Hôm nay,  

Mẹ

04/09/202008:59:00(Xem: 8796)

 

Ho Thi Kim Tram
Mẹ không làm việc ở Tổng Nha Điền Địa nữa, không còn mỗi ngày lên xuống xe buýt sáng chiều. Mẹ chuyển về làm việc ở Ty Điền Địa cho gần nhà, chỉ cần đi bộ.

Ngày nào cũng vậy, từ nhà, mẹ đi dọc vỉa hè đường Công Lý quẹo phải ngã tư đường Yên Đỗ, quen thuộc đến nỗi nhắm mắt mẹ cũng đi tới nơi. Suốt nhiều năm làm việc, mẹ chưa bao giờ phàn nàn về phương tiện đi lại. Thời gian của mẹ như chiếc đồng hồ, chính xác lắm! Mẹ còn một cuốn sổ ghi chép đầy đủ các mục thu chi hàng ngày, dù mẹ chẳng hề học qua lớp kế toán. Tôi chưa bao giờ xem thử mẹ viết những gì trong cuốn sổ nhỏ đó, nhưng đoán là nó đã rất có ích cho cuộc sống của mẹ con chúng tôi.

Những năm 60-70, khi đi làm hoặc ra phố, mẹ luôn mặc những bộ áo dài rất lịch sự. Tóc mẹ bới gọn sau gáy, kẹp cây kẹp tăm nhỏ hai bên mái cho tóc khỏi xòa ra mặt. Mẹ còn không quên xịt tí nước hoa, thói quen lúc xưa khi đi chơi với cha. Trông mẹ thật quý phái, xinh đẹp với nụ cười có hai đồng tiền nơi khóe miệng. Nhiều lúc nhìn mẹ sửa soạn đi công chuyện tôi thấy thương mẹ quá, rồi dại dột suy nghĩ tại sao cha mất sớm để mẹ phải sống hoài phí tuổi thanh xuân với năm đứa con thơ dại.

Một ngày, đi học về tôi đã thấy mẹ trong nhà. Một điều rất lạ! Đợi đến buổi cơm chiều, mẹ bình thản kể lại chuyện bị té xỉu trên đường đi làm về lúc trưa. Cũng may mẹ ngã trước cửa nhà, là phòng mạch tư của một ông bác sỹ. Ông đã sơ cứu, cho mẹ nằm nghỉ tại phòng mạch của ông tới lúc mẹ tỉnh táo để về nhà. Đó là lần đầu tiên tôi biết mẹ bị cao huyết áp, dễ đưa đến tai biến nguy hiểm. Bác sỹ khuyên mẹ nên vào bịnh viện làm các xét nghiệm để phòng tái phát. Từ đó, mẹ thường xuyên ra vào viện Y Học Dân Tộc của bác sỹ Trương Thìn. Có lần mẹ phải nằm bịnh viện điều trị ba tuần. Mẹ ưu tư lắm! Việc làm ở sở, việc học của các con, việc thăm nuôi người bịnh, v..v... Lo lắng nhiều vậy mà mẹ không một lần xin bác sỹ cho về nhà. Tôi chưa thấy ai thích ở bịnh viện hơn ở nhà như mẹ. Mẹ là vậy, thà chịu cô đơn trong bịnh viện còn hơn để con cái phải chăm sóc mà xao lãng việc học. Có lẽ bản năng sinh tồn của mẹ là sự tồn sinh của anh em chúng tôi.



Từ ngày xảy ra tai nạn, thực đơn của mẹ bắt đầu thay đổi: cá hấp hoặc nướng với ít gia vị, rau xanh hấp hoặc luộc, v..v... thường do mẹ tự làm. Mẹ uống thuốc, đo huyết áp thường xuyên. Mẹ tôn trọng lời khuyên của bác sỹ vì đã từng nuôi cha bịnh. Thấy mẹ ngày ngày đi làm, tự chăm sóc chính mình, tôi không dám hỏi han. Tôi sợ nhìn nét mặt bình thản của mẹ. Không phải tôi sợ bị mẹ la mắng, chỉ sợ mẹ có chuyện gì buồn trong lòng mà không ai biết. Tôi sợ lời nói nghiêm khắc của mẹ làm trái tim nhỏ bé của tôi tổn thương. Tôi chẳng bao giờ tâm sự với mẹ, vì tôi tuy hiền lành nhưng tính độc lập và bướng bỉnh. Lớn lên tôi hiểu, mẹ có một cuộc sống nội tâm sâu sắc mà bà cố che dấu bằng vẻ ngoài lạnh lùng. Mẹ sống quá nguyên tắc dễ bị nhầm tưởng là khô khan.

Ho Thi Kim Tram 02
Người mẹ nào chẳng muốn ôm con vào lòng nựng nịu lúc con nhỏ, hoặc lắng nghe con nói chuyện như một người bạn thân khi con lớn lên? Mẹ tôi cũng vậy! Nhưng tôi lại không có thói quen kể lể nỉ non với mẹ như cách của em gái tôi. (Cũng may mẹ rất hiểu tâm tính của mỗi đứa con). Cho đến khi mẹ được anh cả bảo lãnh sang Mỹ, và nhiều năm sau mẹ lâm bịnh nặng. Lúc bấy giờ Mỹ chưa lập bang giao với Việt Nam, tôi vẫn cố đem giấy tờ đi Thái Lan với niềm tin sẽ được gặp mẹ. Lần đầu bị từ chối, tôi vẫn nuôi hy vọng khi trở lại Thái Lan lần thứ nhì, và Tòa Đại Sứ Mỹ đã chấp thuận hồ sơ của tôi.

Có tôi bên cạnh, mẹ trở nên yêu đời và khỏe hơn rất nhiều, có thể cùng con cháu đi chơi mỗi cuối tuần khiến cho anh cả và em trai tôi phải ngạc nhiên. Chúng tôi không ngờ đó là khoảnh khắc vui vẻ cuối cùng của cuộc đời mẹ!

Một tháng phép do Tòa Đại Sứ Mỹ chấp thuận qua rất nhanh. Lúc chỉ còn ở chơi với mẹ vài ngày trước khi trở về Việt Nam, tôi nấu những thức ăn mẹ thích để dành trong tủ lạnh cho mẹ. Vậy mà, tôi vẫn chưa nói được một câu rất bình thường “Mẹ, con thương mẹ” để rồi ân hận khóc thầm trên chuyến bay dài xuyên Thái Bình Dương...

Hồ Thị Kim Trâm

Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng. «… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
Tháng tư ngửa mặt nhìn trời | Nhớ xem hồng nhạn đã rơi phương nào | Cánh chim gãy sợi tóc đau | Con đò chở khẳm nỗi sầu lưu vong.
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt.
Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời. Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.