Hôm nay,  

Thần Núi và Thần Nước

27/11/202013:46:00(Xem: 3479)

Sơn cung hoang tàn và đổ nát, bùn đất ngập ngụa khắp nơi, mái sập tường xiêu, bao nhiêu đồ đạc bị chôn vùi hoặc cuốn theo dòng nước dữ. Sơn Tinh mặt mày buồn thảm nhìn ngọn núi sạt một mảng lớn, rừng cây trơ trụi lởm chởm những gốc cụt, ánh mắt đăm chiêu chẳng nói nên lời.

Thủy Tinh lấy tình đồng môn đến thăm Sơn Tinh, chẳng còn tâm ý nào để nhớ chuyện tình địch ngày xưa. Nhìn thấy cảnh Sơn cung tan nát, lòng cũng đau buồn không kém bạn. Thủy Tinh cất giọng mếu máo.

- Xưa tôi với anh vì Mỵ Nương mà đánh nhau, mỗi năm cũng chỉ dâng nước gây lụt lội một lần, giờ một năm mấy bận lụt lội, thậm chí có nơi nước dâng đến bảy lần trong một tháng. Bọn người xây hồ, đắp đập tràn lan, mùa khô tích nước, mùa mưa xả vô tội vạ. Nước lũ tự nhiên dâng rất chậm, mỗi ngày một ít, có khi cả tuần lễ mưa thì mới có thể gây ngập. Giờ nước xả hồ, xả đập chỉ vài giờ đồng hồ là ngập tới nóc luôn, bao nhiêu người chết, nhà cửa, tài sản, gia súc… bị cuốn trôi theo dòng lũ dữ. Thử hỏi người sao chịu thấu? có xứ nào vô đạo như thế không? 

Sơn Tinh thần khí thiểu não, giọng rền rĩ:

 - Cảm ơn người anh em có lòng lân mẫn, người anh em thấy đó! rừng cạo sạch rồi, thậm chí đến gốc cây cũng đào bới nốt. Núi bị xẻ nát như phanh thây, cả một ngọn đồi đổ ập xuống, quang cảnh như vừa trải qua một cuộc bể dâu. Bọn người tham lam, ngu muội phá rừng huỷ núi, trời mưa xuống thì đất chuồi núi lở là đương nhiên. Bọn mình mà còn xất bấc xang bang như thế này, người dân màn trời chiếu đất, muôn loài động thực vật bị chôn vùi hoặc bị cuốn trôi, lời nào tả cho hết cái thảm cảnh này? 

Sơn Tinh lắc đầu giơ hai tay kêu trời, chợt có âm thanh ngoài sơn cung đồng vọng, cả hai lắng nghe thì nhận ra tiếng gầm gừ của cọp, tiếng rống của voi, tiếng tru của sói, tiếng tác của mang…tất cả như một giàn đồng ca, tấu lên khúc tang thương nghe thật thê luơng. Bọn thú rừng sống sót sau những đợt săn bắt của lũ người và những con vừa ngoi lên sống sót sau trận lũ, lở núi đêm qua. Bọn chúng dùng cái bản năng trời ban để định hướng tìm về chốn sơn cung. Sơn Tinh dùng thẩm âm vi diệu an ủi chúng, đoạn vận thần thông tạm dọn dẹp sơn cung.

Ngoài cửa laị xuất hiện vị thần rừng, quần áo tả tơi, râu tóc bết bùn đất. Ông ta thất thểu bước vào, trông thấy nhị vị thần chủ núi non và sông nước bèn khóc rống lên, sau đó kể lể:

 - Cơ nghiệp của tôi tan nát hết rồi, bọn người nó cạo sạch rừng nguyên sinh, rừng tái sinh, rừng già, rừng thưa…Bọn họ bắt hết thú rừng, bao nhiêu tài nguyên rừng bị cướp sạch. Những cư dân có tuổi ngàn năm, vài trăm năm giờ biến thành những bộ sofa, những biệt phủ… không còn cây chắn bão, giữ nước nên chỉ một trận mưa, một cơn cuồng phong là tai họa xảy ra ngay. Nhị vị Sơn chủ, Thủy chủ ơi, tình cảnh thảm lắm thay! 

Sơn Tinh mời thần rừng an toạ, phẩy tay hoá hiện một mân cơm chay đạm bạc với nậm cúc hoa. Sơn Tinh rót ba chung, trân trọng:

 - Mời nhị vị huynh đệ, xin cạn một chung “ Nước mắt quê hưong” này! chuyện nhân hoạ rất ghê gớm và còn dài. Chúng ta tạm lót dạ chút cơm rồi hãy tính chuyện. 

Cả ba ăn trong chánh niệm, chẳng ai nói với ai lời nào. Sau khi cơm nước đã xong, Thủy Tinh giải bày:

 - Những con sông của xứ này vốn ngắn, nhỏ và dốc. Bọn người trí nhỏ nhưng lòng tham to cho xây hàng mấy trăm con đập với hồ, nắng thì giữ nước laị, khi mưa về thì vội vàng xả xuống, thử hỏi với lượng nước xả khổng lồ ấy không gây tai họa mới là lạ! Những nhóm lợi ích kết cấu quan quyền để làm ăn trục lợi, bất chấp nhân tình thế thái, chẳng kể quy luật tự nhiên, tất cả chỉ nhằm mục đích tiền vào túi càng nhiều càng tốt, còn hậu quả thế nào thì mặc kệ nhân dân với môi trường sinh thái. Dân chúng kêu oan chẳng thấu trời xanh. Có vài vị học giả, trí thức đã lên tiếng cảnh báo nhưng tiếng nói của họ rơi tõm vào sự im lặng đáng sợ. Quan laị và triều đình ngậm miệng, đa số bọn thức giả thì mũ ni che tai, dũi đầu vào cát như đà điểu, dân chúng thờ ơ bởi vậy mà mối nhân hoạ càng ngày càng trầm trọng. Sau khi lũ chồng lũ xảy ra, người chết nhà trôi, tài sản mất… nhiều tiếng nói phản biện cất lên. Ấy vậy mà có ông tiến sĩ chi đó vốn gộc bự ở triều đình đăng đàn:” Nước xả hồ, xả đập chỉ như vài thau nước hắt vào dòng kêng, không thể gây ra lũ lụt”. Cái lý luận ngu xuẩn ấy đến người vô học cũng không dám nói, thế mà ông ấy nói tỉnh bơ. 

Sơn Tinh nghe thế giận đùng đùng, cả người đỏ phừng phừng như mặt trời đầu núi, giọng rền cả núi đồi:

- Huynh  nhắc tui mới nhớ, sau trận lở đất chôn vùi bao nhiêu người, có ông phó thủ ở triều đình lu loa:” Nắng lắm mưa nhiều nên lở đất sạt núi, chẳng phải do phá rừng xẻ núi!’ gian trá và tán tận lương tâm đến thế là cùng! Xin lỗi nhị vị huynh đệ, tui buộc lòng phải nói lời thô, cái quân ấy ngu như chó lợn, lòng tham không đáy, lương tâm quá nghèo nàn, có thừa gian manh mà thiếu tư cách, với cái ngữ ấy thì chỉ có tiền và quyền là trên hết. 

Dường như cơn giận của Sơn Tinh làm cho Thủy Tinh dậy sóng lòng:

- Này người anh em, anh còn nhớ năm nọ biển đông hải bị bọn ác nhân hạ độc không? cả một vùng biển chết, muôn loài thủy tộc bỏ mạng. Ngay cả ngư dân, thợ lặn cũng nhiễm độc, lòng người bất bình ai oán vô cùng. Vậy mà  ông bộ có trách vụ môi trường sinh thái tráo trở ngụy biện:” Tảo nở hoa chứ chẳng phải biển nhiễm độc bởi chất thải”, năm nay y laị tiếp tục khua môi múa mép, hòng đem cái bàn tay bẩn của y che trời. Y bảo:” Không phải mưa mà là trời đổ nước”. Thật tình Thủy Tinh tôi không còn lời nào để bàn luận nữa. 



Thủy Tinh chưa dứt lời, vị thần rừng vội vã tiếp lời:

- Nhị vị huynh đệ ơi, tôi ngán cái bọn này tới cổ! Có một khứa lão cũng hàm ông bộ ngang với cái tay tráo trở ấy, y ngỡ thiên hạ ai cũng ngu như y sao ấy! Y tuyên bố:” Rừng không có bị cào phá mà là do bọn bạch bì bỏ bom năm xưa”. Bọn đàn em của y nghe thế cũng không thể nào đỡ lời nổi cho y, thiên hạ thì cứ ngỡ y là thằng cuồng ban khỉ. Chiến tranh đã qua hơn nửa thế kỷ rồi, bom đạn nào phá rừng? Chính bọn quyền thế, lâm tặc phá rừng. Mạng rừng đổi thành biệt phủ, đaị dinh, những tài khoản khổng lồ trong nhà băng, những cuộc ăn chơi trác táng với cái giá mà một người lao động làm ba đời cũng không dám mơ.

Cả ba vị nói đến đây thì cảm cảnh khôn cùng, Sơn Tinh ngồi trầm ngâm, lòng dạ sầu não, tinh thần mỏi mệt vì suy nghĩ mông lung mà không biết hành xử ra sao, cầm chung rượu xoay xoay trong lòng bàn tay. Thần rừng nhem nhuốc bùn đất, mặt mày hốc hác bơ phờ, dấu ấn đất lở nguyên trên người. Thủy Tinh sau năm bảy bận chới với vì nước xả hồ, mặt mày trắng bệch, nay uống mấy chung rượu cúc hoa laị bị kích thích vì những lời giận dữ vừa rồi nên có chút nhuận sắc. Lòng Thủy Tinh cũng nhiều đau buồn ngán ngẩm, bất giác một dòng lệ chảy xuống rơi vào chung rượu đang cầm trên tay. Cơn giận qua đi, giọng Thủy Tinh thì thào

- Chỉ tội cho lương dân và những nạn nhân xấu số, người chết đã đành, người sống thậm cơ cực. Ấy vậy mà khi có những đoàn từ thiện đến, quan quyền laị cản trở, thậm chí thu hồi hết tiền cứu trợ của những người hảo tâm. Thiên tai, nhân tai, nhân hoạ cùng lúc hoành hành, không biết nghiệp gì mà người dân nơi đây phải chịu khổ nạn tàn nhẫn như thế? 

Thần rừng tỏ vẻ bất bình:

- Đành rằng cộng nghiệp của họ nhưng họ cũng có phần nào chịu trách nhiệm, lẽ ra đụng việc ác, việc bất bình thì họ phải la lên, đằng này họ câm nín mà chịu đựng. Thậm chí có kẻ bị đè đầu cỡi cổ còn cảm ơn kẻ chẹt cổ mình. Nếu có ai đó lên tiếng cho họ thì chính họ laị hùa theo kẻ chẹt cổ mình, chửi người lên tiếng cho mình là rảnh háng, dư hơi, gây rối… Tôi nghĩ việc cứu trợ là cấp thiết nhất thời, còn về lâu dài thì phải giúp họ tỉnh ra để họ biết cái quyền đương nhiên của họ. Vấn đề không phải con sói ác độc mà là ở chỗ đàn cừu ngu muội cam chịu.

Bất thần mặt đất rung nhẹ, những mảng tường của sơn cung rung lắc. Ba vị tưởng có động đất bèn vận công thoát ra ngoài và nhìn quanh quất thì thấy thổ địa xuất hiện. Thổ địa xưa nay vốn phốp pháp phì nhiêu lắm, ấy vậy mà hôm nay trông gầy sộp, quần áo te tua, mặt mày nhàu nhĩ. Thổ địa chắp tay chào, cất giọng ồm ồm:

- Xin chào các vị huynh đệ, cơn gió nào đưa các huynh đệ gặp nhau ở đây? 

Sơn Tinh tánh bộc trực, quở:

- Sự thể thế này mà huynh còn khách sáo nói lời hoa mỹ để làm gì?

 Thổ Địa rối rít xin lỗi, bốn người quay laị sơn cung. Sơn Tinh rót một chung cúc hoa mời, Thổ Địa ngửa cổ làm cái ót ngọt xớt. Y vén tay áo chùi mép:

- Cúc hoa tửu này ngon, dư vị ngọt, thơm lâu quả thật không hổ danh “ Nước mắt quê hương.” 

Đặt chung rượu không xuống bàn, Thổ Địa tâm sự:

- Sự thể như thế nào thì các huynh đệ đã biết rồi, xưa kia thiên tai vốn ghê gớm, ấy vậy mà nay nhân tai còn dễ sợ hơn. Rừng cạo sạch, núi xẻ nát rồi, thân xác rừng biến thành những sập, gụ, tủ chè, bình phong, sofa, biệt phủ. Thân xác cư dân thú rừng trở thành món trang sức cho quan quyền, nhà giàu: thú nhồi bông, ngà voi, da hổ. Có những cư dân rừng trở thành món ăn, rươu thuốc của nhà giàu: pín cọp, cửu xà, tay gấu, bao tử nhím, bìm bịp… Xác rừng, máu rừng, sinh mệnh rừng đã trở thành oán trong những biệt phủ, village, dinh thự. Núi rừng thì thế, còn sông ngòi, đầm hồ, biển cả thì tràn ngập rác thải và hoá chất từ những công xưởng, nhà máy tuôn ra. Khí thải làm cho không khí ô nhiễm nặng nề. Thực phẩm ngậm hoá chất…Những năm gần đây thì nạn xả hồ mùa lũ càng ngày càng ngjiêm trọng. Người chết, người bệnh, môi trường thiên nhiên bị hủy hoại, môi trường xã hội thì bại hoại, có bao giờ xứ này được như thế này không? Tôi coi sóc cuộc đất này từ thuở tạo lập đến giờ, chưa bao giờ thấy như thế này cả! Ấy là chưa kể nạn bán đất, hễ mảnh đất nào có mùi tiền thì sẽ bị quy hoạch thu hồi, sẽ bị san ủi cho dù trên mảnh đất có nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả tổ tiên, thậm chí nhà chùa, nhà thờ cũng không tha. Phá núi, phá rừng, lấp sông, lấp biển, lấp kênh rạch… Long mạch, sư mạch, hổ mạch bị hủy hoại, đây là cơ hội choc ho khuyển mạch, thử mạch, trùng mạch nảy nở như kiến, như sâu. Bọn người quyền thế không kiêng nể thánh thần, coi thường nhân mạng, khinh rẻ người và vật, đồng tiền làm cho bọn họ tối tăm mê muội. 

Thổ địa nói mà nước mắt nước mũi chảy dài trên mặt, lời vừa dứt thì trong lòng đất có âm thanh ùng ục, ì ầm như sấm động, ấy là dấu hiệu núi laị sắp lở lớn. Ánh sáng từ những ngọn đuốc cứ lung lay lập loè dường như bão laị sắp nổi lên. Ngoài trời mưa như trút nước. Hàng loạt hồ thủy lợi, đập thủy điện xả nước hết công suất vì e vỡ đập. Nước laị dâng lên lênh láng như biển cả. Tiếng muông thú gào thét đòi trả mạng rền rĩ trong gió mưa. Thấp thoáng đây đó bóng những hình nhân lóp ngóp trồi hụp trong dòng nước dữ đục ngầu chảy xiết. 


TIỂU LỤC THẦN PHONG

Ất Lăng thành, 11/2020

Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng. «… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
Tháng tư ngửa mặt nhìn trời | Nhớ xem hồng nhạn đã rơi phương nào | Cánh chim gãy sợi tóc đau | Con đò chở khẳm nỗi sầu lưu vong.
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt.
Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời. Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.