Hôm nay,  

Tháng Tư Về

28/04/202116:28:00(Xem: 5337)

Minh thuy Thanh noi


  Nhìn lịch giật mình, ngày tháng trôi nhanh quá, mới đó đã đến tháng tư đen. Từ khi bị dịch Vũ Hán tôi không được đi dự ngày buồn 30 tháng Tư năm 2020, năm nay với tình hình này chắc ban tổ chức cũng khó thực hiện. Dù vậy nhưng ký ức tôi sống dậy mãnh liệt những ngày tháng ấy ...


   Khắc Khoải       

Đến tháng tư đen nhắc nhở rồi 

Gương nhìn quá khứ trở về thôi

Ai đi tù ngục sâu rừng núi 

Kẻ trốn ghe thuyền đắm biển khơi

Tê tái chia tay buồn thấm cảnh 

Xót xa giã biệt khổ đeo người 

Bao nhiêu chuyện tủi sầu non nước 

Trăn trở đêm dài thả mộng trôi 

                   MTTN 


Còn nhớ năm 2019 ...Chị Phương Hoa và tôi đi xem cuốn phim “30 Tháng 4 Năm Đó Bác Ở Đâu” do đài Dân Sinh và hội IRC phối hợp tổ chức.

 

Phim tài liệu ghép lại với các hình ảnh sưu tầm từ những phút cuối tháng Tư năm 1975...Nhìn ngày cuối các anh lính vẫn ôm súng ở nhiều địa phương, chung sức chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, áo rách sờn vai, mặt mày hoang mang như chim lạc tổ... Cảnh chiếu tiếp những người tù lao động trong rừng núi, trong trại, thân hình tiều tuỵ, nét mặt buồn xo khắc khổ...Tiếng thuyết minh nhắc nhở về những vị anh hùng Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú, Nguyễn Văn Long, Hồ Ngọc Cẩn ... Không khí lắng đọng, hình như mọi người đang xúc động tâm tư, đang khóc với hình ảnh đau thương đất nước miền Nam ngày cuối 30 tháng 4 năm 1975.

 

Sau buổi chiếu phim, nhân chứng sống là Trung uý Lê Ngọc Danh, Tùy viên Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam (Tư lệnh Quân đoàn 4 vùng 4 Chiến thuật), người đã sát cánh bên tướng Nam, lên có đôi lời kể về những giờ phút cuối của vị Tướng anh dũng này. Ông kể trong nỗi xúc động nghẹn ngào...


  Chiều cuối tướng Nam đi vào Quân y viện thăm anh em thương phế binh, các anh em khóc nói “Thiếu Tướng đừng bỏ chúng tôi“.

Ông an ủi vỗ về:

- Tôi không bỏ, tôi ở lại với anh em ...

Trở về tư thất, ông thắp 3 nén hương trước bàn Phật, sau đó người Tùy viên nghe tiếng súng nổ..........


Để kết thúc buổi chiếu phim, người xướng ngôn viên nêu lên câu hỏi:

“30 tháng Tư ngày ấy bác, anh ở đâu? chị ở đâu?....

 

Ra về lòng tôi nặng trĩu… Bốn mấy năm trôi qua, cuộc sống đã thay đổi, nhưng những người dân miền Nam khó thể quên chuyện ngày ấy. Tiếng Trung uý Lê Ngọc Danh kể về vị anh hùng Nguyễn Khoa Nam vẫn vang trong đầu cho đến giờ phút này. Đêm trăn trở, tôi thức dậy tràn nghiên theo thi hoạ:

 

Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam

 

Thiếu Tướng hiên ngang ở lại thành

Quân hoài quý mến lớp đàn anh

Giờ cùng ước nguyện còn thơm tiếng

Phút chót câu thề mãi sáng danh

Nước mất buồn đau tìm lối tử

Nhà lìa khổ nhục thoát đường sanh

Can trường súng nổ ngàn thu biệt

Họ Nguyễn Khoa Nam sử sách dành

Minh Thuý Thành Nội 


    Giờ phút cuối nghe đài thông báo năm nay (2021) buổi tưởng niệm sẽ tổ chức tại khu Century thuộc thành phố San Jose do Bác Sĩ Phạm Đức Vượng đảm trách. Tôi thấy lòng phấn khởi như máu chảy về nguồn, cùng tâm trạng của những kẻ lưu vong tìm về tổ ấm tưởng nhớ đến ngày Quốc Hận cho vơi bớt nỗi niềm buồn tủi.

***


Hôm nay ngày 25 tháng 4 năm 2021. Buổi sáng trời âm u không có nắng, mây đen từng vùng. Đến nơi đã thấy hàng cờ vàng nối dọc ngoài đường story. Các hội đoàn tề tựu chuẩn bị mọi thứ. Đúng 11 giờ buổi lễ bắt đầu, tôi thấy có sự hiện diện của Thị Trưởng thành phố Westminster Tạ Đức Trí và luật sư Nguyễn Quốc Lân từ Nam Cali lên tham dự. Chương trình bắt đầu buổi lễ chào Quốc Kỳ Mỹ, Việt Nam. Mỗi lần được hát bản Quốc Ca VN thì kỷ niệm ùa về những buổi sáng thứ hai trong sân trường, cả lớp được đứng hát trước cột cờ, ngày xưa hát với tâm trạng bình thản vô tư, bây giờ hát nhưng tim đập mạnh..., nửa vui vì được hát và nửa như se thắt con tim. Kế tiếp lễ dâng hương Tổ Quốc và Lễ tưởng niệm các vị anh hùng “Sinh vi Tướng, Tử vi Thần” đã tuẫn tiết trong những ngày mất nước. Đèn hương nghi ngút vinh danh các anh hùng vị quốc vong thân, đúng là “Anh Hùng tử, khí hùng bất tử”.

    

   Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng

  

   Bình Long trận đánh diễn oai hùng, 

   Quyết dẹp quân thù núp ẩn bưng.

   Nếm mật, bùn dơ cùng rắn rít, 

   Nằm gai muỗi độc với sâu rừng.

   Yên bề trở lại dân chào đón, 

   Vững bước quay lui vợ tủi mừng.

   Nước loạn, nhà tan thề tuẫn tiết,

   Anh hùng đáng phục Tướng Lê Hưng.

                         MTTN



Thiếu Tướng Phạm Văn Phú 


Tướng Phạm Phú gương đầu 

Uống liều thuốc tử mau 

Anh hùng lời hậu thế 

Dũng khí tiếng đời sau

Tỵ nạn ông tràn hận

Lưu vong bạn ngập sầu 

Bàn vong người tuẫn tiết

Tưởng niệm nỗi buồn đau

                MTTN



Chuẩn Tướng Trần Văn Hai


Chiến sự nguy nàn cảnh bỏ đi

Lời mời tổng thống chẳng ngờ nghi

Sư đoàn bảy bộ binh tư lệnh

Chuẩn Tướng Trần Hai vẫn đảm vì 


Ngày cuối tháng tư đất nước tan

Hai mươi viên thuốc quyết không hàng 

Đồng Tâm căn cứ nơi làm việc 

Cái chết uy nghi đã chuẩn dàn 

                 MTTN



Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ 


Tử thủ vùng Lai Khê phút cuối 

Anh Hùng chẳng sợ đuổi đoàn quân

Bữa cơm măng vịt tình thân

Là giờ phút cuối nghĩa ân trọn kề


Viên đạn súng Colt thề quyết giữ 

Can trường “Vị Quốc Tử Theo Thành”

Bởi đau đất nước tan tành

Xem thường cái chết sử sanh nhắc hoài


Quốc hận tháng Tư đài tưởng niệm 

Bàn di ảnh khói điểm làn hương

Lòng dân đau xót mến thương

Âm thầm giọt lệ kính tương ngày buồn 

                              MTTN 



         

        Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn 


   Tổ quốc mang ơn lịch sử bù 

   Anh Hùng Hồ Ngọc Cẩn bao thu

   Hăng say quyết tử gìn quân đội 

   Nhiệt huyết can trường giữ chiến khu 

   Ngạo nghễ hiên ngang khi nhốt ngục

   Oai nghi thách thức lúc giam tù 

   Bị đem xử bắn không nao núng 

   Điểm mặt la to bọn giặc thù 

                            MTTN


    Trung Tá Nguyễn Long Cảnh Sát


   Nhớ buổi đau lòng chuyện bảy lăm

   Tháng tư phút cuối phận con tằm 

   Anh hùng mạnh dạn nào lo hãi

   Tướng tá can trường khó dọa hăm

    Chẳng đợi quân thù hành đạn súng

    Đâu chờ bọn giặc xử dao găm

    Nguyễn Long Cảnh Sát không nao dạ

    Tuẫn tiết hiên ngang dáng thẳng nằm

                                   MTTN

           

   Nhìn di ảnh tôi thấy lạnh toàn thân khi nghe đọc tiểu sử các vị đã tìm cách chết hiên ngang quyết không đầu hàng quân giặc. Mọi người đứng yên chờ đến phiên mình để được thắp cây nhan với tất cả lòng thành kính xúc động. Đang lúc làm lễ trời đổ cơn mưa như nhỏ lệ dùm niềm đau của những người con xa xứ, lưu lạc khắp nơi đã về đây,  cùng chung tâm trạng của kẻ mất nước với nỗi buồn dấy động mạnh lên mỗi khi tháng tư về. 

Tiếp tục chương trình các vị đại diện trong guồng máy chính quyền, đại diện các đoàn thể lên có đôi lời .....về ngày 30 tháng Tư. 

Phần văn nghệ với những bài hùng ca như “Việt Nam Tôi Đâu” (Việt Khang), “Đáp Lời Sông Núi” (Trúc Hồ), “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” (Nguyễn Đức Quang) v...v...Đến bài hát “Tấm Thẻ Bài” (Huyền Anh) 


Sau cuộc chiến này còn chi không anh?

Còn chi không anh?

Hay chỉ còn lại tấm thẻ bài

Đang lạnh lùng trên tay em


Giọt máu nào là của Mẹ 

Niềm tin nào là của em 

Ôi trên tấm thẻ bài này

Tấm thẻ bài này, đã từng

Ấp ủ tất cả giấc mộng yêu đương


Mộng yêu đương không bao giờ đến 

Không bao giờ đến nữa vì anh

Không còn mang tấm thẻ bài 

Trở về bên em ....


Lời nhạc làm hồn tôi miên man hồi tưởng về quá khứ, hình ảnh những anh lính Việt Nam Cộng Hòa hiện rõ, những người lính Thương Phế Binh, những chiếc xe cứu thương chạy vào Quân Y Viện trong Mang Cá hàng ngày trên đường Đinh Bộ Lĩnh, những hình ảnh cô nhi quả phụ đội khăn tang đầy các phố, những thước phim tài liệu chiếu lính đi hành quân ngâm nửa người dưới nước băng rừng lội suối, hay những lúc hành quân trở về với tấm thân tàn ma dại... Tại sao đã có hiệp định Geneva 1954 chia đôi đất nước mà miền Bắc cứ muốn xâm lấn miền Nam? trong khi các anh lính chiến miền Nam chỉ đánh giặc để tự vệ, bảo vệ làng mạc thôn xóm, lo cho người dân an ổn sinh sống trong thanh bình...Càng nghĩ mắt tôi càng mờ dần thấm thía với bản nhạc “Tấm Thẻ Bài”.


Thương Người Chiến Sĩ VNCH


Cộng Hoà anh lính thuở xa xưa

Hình ảnh oai phong kể mấy vừa

Chiến tích quay về ngang ruộng rẫy 

Hành quân ngừng nghỉ dưới cây dừa

Chiều thu đã thắm tình chia sẻ 

Phố hạ chưa phai cảnh đón đưa 

Áo trận sờn vai đời gió bụi

Thương người đội nắng với dầm mưa 

                     MTTN


Buổi lễ kết thúc vào lúc 3 giờ chiều, bước ra xe lòng tôi nhẹ nhõm bớt phần nào sự buồn rầu, vì được gặp gỡ đồng hương, cùng ngồi lại với nhau dưới bóng cờ vàng, những tấm lòng cùng chung cảnh ngộ, cùng đau chung cho vận mệnh của đất nước, tuy không nói nhưng đã được chia sẻ thật nhiều bằng ánh mắt. Nơi đâu có dân tỵ nạn là nơi đó có ngọn Cờ Vàng, cờ chính nghĩa bay phất phới trong gió, cờ trong tim ấp ủ nỗi niềm hy vọng, và cũng sưởi ấm biết bao nhiêu cho những người con đã lưu lạc mất quê hương ...


Tháng Tư Tưởng Niệm 


Tháng Tư cúi mặt ngậm ngùi 

Bao nhiêu ký ức đẩy lùi đau thương

Tỏ lòng kính cẩn nén hương

Anh hùng khí tử nặng vương lòng người


Tháng Tư đã tắt nụ cười 

Bởi giặc miền Bắc lấn trời phương Nam

Hung tàn cướp bóc gian tham

Đọa đầy mọi chốn dân oan thảm sầu


Tháng Tư súng bắn vào đầu

Can trường các vị Tướng câu “tử thành”

Lê Hưng, Nguyên Vỹ quyết hành 

Khoa Nam, Ngọc Cẩn thanh danh bỏ mình


Tháng Tư Phạm Phú quyên sinh

Trần Văn Hai cũng chọn vinh quyết thề 

Nguyễn Long đã chết giờ kề 

Trầm ngâm nhớ lại quặn tê nỗi buồn 


Tháng Tư máu nóng dâng cuồng 

Tháng Tư khắc khoải lệ tuôn mắt mờ 

                    MTTN


Ngày Buồn 


Quốc hận tháng Tư nỗi nhục buồn 

Dù trời đổ lệ giọt mưa tuôn

Đồng môn hải ngoại lòng đau uất 

Bạn hữu lưu vong máu hận cuồng 

Tướng dũng khuôn dung, nào khuất phục 

Người hùng di ảnh, chẳng hàng buông

Bàn hương khói tỏa người thành kính 

Tỵ nạn Cờ Vàng giữ vững luôn

                         MTTN


Dù bệnh dịch vẫn chưa chấm dứt, mọi người đi dự đều mang khẩu trang, trời mưa gió lạnh nhưng tinh thần người Việt ở hải ngoại thật mạnh mẽ, ban tổ chức chung góp bàn tay chuẩn bị thời gian dài vất vả. Chúng tôi vô cùng biết ơn ban tổ chức của Bắc Cali. 

               

Minh Thúy (Thành Nội) 

Mùa Quốc Hận 2021


Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
Tháng Tư này tròn 50 năm biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam, những người Việt hải ngoại, đời họ và thế hệ con cháu đã trưởng thành và thành công trên xứ người về mọi mặt học vấn cũng như công ăn việc làm. Họ đang hưởng đời sống ấm no tự do hạnh phúc đúng nghĩa không cần ai phải tuyên truyền nhồi sọ. Nhưng trong lòng họ vẫn còn bao nhiêu kỷ niệm thân thương nơi chốn quê nhà.
Có một buổi trưa, hai đứa đang thưởng thức bò bía, đậu đỏ bánh lọt ở chùa Xá Lợi, góc Bà Huyện Thanh Quan và Ngô Thời Nhiệm (?), thì gặp một "cái bang". Đầu đội khăn rằn, đeo mắt kiếng cận nặng, cổ quấn vài ba chiếc khăn đủ màu và ông còn dẫn theo hai con chó, vừa đi vừa múa tay múa chân như người say rượu. Chừng như ông không cần thấy ai, chung quanh chỉ có ông và hai con chó. Người đàn ông "cái bang" đó là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo nổi tiếng của Việt Nam: Bùi Giáng. Hai con chó vừa đi vừa sủa vang, khiến một số nữ sinh Gia Long đang đứng quanh xe bò bía, vội vã chạy né qua bên kia đường. T
Một ngày nọ, ngài gặp một bà mẹ, bà ôm một đứa con vừa mất vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết, ai cũng mũi lòng thương, thông cảm vì mất con là nỗi đau khổ nhứt trong cuộc đời… người ta mách bảo là bà nên gặp Sa Môn Cồ Đàm, bà sung sướng bế con đã mất đi ngay và gặp phật, xin phật dùng phép thần thông cứu sống con bà. Xung quanh phật, các tì kheo đang ngồi cầu nguyện cho chúng sanh được giải thoát và cũng cầu nguyện cho các chúng sanh còn tại thế sẽ may mắn mà gặp được giáo pháp của Như Lai. Rồi người mẹ đau khổ cũng được gặp phật.
Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu. Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời. Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống. Chị Thuận, người phụ trách Câu lạc bộ, mỉm cười khi thấy Đoan, nhưng là một nụ cười kém tươi. Chị vẫn câu chào hỏi thường lệ: “Em uống gì không?” “Dạ, chị cho em nước chanh.” Chị Thuận pha ly nước chanh đặc biệt, nóng, ít đường, mang đến để trước mặt Đoan, và kéo ghế ngồi xuống bên Đoan. Hình như không có gì để bắt chuyện, chị Thuận nhìn ra sân, nói nhỏ:
Tôi khép cánh cửa phòng ngủ, rón rén bước ra, sợ gây tiếng động làm thằng cháu nội lại giật mình thức giấc; thằng bé đã mười tháng tuổi, biết làm đủ thứ trò như con khỉ con, chiếc mũi bé xíu của nó chun lại, đôi môi dầy cong lên, mỗi khi bà nội bảo nó làm xấu, thật dễ thương, canh nó hơi mệt vì phải chơi cho nó đừng chán, lèo nhèo, nhưng chơi nhiều thì sức bà nội có hạn, làm sao chạy theo nó cả ngày được!
Những cái mặt hướng về phía trước. Những cái đầu hơi cúi, những cái lưng hơi còng có lẽ bởi sức nặng của chiếc ba lô đeo sau lưng, hay tại - nói một cách màu mè, văn vẻ, đầy giả dối là - gánh nặng của đời sống. Trước mặt tối đen. Bên phải là những cánh cửa cuộn bằng tôn đóng kín. Những cánh cửa lạnh lùng, vô cảm; lầm lì từ khước, âm thầm xua đuổi. Dưới chân là nền xi măng. Cứng và lạnh. Không thể là nơi tạm dừng chân, nghỉ mệt. Sâu vào phía sát vách là nền lót những viên gạch vuông. Không một cọng rác. Không một bóng chó hoang, mèo lạc. Không cả những hình hài vô gia cư bó gối vẩn vơ nhìn nhân gian qua lại.
Đức hạnh cao quý thể hiện thành tâm vô phân biệt. Tâm vô phân biệt tạo thành một sự bình đẳng tuyệt đối trong giáo pháp của đức phật. Giáo pháp thâm sâu vi diệu của Như Lai thì không phải ai cũng hiểu hết, cũng ngộ được điều đó đa phần các vị đại trí thấu đạt. Còn lòng từ bi của phật thì lan tỏa vô phân biệt như ánh sáng mặt trời soi sáng khắp nơi nơi, như mưa rơi tắm mát đại ngàn. Những lời giảng dậy trên đây được dẫn chứng nhiều và rõ nhứt là ở phật giáo Tây Tạng.
Anh Hai của tôi, sau chuyến vượt biên thất bại, bị giam ở nhà tù Bình Đại Bến Tre chín tháng, khi trở lại trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ mới biết đã bị cắt hộ khẩu, mất việc làm, bèn quay về Sài Gòn sống tạm với gia đình, chờ cơ hội vượt biên tiếp theo. Một hôm, anh bị cơn sốt rét tái phát hành hạ, (hậu quả của những ngày trong trại giam), cần phải đến bệnh viện chữa trị, nhưng hộ khẩu không có, anh bèn mượn cái Sổ Sức Khỏe của thằng cháu (con bà chị họ ở kế bên nhà), để đi khám bệnh
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.