lên và xem thử bên trong thì thấy tiền nhiều quá, nó nhét vội vào ba lô của nó mà những người khách còn laị trên xe chẳng ai thấy. Người nào cũng chúi mũi vào màn hình điện thoại, chẳng ai biết trời trăng gì xung quanh cả. Về đến nhà trọ, nó xem lại thì có đến một trăm triệu đồng và hai ngàn ba đô la Mỹ, ngoài ra còn có hai chiếc nhẫn và cái thẻ tín dụng, thẻ căn cước. Nó run run, chưa bao giờ thấy hay cầm trên tay món tiền lớn như thế, lòng thầm thì: “Trúng mánh rồi”. Trong đầu nó lập tức phác hoạ ra bao nhiêu việc phải làm. Nó sẽ xin nghỉ phép một tuần để hưởng thụ, trước hết phải đi nhà hàng hạng sang ăn một bữa cho đã đời, vô thương xá mua mấy món hàng hiệu lâu nay ao ước mà không có tiền, đi xăm con rồng trên lưng, mấy  tay thợ xăm kêu giá cả chục triệu nên trước giờ chưa làm đượ, phải đi du lịch một chuyến bù laị những ngày quần quật cày như trâu... nghĩ đến đó nó thấy sung sướng lâng lâng tựa hồ như bay bổng. Nó nhảy cẫng lên hét to;” Hooray, hooray”. Khi phút giây sướng vì lượng Adrenaline tiết ra ào ạt, nó trở laị bình tĩnh và chợt nhiên lòng nó chùng xuống khi nghe được lời thì thầm từ trái tim:

 

 - Cậu sung sướng lắm phải không? cậu đang vui trên sự đau khổ của kẻ khác đấy! giờ này người chủ cái ví ấy đang khóc, tinh thần đang bấn loạn. Cái ví ấy có thể là của chị khách mang bầu, có thể là của một người mẹ hay một người em gái nào đó.

 

 Nó chột dạ, bao nhiêu cao hứng về những kế hoạch vừa vẽ ra chợt tan biến và nó cụt hứng. Nó laị nghe có giọng cứng cỏi của lá gan:

 

 - Cậu chủ nhặt nó trên xe buýt, cậu ấy đâu có lấy cắp của ai!

 

 Trái tim vẫn thì thầm:

 

 - Đành rằng nhặt được, nhưng rõ ràng có thể trả laị cho người đánh rơi, cố tình không trả cũng đồng nghĩa là ăn cắp rồi.

 

 Lá gan lý luận:

 

 - Chẳng có luật nào trị tội nhặt của rơi cả.

 

 Trái tim giải thích:

 

 - Luật pháp có thể không trị nhưng luật nhân quả không sai vạy, lương tâm không cho phép.

 

 - Lương tâm sao bằng lương tháng? Món tiền đó cậu chủ làm cả hai năm cũng hổng có, lá gan biện bác.

 

 - Nếu đã nhẫn tâm và vô đạo đến mức đó thì còn gì để nói. Tớ tin cậu chủ không đến nỗi như vậy! trái tim nhỏ nhẹ nhưng mạch lạc trả lời.

 

 Nó thật sự phân vân, nó cũng muốn trả laị cho người đánh mất nhưng nó cũng thích ăn xài hưởng thụ. Nó thương người mất ví nhưng những đòi hỏi của bản thân nó róng riết chẳng chịu buông tha. Nó đang đứng giữa đường lựa chọn, trả laị hay tiêu xài? Nó đã học qua những bài học đạo đức, những giáo lý từ bi, nhân quả… nhưng lúc này sao thấy mông lung quá, áp dụng chẳng dễ tí nào. Nó cũng từng nhặt được những món đồ nho nhỏ, không đáng giá bao nhiêu nên đễ dàng trả laị cho người mất, còn bây giờ cái ví này với món tiền lớn quá nên nó sanh lòng giữ lấy. Nó suy tính thiệt hơn, đắn đo giữa tình người và sự thoã mãn cho bản thân. Bao nhiêu ý nghĩ quay cuồng như lồng quay số lô tô, nhiều giả thuyết được đặt ra. Chợt một ý nghĩ phân tích rạch ròi như tay thám tử chuyên nghiệp phát sinh trong đầu nó: “Những người đi xe buýt là những người nghèo hoặc là học sinh, sinh viên, người lao động…Và trong thời buổi hôm nay, ít ai giữ món tiền mặt nhiều như thế trong ví. Có thể chủ nhân của cái ví này mới đi nhà băng rút tiền ra để chuẩn bị cho một việc quan trọng nào đó. Còn thẻ tín dụng thì kh6ong thể xài được, mình không biết mật mã, không beí6t cách bẻ khoá, lớ ngớ là người ta gọi cảnh sát còng tay như chơi.

 

Mình chỉ có thể xài món tiền mặt kia thôi!”, việc trả laị hay giữ lấy mà tiêu xài quả là thử thách đầy cân não. Nó còn nẩn vơ thì một ý nghĩ nữa laị hiện ra:” Biết đâu người mất ví sẽ nhớ laị đã làm rơi trên xe buýt và sẽ nhờ cơ quan quản lý xe hoặc cảnh sát xem laị máy quay hình trên xe… lúc ấy thì sẽ rắc rối, điều này cũng có thể lắm!”

 

 Nó cầm cái ví lên lật qua lật laị, món tiền quá lớn, nằm mơ cũng chưa thấy. Có lời xúx xiểm từ lá gan:

 

 - Cậu cứ xài đi, tới đâu hay tới đó, cơ hội chỉ một lần thôi, không dễ gì có laị lần thứ hai, nếu không muốn nói là sẽ không có!

 

 Trái tim rủ rỉ:

 

 - Món tiền tuy lớn thật, cậu xưa nay là người tốt, lẽ nào chỉ  vì món tiền này mà cậu bán rẻ danh dự sao? cậu hãy nghĩ xem, nếu mẹ cậu, chị cậu, em cậu mất món tiền như thế thì họ sẽ đau khổ như thế nào? Chưa kể là còn rắc rối với chồng, với gia đình hay với chủ nợ của họ. Giả sử họ dùng món tiền này để chữa bệnh, đóng học phí hay trả món nợ lỡ vay của xã hội đen… nếu mất món tiền này thì quả là tai họa lớn ụp xuống đầu họ, không chừng họ sẽ không vượt qua nổi cú sốc này!

 

 Trái tim ngưng giây lát rồi laị thủ thỉ:

 

 - Cậu đã đọc sách, đã học lý thuyết, giờ cậu hãy thực hành đi! những cái nhỏ nhiệm vi tế nó ẩn sâu, ngày thường dễ lướt qua, khi có điều kiện thuận lợi thì nó sẽ trỗi dậy mãnh liệt. Bản thân cậu đã từng, khi nhặt món nhỏ bé thì cậu trả laị ngay, giờ nhặt món lớn thì lòng tham trỗi dậy, nó biến cậu thành con người khác, vì món tiền này mà cậu có những suy nghĩ và hành vi mà trước kia cậu chưa từng có.

 

 Nó thấy xấu hổ cho bản thân, những lời trái tim nói hoàn toàn chính xác, mình không thể thụ hưởng trên sự đau khổ của kẻ khác. Nó vừa thú nhận như thế thì có âm thanh đay nghiến từ bao tử và quả thận:

 

 - Thằng tim kia, nãy giờ tụi tao nghe mầy nói mà sanh bực bội. Mầy bày vẽ chuyện lương tâm đạo đức vớ vẩn, hãy để cậu chủ hưởng sung sướng một tí đi, lâu nay cậu chủ khổ nhiều rồi. Cậu chủ thiếu thốn nhiều thứ, nay có cơ hội thì ăn chơi mát trời ông địa cho đã đời, mua những thứ cậu ấy muốn và làm những gì cậu ấy thích…mầy cứ can gián làm cho cậu chủ khó xử.

 

 Hai đứa nó còn quay qua khích tướng lá gan:

 

 - Cậu phải kích hoạt làm cho cậu chủ dạn dĩ lên, bảo cậu chủ tiêu xài đi, chẳng có chi phải sợ hay lương tâm cắn rứt!  đời có bao nhiêu đâu, ngắn ngủi lắm, hưởng thụ hay khắc khổ rồi cũng chết cả! sống đạo đức nhiều khi còn bị người ta chế giễu, khi dễ…

 

 Thế rồi cả ba đứa nhao nhao khích bác trái tim, oán trách và cả kết tội trái tim. Trái tim vẫn nhẹ nhàng, mềm mỏng:

 

 - Các cậu nói đúng, đời ngắn ngủi lắm, vô thường lắm! chính vì vậy mà mình phải sống cho đàng hoàng, sống cho đẹp, sống ở đời cần có một tấm lòng. Mình sống tốt với người cũng chính là tốt với bản thân mình, mình tạo cái nhân tốt cho việc tái sanh mai sau.

 

Mình sống tốt  mà người ta cười hay chế giễu ấy là người ta sai, đừng vì cái sai của người khác mà mình bỏ cái đúng của mình.

 

 Ba đứa gan, bao tử và thận la lối ồn ào:

 

 - Tim, mầy hổng nghe người ta nói sao? Ca dao đấy nhé!

 

    “Trắc nết chết cũng ra ma

        Chính chuyên chết cũng khiêng ra ngoài đồng”

 

  hoặc là: “Đạo đức lấy cứt gì ăn… Mầy xúi cậu chủ trả laị tiền, sống thúc thủ thân tâm, mày làm khổ cậu chủ, haị cậu chủ!

 

 Trái tim nghiêm giọng:

 

 - Những câu ấy rất bậy, bao biện cho việc sai trái, có thể người nói hay viết câu ấy là kẻ không ra gì. Các cậu dùng mấy câu ấy để biện minh cho việc xúi cậu chủ làm sai, các cậu mới chính là người haị cậu chủ! Tớ đã nói hết những gì cần nói, giờ lựa chọn thế nào là tuỳ vào bản lãnh cậu chủ!

 

 Nó đang nằm dài, gác tay lên trán nhớ câu: “Trái tim có lý lẽ của nó, đôi khi khối óc không thể hiểu được”, những lời trái tim rất chân tình, ngay thẳng và nhân ái. Nó vùng dậy mở máy tính cá nhân và viết:

 

 - Tôi tên: Vô Tình Khách, ngày x tháng xx năm xxx, vào lúc năm giờ chiều,  trên chuyến xe buýt số 69 chạy từ đường 23 đến đường 27 tôi nhặt được một cái ví, trong ấy có một số tiền và nữ trang. Ai làm rơi thì liên hệ số điện thoaị: xxx xxx xxx hoặc điện thư: Votinhkhach01@... để nhận laị tài sản.

 

 Nó đăng lên mạng Facebook, Twitter và nhắn cho mọi người chia sẻ rộng rãi. Nó còn gọi vào hộp thư bạn xem đài của đài truyền hình địa phương để nhờ thông báo trên tivi. Hai giờ sau có khá nhiều tin nhắn nhận là chủ cái ví ấy, nó lập laị lời yêu cầu cần có giấy tờ chứng minh trùng với thẻ căn cước trong ví, mấy tin nhắn ấy lặn luôn. Quá trưa hôm sau có người phụ nữ nhắn tin xin địa chỉ đến nhà. Nó cho địa chỉ và chị ấy đến, trông chị gầy hao và có vẻ khóc nhiều vì đôi mắt còn sưng bụp. Nó mời chị ngồi rồi rót cho ly nước lọc, chị xoay cái ly nôn nóng trình bày: Con chị bị ung thư, đang xạ trị, bao nhiêu tài sản bán hết vẫn không đủ, nhờ nhiều người hảo tâm kêu gọi giúp đỡ nên có một ân nhân ẩn danh cho chị một trăm triệu và hai ngàn ba đô la để chữa chạy cho con chị, ngoài ra trong ví còn có hai chiếc nhẫn cưới, chị giữ gìn lâu nay toan tính bán nốt để chữa trị cho con, cái thẻ tín dụng thì chỉ có chừng trăm ngàn thôi. Chị đưa ra giấy hộ khẩu, giấy kết hôn… đều khớp với tên trong thẻ căn cước. Nó nhìn chị và cái hình trong thẻ căn cước đúng là chủ cái ví rồi, nó bèn trao laị cái ví cho chị và bảo chị đếm laị tiền, chị kiểm tra laị không thiếu xu nào. Chị sụp quỳ xuống muốn lạy nó để cảm ơn. Nó vội đỡ chị ngồi lên:

 

 - Chị đừng làm vậy!

 

 Chị sụt sùi cảm ơn mấy bận và định muốn nói thêm nhưng có lẽ xúc động quá nên không nói được gì. Nó cũng cảm thấy thương chị và trong lòng mừng vì mình đã vượt qua được chính mình. Nếu nó giấu cái ví luôn thì không biết chị sẽ ra sao và con chị sẽ thế nào đây? Nó hỏi thăm về chồng chị đâu khi thấy chị đã bình tĩnh laị. Chị bảo: “Chồng chị chạy xe ôm và làm bất cứ việc gì có thể làm được để có tiền chữa trị cho con. Hôn qua anh ấy có hẹn chở khách đi tỉnh nên chị mới đi xe buýt và trong lúc bất cẩn cái ví trong túi xách bị rơi ra, tối hôm qua cả hai vợ chồng khóc sưng mắt, may mà chồng chị cũng thương chị nên không đánh đập hay chửi mắng gì.”

 

  Nó bảo chị gọi anh đến chở về, giờ ngoài đường dễ bị cướp giật lắm, chị ngồi đợi chừng mười lăm phút sau thì chồng chị đến. Anh ta trông cũng hiền và khá khắc khổ, có lẽ vì suốt ngày nắng gió ngoài đường, tuy nghèo khổ  nhưng khi chị làm mất món tiền lớn vậy mà anh cũng không nỡ đối xử tệ với vợ mình. Nó mừng thầm chị có phước, gặp được người chồng tử tế. Anh cảm ơn nó rối rít, tiễn hai vợ chồng ra về mà lòng nó thấy vui, nó đã làm được một việc đẹp, nó vượt qua chính nó. 

 

 Mầy ngày sau bạn bè hỏi:

 

 - Sao mầy không nhờ nhà đài hay báo chí trả laị? vừa khỏi mất công vừa được tiếng thơm.

 

 Nó cười thầm: “Món tiền lớn tao còn trả laị được thì cái tiếng thơm hư danh nghĩa lý gì.”

 Tối hôm ấy nó ngủ mà trái tim thì thụp nhẹ nhàng êm ái lạ thường, bọn bao tử, gan, thận cũng im ru không nghe thấy lời phàn nàn nào nữa cả.

 

TIỂU LỤC THẦN PHONG

Ất Lăng thành, 062020

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.