Hôm nay,  

Nơi Ẩn Náu

11/06/202121:27:00(Xem: 4833)
 
Gã công nhân đùng đùng bỏ về. Trăm mảnh vụn của tờ giấy sa thải chấp chới bay như bươm bưóm. Những bánh xe cày xuống mặt đường. Cát bụi tung mù bãi đậu xe. Nửa tiếng sau gã trở lại. Tiếng súng nổ lốp bốp như bắp rang. Ba người chết. Nét sững sờ hằn trên khuôn mặt. Chủ hãng, người cai và một mẹ công nhân hay bới móc, chỉ chọc. Kẻ sát nhân thong thả lái xe lại đồn cảnh sát. Tôi mới giết tụi nó xong. Câu tự thú ngắn, gọn. Giọng nói gằn xuống hai chữ “tụi nó” như người ta gạch dưới những chữ quan trọng. Tôi giết cả ba đứa. Súng tôi còn để trong xe. Chìa khóa đây. Chiếc xe mầu đỏ.

Đó là chuyện thật. Khoảng năm sáu năm về trước. Ngay trong thành phố này. Báo chí tường thuật tỉ mỉ. Và hắn, anh chàng công nhân viên làm chung với tôi, viết lại từng chi tiết; thêm mắm thêm muối cho gay cấn gấp trăm ngàn lần chuyện thật rồi chuyền tay cho mọi người đọc chơi.

Ai cũng khen hắn viết hay. Dĩ nhiên là hay rồi. Bởi hắn là nhà văn. Có sách xuất bản đàng hoàng. Hắn ít nói. Cả con người hắn chỉ được nụ cười ngây ngô là đáng nhớ; nụ cười ngỡ như không vấy chút bụi trần. Hắn lịch sự với mọi người; ngay cả với tôi, kẻ ra vào văn phòng cả xếp nhỏ lẫn xếp lớn như người ta ra vào tùy tiện, thoải mái cái nhà vệ sinh ở cuối hành lang.

Cái tật lớn của hắn là viết bất kể lúc nào.

Có lần nghe hắn gõ bàn phím như con chim gõ mõ đóng những mỏ nhọn vào thân gỗ bọng, mụ chủ bước ra, tới đứng sau lưng hắn, nheo nheo con mắt Tiệp Khắc đã có nhiều nếp nhăn, bắt gặp đám mẫu tự La-Tinh có dấu có móc ngoằn ngoèo ở trên, bèn hỏi “Mày viết gì thế?”

Bị bắt quả tang, hắn đỏ mặt bối rối, rồi tuôn ra cái sự thật đầy gai góc. Từ góc phòng tôi vểnh tai lên nghe cho rõ. Được cái tiếng Anh của hắn cũng dễ nghe.

“Viết truyện.”

“Viết truyện?” Cái vạch lông mày lưa thưa nhướng lên.

“Mới tìm được nét tâm lý trung thực, phải viết liền, không thì nguội mất.”

Mụ chủ lặng lẽ bỏ đi.

Chiều hôm ấy mụ chủ nói với tôi là hắn xài giờ của hãng để làm chuyện riêng.

Tôi thì thầm với hắn chuyện ấy, thêm chút muối, chút mắm rằng tôi có thể nói giùm để mụ chủ thông cảm chuyện viết lách của hắn. Hắn cám ơn tôi và hào hứng nói thêm rằng một giây phút cảm hứng có thể ghi tên nhà văn vào danh sách vĩnh cửu. Rồi hắn lan man qua chuyện ông Gheorghiu nhà văn nào đó ở nước tôi. Hắn say mê nói về những anh nông dân Johan, những mục sư Kuruga, những nhân vật Traian… (không biết tôi viết tên có đúng không) vớ vẩn trong cuốn “Giờ Thứ Hai Mươi Lăm” nào đó mà tôi chưa bao giờ nghe nói đến chứ đừng bàn đến chuyện đã đọc hay chưa.

Nhìn hai con mắt rực rỡ tin yêu của hắn, tôi chỉ thấy tội nghiệp, nhưng hắn không hiểu. Hắn hăng hái bảo mỗi lần tạo ra một nhân vật, hắn phải cố sống trọn vẹn tâm trạng nhân vật ấy. Từ kẻ sát nhân, kẻ anh hùng, người thất nghiệp, gã ăn mày, ăn xin, tên sở khanh, người đứng vất vơ đầu đường xó chợ, kẻ trộm, kẻ cướp, tên hãm hiếp phụ nữ… Tất cả những tâm lý nhân vật ấy hắn đều đã tự đọa đày mình để trải qua, để sống thực, để viết cho “sống”.

Hắn khoe. Nhưng tôi không tin. Dẫu vậy, tôi cũng đem kể lại với chị cai, rồi vui miệng tâu lại với bà chủ. Tôi không ghét gì hắn ngoài cái lịch sự, cái trầm mặc Á Đông của hắn. Những thứ đó làm tôi ngứa mắt.

Nghe tôi kể xong, mụ chủ tắc lưỡi, “Tao không tin nó đủ tư cách sống trọn tâm trạng của nhân vật.”

“Sao không?” Tôi cãi. “Nó là nhà văn bên nước nó mà.”

“Văn chương của bọn thiểu số ư?”

Tôi không hiểu người đàn bà (cũng di dân như tôi) muốn nói gì trong cái câu hỏi trống không ấy. Tôi không hoàn toàn đồng ý với hai người đàn bà đứng đầu cái cơ quan phi lợi nhuận èo uột nhất nhì trong thành phố ấy, nhưng tôi cũng không mấy tin tưởng hắn có thể vượt nổi ra ngoài cái hàng rào ngôn ngữ thiểu số nghèo nàn của nước hắn.

Vậy mà mụ chủ quyết định đuổi hắn.

Lúc nghe cái quyết định đột ngột ấy, tôi vừa ngạc nhiên vừa hả dạ. Cũng tội nghiệp cho hắn. Làm nhà văn, viết bằng cái ngôn ngữ mà số người muốn đọc không đếm được quá mười đầu ngón tay.


À, hắn còn làm thơ nữa. Nghe đâu thơ hắn ngọt ngào mê đắm.

Chính mắt tôi thấy những cô gái nhỏ nhắn, dễ thương đến tận văn phòng tìm hắn. Với tôi, người thiếu phụ Đông Âu ở lứa tuổi xồn xồn đang nỗ lực ngăn cản sự phát triển bề ngang thì tất cả những người đàn bà Á Châu, nhất là Việt Nam đều nhỏ nhắn, duyên dáng, dễ thương (chính miệng hắn cũng đã từng nói với tôi như thế.)

Có lúc hắn giải thích, đó là khách, có lúc hắn nheo mắt bảo, “Độc giả ái mộ!”

Tôi ghét những cô gái cầm cuốn sách lại cho hắn ký tên.

Và bây giờ thì tôi hả dạ biết bao, bởi hắn bị sa thải khỏi công ty rồi. Đáng đời thằng đàn ông ở cái xứ chèn ép phụ nữ cả ngàn năm ấy! Tôi nhớ có lần, viết xong một đoạn – ngay trong giờ ăn trưa của công sở – hai con mắt hắn đỏ hoe. Tôi hỏi, hắn hăng hái trả lời rằng nhân vật làm hắn khóc. Vì thương nhân vật chính trong truyện ngắn đang viết mà hắn không cầm được nước mắt. Rồi hắn bảo khóc được như vậy là mừng, bởi nhân vật phải gợi được cảm xúc như thế mới sống thực.

“Nhân vật bị gì mà bạn cảm động đến như vậy?” Tôi tò mỏ hỏi.

“Nhân vật bị mất việc làm.” Hắn xôn xao, “trong lúc vợ con đau ốm và cha mẹ ở quê nhà đang cần sự giúp đỡ.”

“Bạn yêu văn chương đến vậy sao?” Tôi đăm đăm nhìn hắn như nhìn một sinh vật đi lạc vào trái đất từ một hành tinh nào đó.

“Chứ sao.” Hắn chậm rãi trả lời, hai con mắt rõi vào khoảng không trước mặt. “Người ta vẫn bảo nước tôi có bốn ngàn năm văn hiến, bà biết mà!”

Vậy mà hắn lại bị đuổi việc giữa lúc bất ngờ nhất. Mấy ngàn năm văn hiến cũng không cứu hắn khỏi những ngày khốn khó trước mắt.

Buổi sáng, giờ nghỉ giải lao, tôi tần ngần nhìn hắn soạn hộc tủ. Hắn làm tôi liên tưởng đến những con gà bơi đống rác nơi những nông trại miền quê. Giấy tờ, hồ sơ, lẫn với những mảnh giấy nhỏ chi chít những chữ (chắc bản thảo của hắn chứ gì!) Hắn chần chừ đọc mảnh giấy này, tẩn mẩn vuốt lại miếng giấy kia. Rồi bỗng dưng hắn lôi từ đống giấy ra một tờ giấy, đứng bật dậy, nhìn chăm chăm vào những con chữ ngoằn ngoèo, rồi quay lại, dúi mảnh giấy vào tay tôi.

“Đọc lại đi!” Hắn ra lệnh, cộc lốc.

Tôi nhận ra ngay. Tấm giấy sáu bẩy năm về trước hắn viết lại câu chuyện thật về vụ sát nhân trong hãng làm bao tay cao su, nơi có gã công nhân bị đối xử bất công.

“Đọc kỹ đi!” hắn lập lại trước khi tiếp tục chúi đầu vào đống giấy vụn.

Hắn làm tôi nhói tim. Bước đi không tiện mà ở lại cũng không xong.

Trong một cử chỉ ngắn gọn, hắn tuồn hết giấy tờ vào cái bọc rác đen, buộc túm lại, đẩy cửa sau, lầm lũi bước đi.

Nắng vạch bóng hắn đổ dài trên nền đất nâu.

Tôi chạy biến vào phòng hai mụ xếp.

Gần cả tháng trời sau đó, mụ chủ, mụ cai, (và tôi nữa, Trời đất ạ!) bị cái hốc hác bào mòn hai gò má và nỗi lo âu tô đậm cái quầng thâm dưới hai con mắt.

Hãng tốn bộn tiền mướn thêm nhân viên an ninh.

Nhưng chả có chuyện gì xảy ra.

Vài tháng sau, tình cờ gặp hắn trong thư viện. Nói nào ngay, thỉnh thoảng tôi cũng vào thư viện (không phải để tìm sách của cái ông Gheorghiu nào đó), mượn cuốn phim về xem giết thì giờ! Sau khi chào hỏi qua loa, tôi đã kể cho hắn nghe mọi chuyện từ cái hôm hắn ôm cái bọc giấy bỏ hãng ra về.

“Cứ tưởng hôm ấy bạn xách súng lại hãng chứ!” Tôi xuống giọng nói khích bằng âm thanh ngậm ngùi.

Hắn cười, với chút ngạo mạn nhếch lên trên khóe môi.

“Bạn không giận khi bị đối xử bất công sao?” Tôi lại hỏi.

Hắn thản nhiên nhìn vào khoảng không, “Tôi đã buồn mỗi lần nhân vật của tôi bị ngược đãi hay gặp chuyện không vui, thành ra đến phiên tôi, lòng tôi chả còn chút cảm xúc nào để phẫn nộ…”

Bây giờ thì tôi tin là hắn sống chết với nhân vật trong truyện của hắn, và dù không đọc được những gì hắn viết, tôi cũng tin hắn tạo được những nhân vật đậm nét trong cõi văn chương hắn, và thành thật mà nói, cho đến bây giờ tôi mới thấy được cái yếu đuối của những kẻ dùng văn chương làm nơi ẩn náu. 
 
Trong tập “Một Đoạn Trong Thánh Kinh”
 

Mỗi năm nhân loại xếp hạng lại bảy kỳ quan trên thế giới. Bảy Kỳ Quan của nhân loại được kê khai ra phải đạt được những tiêu chuẩn: Đẹp, lạ, có di tích lịch sử, vẻ đẹp tồn tại của thiên nhiên hoặc một kỳ công của con người. Thí dụ bảy kỳ quan dưới đây: Núi Hy Mã Lạp Sơn: Taj Maha (Kiến trúc nổi tiếng thuộc Agra-India,) Grand Canyon- Mỹ, Kênh Đào Panama, Tòa Cao Ốc Empire State Building(102 từng ở NY; xây1930-1931), Nhà Thờ St. Peter Basilica (Rome),Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc.) Những kỳ quan này thu hút cả thế giới, thu hút những người muốn chinh phục thiên nhiên (Hy Mã Lạp Sơn). Những khách du lịch muốn được xem tận mắt những kỳ công của nhân loại (Empire State Building; Agra-India) Muốn mở lại những trang lịch sử của nhân loại trên những di tích phế, hưng( như Vạn lý Trường Thành; St. Peter Basilica)
Dù trận đấu chưa diễn ra, họ đã biến phòng ăn chật hẹp thành một lễ hội đường phố thu nhỏ. Họ mang theo tinh thần hoang dại, rực lửa, giăng cờ, ca hát và hò reo cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Nhìn nhóm Brasil nhuộm vàng cả một góc phòng, tôi hiểu rằng họ có thể chia rẽ vì nhiều thứ, nhưng khi khoác lên mình màu áo biểu tượng quê hương, họ là một thể thống nhất.
Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây. Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.
Năm giờ sáng. Bàn viết vẫn trống. Tôi nhìn tờ giấy trắng dưới ánh đèn vàng như nhìn vào miệng hố sâu. Ngoài cửa sổ, Manhattan vẫn chưa tỉnh hẳn. Từ căn studio tầng sáu này, tôi nghe thấy tiếng xe rác nghiến bánh trên phố Mott, ai đó la hét bằng tiếng Quảng Đông ở góc phố. Ba mươi hai tuổi. Sáu năm bỏ luật khoa. Bốn năm làm phụ bếp để trả tiền thuê. Hai năm gửi truyện không ai nhận.
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.