Hôm nay,  

Nơi Ẩn Náu

11/06/202121:27:00(Xem: 4816)
 
Gã công nhân đùng đùng bỏ về. Trăm mảnh vụn của tờ giấy sa thải chấp chới bay như bươm bưóm. Những bánh xe cày xuống mặt đường. Cát bụi tung mù bãi đậu xe. Nửa tiếng sau gã trở lại. Tiếng súng nổ lốp bốp như bắp rang. Ba người chết. Nét sững sờ hằn trên khuôn mặt. Chủ hãng, người cai và một mẹ công nhân hay bới móc, chỉ chọc. Kẻ sát nhân thong thả lái xe lại đồn cảnh sát. Tôi mới giết tụi nó xong. Câu tự thú ngắn, gọn. Giọng nói gằn xuống hai chữ “tụi nó” như người ta gạch dưới những chữ quan trọng. Tôi giết cả ba đứa. Súng tôi còn để trong xe. Chìa khóa đây. Chiếc xe mầu đỏ.

Đó là chuyện thật. Khoảng năm sáu năm về trước. Ngay trong thành phố này. Báo chí tường thuật tỉ mỉ. Và hắn, anh chàng công nhân viên làm chung với tôi, viết lại từng chi tiết; thêm mắm thêm muối cho gay cấn gấp trăm ngàn lần chuyện thật rồi chuyền tay cho mọi người đọc chơi.

Ai cũng khen hắn viết hay. Dĩ nhiên là hay rồi. Bởi hắn là nhà văn. Có sách xuất bản đàng hoàng. Hắn ít nói. Cả con người hắn chỉ được nụ cười ngây ngô là đáng nhớ; nụ cười ngỡ như không vấy chút bụi trần. Hắn lịch sự với mọi người; ngay cả với tôi, kẻ ra vào văn phòng cả xếp nhỏ lẫn xếp lớn như người ta ra vào tùy tiện, thoải mái cái nhà vệ sinh ở cuối hành lang.

Cái tật lớn của hắn là viết bất kể lúc nào.

Có lần nghe hắn gõ bàn phím như con chim gõ mõ đóng những mỏ nhọn vào thân gỗ bọng, mụ chủ bước ra, tới đứng sau lưng hắn, nheo nheo con mắt Tiệp Khắc đã có nhiều nếp nhăn, bắt gặp đám mẫu tự La-Tinh có dấu có móc ngoằn ngoèo ở trên, bèn hỏi “Mày viết gì thế?”

Bị bắt quả tang, hắn đỏ mặt bối rối, rồi tuôn ra cái sự thật đầy gai góc. Từ góc phòng tôi vểnh tai lên nghe cho rõ. Được cái tiếng Anh của hắn cũng dễ nghe.

“Viết truyện.”

“Viết truyện?” Cái vạch lông mày lưa thưa nhướng lên.

“Mới tìm được nét tâm lý trung thực, phải viết liền, không thì nguội mất.”

Mụ chủ lặng lẽ bỏ đi.

Chiều hôm ấy mụ chủ nói với tôi là hắn xài giờ của hãng để làm chuyện riêng.

Tôi thì thầm với hắn chuyện ấy, thêm chút muối, chút mắm rằng tôi có thể nói giùm để mụ chủ thông cảm chuyện viết lách của hắn. Hắn cám ơn tôi và hào hứng nói thêm rằng một giây phút cảm hứng có thể ghi tên nhà văn vào danh sách vĩnh cửu. Rồi hắn lan man qua chuyện ông Gheorghiu nhà văn nào đó ở nước tôi. Hắn say mê nói về những anh nông dân Johan, những mục sư Kuruga, những nhân vật Traian… (không biết tôi viết tên có đúng không) vớ vẩn trong cuốn “Giờ Thứ Hai Mươi Lăm” nào đó mà tôi chưa bao giờ nghe nói đến chứ đừng bàn đến chuyện đã đọc hay chưa.

Nhìn hai con mắt rực rỡ tin yêu của hắn, tôi chỉ thấy tội nghiệp, nhưng hắn không hiểu. Hắn hăng hái bảo mỗi lần tạo ra một nhân vật, hắn phải cố sống trọn vẹn tâm trạng nhân vật ấy. Từ kẻ sát nhân, kẻ anh hùng, người thất nghiệp, gã ăn mày, ăn xin, tên sở khanh, người đứng vất vơ đầu đường xó chợ, kẻ trộm, kẻ cướp, tên hãm hiếp phụ nữ… Tất cả những tâm lý nhân vật ấy hắn đều đã tự đọa đày mình để trải qua, để sống thực, để viết cho “sống”.

Hắn khoe. Nhưng tôi không tin. Dẫu vậy, tôi cũng đem kể lại với chị cai, rồi vui miệng tâu lại với bà chủ. Tôi không ghét gì hắn ngoài cái lịch sự, cái trầm mặc Á Đông của hắn. Những thứ đó làm tôi ngứa mắt.

Nghe tôi kể xong, mụ chủ tắc lưỡi, “Tao không tin nó đủ tư cách sống trọn tâm trạng của nhân vật.”

“Sao không?” Tôi cãi. “Nó là nhà văn bên nước nó mà.”

“Văn chương của bọn thiểu số ư?”

Tôi không hiểu người đàn bà (cũng di dân như tôi) muốn nói gì trong cái câu hỏi trống không ấy. Tôi không hoàn toàn đồng ý với hai người đàn bà đứng đầu cái cơ quan phi lợi nhuận èo uột nhất nhì trong thành phố ấy, nhưng tôi cũng không mấy tin tưởng hắn có thể vượt nổi ra ngoài cái hàng rào ngôn ngữ thiểu số nghèo nàn của nước hắn.

Vậy mà mụ chủ quyết định đuổi hắn.

Lúc nghe cái quyết định đột ngột ấy, tôi vừa ngạc nhiên vừa hả dạ. Cũng tội nghiệp cho hắn. Làm nhà văn, viết bằng cái ngôn ngữ mà số người muốn đọc không đếm được quá mười đầu ngón tay.


À, hắn còn làm thơ nữa. Nghe đâu thơ hắn ngọt ngào mê đắm.

Chính mắt tôi thấy những cô gái nhỏ nhắn, dễ thương đến tận văn phòng tìm hắn. Với tôi, người thiếu phụ Đông Âu ở lứa tuổi xồn xồn đang nỗ lực ngăn cản sự phát triển bề ngang thì tất cả những người đàn bà Á Châu, nhất là Việt Nam đều nhỏ nhắn, duyên dáng, dễ thương (chính miệng hắn cũng đã từng nói với tôi như thế.)

Có lúc hắn giải thích, đó là khách, có lúc hắn nheo mắt bảo, “Độc giả ái mộ!”

Tôi ghét những cô gái cầm cuốn sách lại cho hắn ký tên.

Và bây giờ thì tôi hả dạ biết bao, bởi hắn bị sa thải khỏi công ty rồi. Đáng đời thằng đàn ông ở cái xứ chèn ép phụ nữ cả ngàn năm ấy! Tôi nhớ có lần, viết xong một đoạn – ngay trong giờ ăn trưa của công sở – hai con mắt hắn đỏ hoe. Tôi hỏi, hắn hăng hái trả lời rằng nhân vật làm hắn khóc. Vì thương nhân vật chính trong truyện ngắn đang viết mà hắn không cầm được nước mắt. Rồi hắn bảo khóc được như vậy là mừng, bởi nhân vật phải gợi được cảm xúc như thế mới sống thực.

“Nhân vật bị gì mà bạn cảm động đến như vậy?” Tôi tò mỏ hỏi.

“Nhân vật bị mất việc làm.” Hắn xôn xao, “trong lúc vợ con đau ốm và cha mẹ ở quê nhà đang cần sự giúp đỡ.”

“Bạn yêu văn chương đến vậy sao?” Tôi đăm đăm nhìn hắn như nhìn một sinh vật đi lạc vào trái đất từ một hành tinh nào đó.

“Chứ sao.” Hắn chậm rãi trả lời, hai con mắt rõi vào khoảng không trước mặt. “Người ta vẫn bảo nước tôi có bốn ngàn năm văn hiến, bà biết mà!”

Vậy mà hắn lại bị đuổi việc giữa lúc bất ngờ nhất. Mấy ngàn năm văn hiến cũng không cứu hắn khỏi những ngày khốn khó trước mắt.

Buổi sáng, giờ nghỉ giải lao, tôi tần ngần nhìn hắn soạn hộc tủ. Hắn làm tôi liên tưởng đến những con gà bơi đống rác nơi những nông trại miền quê. Giấy tờ, hồ sơ, lẫn với những mảnh giấy nhỏ chi chít những chữ (chắc bản thảo của hắn chứ gì!) Hắn chần chừ đọc mảnh giấy này, tẩn mẩn vuốt lại miếng giấy kia. Rồi bỗng dưng hắn lôi từ đống giấy ra một tờ giấy, đứng bật dậy, nhìn chăm chăm vào những con chữ ngoằn ngoèo, rồi quay lại, dúi mảnh giấy vào tay tôi.

“Đọc lại đi!” Hắn ra lệnh, cộc lốc.

Tôi nhận ra ngay. Tấm giấy sáu bẩy năm về trước hắn viết lại câu chuyện thật về vụ sát nhân trong hãng làm bao tay cao su, nơi có gã công nhân bị đối xử bất công.

“Đọc kỹ đi!” hắn lập lại trước khi tiếp tục chúi đầu vào đống giấy vụn.

Hắn làm tôi nhói tim. Bước đi không tiện mà ở lại cũng không xong.

Trong một cử chỉ ngắn gọn, hắn tuồn hết giấy tờ vào cái bọc rác đen, buộc túm lại, đẩy cửa sau, lầm lũi bước đi.

Nắng vạch bóng hắn đổ dài trên nền đất nâu.

Tôi chạy biến vào phòng hai mụ xếp.

Gần cả tháng trời sau đó, mụ chủ, mụ cai, (và tôi nữa, Trời đất ạ!) bị cái hốc hác bào mòn hai gò má và nỗi lo âu tô đậm cái quầng thâm dưới hai con mắt.

Hãng tốn bộn tiền mướn thêm nhân viên an ninh.

Nhưng chả có chuyện gì xảy ra.

Vài tháng sau, tình cờ gặp hắn trong thư viện. Nói nào ngay, thỉnh thoảng tôi cũng vào thư viện (không phải để tìm sách của cái ông Gheorghiu nào đó), mượn cuốn phim về xem giết thì giờ! Sau khi chào hỏi qua loa, tôi đã kể cho hắn nghe mọi chuyện từ cái hôm hắn ôm cái bọc giấy bỏ hãng ra về.

“Cứ tưởng hôm ấy bạn xách súng lại hãng chứ!” Tôi xuống giọng nói khích bằng âm thanh ngậm ngùi.

Hắn cười, với chút ngạo mạn nhếch lên trên khóe môi.

“Bạn không giận khi bị đối xử bất công sao?” Tôi lại hỏi.

Hắn thản nhiên nhìn vào khoảng không, “Tôi đã buồn mỗi lần nhân vật của tôi bị ngược đãi hay gặp chuyện không vui, thành ra đến phiên tôi, lòng tôi chả còn chút cảm xúc nào để phẫn nộ…”

Bây giờ thì tôi tin là hắn sống chết với nhân vật trong truyện của hắn, và dù không đọc được những gì hắn viết, tôi cũng tin hắn tạo được những nhân vật đậm nét trong cõi văn chương hắn, và thành thật mà nói, cho đến bây giờ tôi mới thấy được cái yếu đuối của những kẻ dùng văn chương làm nơi ẩn náu. 
 
Trong tập “Một Đoạn Trong Thánh Kinh”
 

Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
Tôi rất thích bút danh "Hoàng Thị Cỏ May" mà chị Phi Loan dùng cho những bài thơ của chị, nhưng chưa có dịp hỏi chị tại sao chị lại chọn tên này. Hình ảnh "Cỏ May" gợi lên sự mộc mạc, bền bỉ, mang nét đẹp bình dị và phảng phất nỗi buồn quê hương và có lẽ đó là lý do chị thích cái tên này.
Thưa, chuyện là sư cô Chân Hiếu xuất gia đã hơn 10 năm với sư bà Huệ Chơn, một ngày kia cô thấy xa gia đình đã lâu, cô có ý muốn xin phép sư thầy về thăm mẹ già đã cả năm cô chưa gặp lại. Rồi được phép, cô về gặp mẹ, mẹ con mừng mừng tủi tủi hội ngộ, rồi cũng trong một buổi đó, hàn huyên vui vầy, nhân lúc vui vui câu chuyện mẹ mẹ con con. Bà mẹ già đã ngoài 80 tuổi, có lúc nhớ nhớ, có lúc đã quên quên ít nhiều.
Không có phương pháp tu hành nào giúp tìm ra câu trả lời, nỗi băn khoăn của thầy cứ kéo dài và tâm thầy hơi xao động. Không phải thầy nảy sinh ý nghĩ bất tịnh gì. Thầy chỉ tò mò thôi.
Chỉ có giữa nhà mình với nhà con hay mang thức ăn sang cho nhau mà tự dưng mất một cái nắp nồi. Tìm mãi cả hai bếp vẫn không ra. Chị của Nhàn bảo, cứ đo cái miệng nồi rồi ra tiệm Goodwill, cái gì cũng có hết. Nhàn nghe chị, đi Goodwill vào ngàyThứ Sáu, vì nghe nói Thứ Sáu lại được bớt 20% cho người trên 60 tuổi (Nhàn cười, nói khẽ một mình: 60 tuổi à? Dư sức qua cầu!)
Anh và tôi làm chung hãng với nhau khá lâu, rất thân, vừa là đồng nghiệp, vừa người Huế đồng hương. Một hôm anh mời đến nhà chơi. Nhân đang lúc rảnh rỗi bàn luận thế sự, tôi để ý trên bàn thờ nhà anh có treo bức tranh vẽ một ông quan đội mão rất uy nghi. Anh giới thiệu đó là ông Tổ nhà anh. Tôi tò mò hỏi cụ làm chức chi trong triều? Anh không trả lời, hỏi lại học sử có nhớ việc dưới triều nhà Nguyễn vua Thiệu Trị bỏ trưởng lập thứ là vua Tự Đức? Tôi nhớ có học điều đó, nhưng không biết gì thêm nữa. Anh trịnh trọng nói vị hoàng tử con trưởng vua Thiệu Trị đáng lẽ phải được chọn làm vua đó là: An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là người trên bức chân dung đó. Và anh chính là hậu duệ của An Phong Công Hồng Bảo.
Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.
Sau một đêm lênh đênh trong vùng biển Aegean, thuộc lãnh hải của Athens, Greece, khi vầng đông vừa ló dạng, phía chân trời ửng một màu cam sáng rực rỡ, du thuyền MSC Lirica vừa cặp vào bến cảng Izmir, miền trung của Turkey. Trên tàu, hành khách ai nấy đều ăn sáng thật nhanh để chuẩn bị xuống tàu. Đây là điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến hải hành bảy ngày quanh vùng biển Aegean, Địa Trung Hải, bắt đầu bằng đất nước Hồi giáo từng một thời oanh liệt dưới bóng cờ Đế quốc Ottoman. Đúng 09 giờ sáng, cầu tàu được thả xuống, mọi người phấn chấn sau một đêm ngủ ngon, sẵn sàng đi bộ vào trung tâm thành phố cách đó khoảng 30 phút đi bộ. Thành phố này không có gì đặc biệt để tham quan, nên chúng tôi thả bộ men theo con đường lót đá dọc bờ biển, tha hồ hít thở khí trời trong lành sau 4 ngày ngột ngạt ở Athens đầy khói xe, khói thuốc lá.
Chúng tôi ngồi, không nói gì với nhau nữa, cả hai cùng đăm chiêu nhìn xuống dòng kênh Đôi chảy lờ lững với những đám bèo giạt bám vào bờ, vào chân cây cầu sơn màu đỏ phía xa xa. Nơi chúng tôi ngồi là một khu dân cư mới thành hình khoảng hai chục năm nay, một khu dân cư đẹp vì thiết kế mới, những con đường cắt nhau vuông vức, các mảng cây xanh bên cạnh những căn nhà cấu trúc mới và đẹp...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.