Hôm nay,  

Quên, Có Được Không?

23/07/202100:00:00(Xem: 6380)

Mười bảy tuổi đã làm mẹ. Cô gái ấy rụt rè như đứa trẻ. Cô đứng nhìn đứa bé sơ sinh như nhìn một vật lạ. Đứa bé có nước da vàng sậm. Người ta đặt nó trong lồng kính. Cô y tá bảo đó là cái incubator. Cái lồng ấp. Ấp đứa bé như người ta ấp trứng. Nhưng cái lồng ấp trong bệnh viện hôm nay không ấp trứng mà ấp đứa bé mới chào đời. Bác sĩ bảo cơ thể hài nhi tự nó chưa đủ khả năng biến dưỡng chất mật nên bilirubin tràn lan trong máu và đọng lại dưới da, thành ra da đứa bé màu vàng sậm. Bệnh viện đặt con của cô trong lồng ấp vài hôm dưới ánh đèn màu xanh da trời để tia sáng giúp làm tan bớt chất sắc tố mật đọng dưới da. Người mẹ đứng vẩn vơ bên cạnh cái lồng ấp. Đứa bé có miếng vải che hai con mắt để tia sáng khỏi làm hư nhãn cầu. Mười bảy tuổi. Người mẹ vừa mới qua cái tuổi dậy thì; cái tuổi (lẽ ra) bận rộn với đèn sách và (dĩ nhiên) tíu tít những hẹn hò.

Bạn thân mến. Đó là phần đầu của một câu chuyện thật. Phần cuối mới có nhiều điều đáng nói. Và trước khi kể tiếp câu chuyện có thật này có lẽ tôi cũng nên học theo những tay nhà báo trong nước, và chạy một cái “tít” đầy lôi cuốn, đại khái như: “Chuyện một người mẹ cho đi đứa con mới chào đời và cái kết bất ngờ.”

Đứa bé vàng khè như củ nghệ ấy nằm trong lồng ấp chỉ vài hôm thì cái thứ sắc tố màu vàng kia tan đi, và da dẻ nó hồng hào trở lại. Như người nữ diễn viên o bế nhan sắc để khi lên sân khấu khán giả thấy cô lung linh, rực rỡ; như con gà con vịt vỗ cho béo tốt, hồng hào để bán cho được giá; đứa trẻ sơ sinh ấy được nuôi trong lồng ấp cho da dẻ thôi vàng sậm, cho hồng hào, dễ thương trước khi người mẹ đặt tay lên tờ giấy cam kết ký vào cái ô đồng ý cho đi núm ruột của mình.

Bạn thân mến. Tôi có dịp làm nhân chứng cho buổi ký giấy tờ “sang nhượng” ấy. Tờ giấy quan trọng ấy bảo rằng người mẹ mười bảy tuổi kia sẽ tuyệt đối không được tiếp xúc, liên lạc - trực tiếp hay gián tiếp - với đứa bé – nó không phải là con của cô nữa đâu nhé! (nhân viên xã hội dặn dò người mẹ mười bảy tuổi như thế) – cho đến khi đứa bé lên 18 tuổi.

Những giấy tờ ấy đã được ký cách đây ba chục năm. Nếu ký ngày hôm nay, hẳn sẽ có thêm những chi tiết như “không tiếp xúc, không liên lạc trực tiếp hay gián tiếp, với đứa bé qua các phương tiện như điện thoại, Facebook, email, twitter, Viber, Whatsapp, Instagram…” hệt như điều kiện trong những “restraining order” của tòa án.

Mấy mươi năm rồi, tôi vẫn nhớ những giọt nước mắt của người mẹ trẻ khi ngập ngừng ký tên mình vào tờ “án lệnh”, và tôi cũng không quên được con mắt đen tròn của đứa bé khi cô y tá đem nó ra khỏi cái lồng ấp cho mẹ nó bế nó trên tay một lần cuối cùng. Tôi vẫn nhớ khi nó ọ oẹ đòi bú, mẹ nó đút ngón tay vào miệng nó, và nó ngậm lấy ngón tay ấy mút ngon lành theo phản xạ. Mấy mươi năm rồi, tôi vẫn băn khoăn không biết khi qua cái tuổi mười tám, đứa bé năm xưa có truy tìm cho ra mẹ ruột của nó không.

Rồi khi biết những người nuôi mình từ buổi sơ sinh là cha mẹ nuôi và nó bỗng dưng muốn nói với mẹ ruột (cô gái mười bảy tuổi năm xưa) chỉ một câu thôi, thì nó sẽ nói câu gì?

Đứa bé chắc chắn không thể hình dung ra khuôn mặt, ra vóc dáng, ra giọng nói, ra cử chỉ của mẹ nó nhưng mẹ nó – cô gái mười bảy tuổi năm ấy – có lẽ sẽ không quên nước da hồng hào của nó khi người ta đem nó ra khỏi lồng ấp, cùng hình ảnh cái miệng nhỏ xíu ọ oẹ đòi bú và cảm giác êm ái khi cái miệng bé tí ấy mút trên đầu ngón tay mình.

Mà có chắc cô gái mười bảy tuổi dạo ấy còn nhớ không. Nhiều hy vọng cô đã có một mái gia đình êm ấm, cô đã có những đứa con, và những đứa con ấy có cha có mẹ trọn vẹn chứ không như đứa bé vàng vọt ngày xưa trong khai sinh còn chưa kịp mang họ mẹ. Tôi đoán người mẹ ấy đã quên, và nếu quên hẳn được thì đó biết đâu lại là điều may mắn. Bởi có nhớ cũng chẳng thay đổi được gì.

Trên thế giới này có không biết bao nhiêu người mẹ phải cho đi đứa con mình vất vả cưu mang suốt chín tháng mười ngày. Và những chuyện như thế tưởng chừng chỉ có trong những cuốn phim bộ dài tới mấy mươi tập, để khán giả trốn chạy thực tại được phút nào hay phút ấy, tránh né được càng nhiều càng tốt những cảnh đời nhiễu nhương giữa cuộc sống nghèo nàn, đầy áp bức, bất công; và để khi thấy nhân vật đau khổ, người xem bỗng dưng thấy mình dù sao cũng còn hạnh phúc.

Chuyện tôi vừa kể xảy ra ở Xứ Tuyết. Bạn hãy cùng tôi về đất nước có cái tên dài lê thê Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Hãy hình dung một người đàn bà lam lũ, nặng trĩu trên vai quang gánh kẽo kẹt những củ khoai củ sắn sần sượng. Và khệ nệ phía trước một cái bụng vun tròn của bào thai vừa bước vào tháng thứ tám. Trên con dốc mòn dẫn ra phố chợ, một khách hàng đón đầu chị bán khoai, hỏi han chiếu lệ về những củ khoai sùng trong cái thúng tuột cạp phải niềng thêm bằng những sợi dây lác chằng chịt. Người đàn bà mừng rỡ vì có người hỏi tới những củ khoai củ sắn ế ẩm. Nhưng chuyện bán buôn dừng lại ở đó, bởi người khách kia hỏi thẳng chị có muốn có một số tiền lớn không. Chị bán khoai ngỡ ngàng. Tiền thì ai không muốn. Gia tài nhà chị chưa bao giờ có được tới mười triệu đồng tiền nhà nước Việt Nam. Chị đặt quang gánh xuống, vừa thở hì hạch vừa nhìn người khách lạ mà không biết trả lời sao cho phải lẽ. Người khách ấy không vòng vo xa xôi. Người khách ấy nhìn đăm đăm vào mắt chị, rồi chỉ vào cái bụng căng tròn nếp áo của chị và bảo nếu chị chịu qua Trung Quốc để sinh con thì chị sẽ có tám mươi triệu nếu đứa bé là con gái, và từ bốn mươi đến năm mươi triệu nếu đứa bé là con trai.

Chị bán khoai có ba ngày để suy nghĩ. Suốt ba ngày ấy, con số 40 cùng con số 80 ám lấy chị. Hạn ba ngày chưa hết, chị đã xuống phố chợ, tìm người khách kia, cho chị ta câu trả lời.

Và khi thai kỳ qua đến tháng thứ chín, người đàn bà bán khoai ấy quyết định sang Tàu đẻ con.

Người ta đưa chị đến thị trấn ven biên, người dẫn đường đưa chị len lỏi những lối mòn hoang vu, qua những khoảng rừng thưa, băng qua nhiều con suối, đi thuyền, đi xe cả ngày trời. Và người ta giấu chị trong một căn nhà tối tăm ẩn khuất cuối con ngõ cụt. Người ta cho chị ăn uống đầy đủ nhưng không được phép ra ngoài. Chị bán khoai Việt Nam lưu lạc giữa một thôn xóm xa lạ trong nội địa nước láng giềng phương bắc.

Rồi cái ngày quan trọng đã tới. Những cơn đau rung cả giường chiếu. Những lời trấn an (hay la mắng) bằng ngôn ngữ xa lạ vây quanh chị. Thời gian ngừng trôi. Bọc nước ối vỡ. Đứa bé chào đời. Sản phụ người Việt Nam dẫu lả đi vì cơn đau bất tận cũng cố chống tay ngồi dậy để nhìn con mình, nhưng một người đàn ông đã nhanh nhẹn cuốn hài nhi vào mấy lớp khăn vải và bế vội ra ngoài. Sản phủ nghiêng đầu lắng nghe tiếng khóc trẻ sơ sinh xa dần rồi chìm vào tiếng xào xạc của cành lá rậm rạp cọ vào mái nhà. Sản phụ người Việt Nam xớn xác hỏi: Cháu là con trai hay con gái vậy? Những người Tàu chung quanh không trả lời. Có thể vì họ không hiểu tiếng Việt, cũng có thể họ không bận tâm trả lời. Một người đưa cho chị cọc tiền giấy. Sản phụ run rẩy mở mớ Nhân Dân Tệ ấy ra đếm. Sản phụ nhẩm tính. Sản phụ băn khoăn không biết con mình là trai hay gái, cho đến khi đếm xong cọc tiền và nhẩm tính trị giá tương đương qua tiền nhà nước Việt Cộng. Tám mươi triệu. Chị hiểu là chị vừa sinh con gái.

Và chị thầm hỏi không biết con gái có giống mình không.

Ngày hôm sau, người ta đốc chị khăn gói chuẩn bị lên đường. Chị lại đi xe cả ngày trời, lại đi thuyền, lại lội suối, lại băng rừng, lại len lỏi những lối mòn để về lại quê nhà.

Chuyến vượt biên mẹ đi cùng với con. Chuyến hồi hương mẹ chỉ có một mình.

Đường về, chị gặp người đồng cảnh ngộ. Cũng người Việt, cũng phụ nữ, cũng nghèo, cũng có thai, cũng đem con đi bán, nhưng người đồng cảnh ngộ ấy không may mắn như chị. Người ấy chỉ thu về được có bốn mươi triệu tiền nhà nước Việt Cộng.

Bạn thân mến. Tôi chỉ gặp người mẹ mười bảy tuổi một lần duy nhất khi cô ấy ký giấy cho đi đứa con mới sinh được một tuần. Tôi cũng chỉ thấy đứa bé ấy thấp thoáng qua khung kính khu trại trẻ sơ sinh lúc mẹ nó đút ngón tay vào miệng cho nó mút. Không bao giờ gặp lại họ nên tôi không có “cái kết bất ngờ” như các anh chị nhà báo Việt Cộng hay “giật tít”. Tôi cũng không biết đoạn kết liên quan đến những sản phụ Việt Nam sang Tàu bán con ra sao. Tôi chỉ biết thương những bé gái Việt (dưới một góc nhìn khác) sau khi bị bán sang Tàu, sẽ chỉ là những công cụ đáp ứng cho hậu quả của việc nhà nước cộng sản Tàu áp đặt chính sách mỗi nhà chỉ được phép có một con phối hợp với quan niệm cổ lỗ và phản khoa học rằng chỉ con trai mới có thể duy trì nòi giống; còn những bé trai Việt Nam lớn lên trong gia đình Tàu, nói tiếng Tàu, thấm nhuần thứ văn hóa của những kẻ tự nhận là mình trung tâm của thế giới, lớn lên đi lính Tàu và biết đâu trong một lần “dạy cho bọn Việt Nam một bài học”, nó gặp lại người đàn bà đem nó đi bán năm xưa.

Đại Tá Hoàng Cơ Lân có tiếng là một cấp chỉ huy trong sạch, thanh liêm và ngay thẳng. Tại Trường Quân Y, Ông giúp cải tổ lại kỷ luật và quân phong của các sinh viên sĩ quan Quân Y hiện dịch, ra chỉ thị các sinh viên phải vào ngủ trong trại, ngoại trừ khi phải trực gác ở bệnh viện, phục hồi duyệt binh và chào cờ VNCH mỗi sáng thứ Hai tại Vũ Đình Trường, những sinh viên hiện dịch bị rớt 1 niên học YK bị cho ra khỏi trường Quân Y. Và có lẽ quan trọng nhất là không còn có chuyện những bác sĩ tốt nghiệp Hiện Dịch hay Trưng Tập thuộc thành phần COCC đã có nhiệm sở của mình trước khi danh sách các đơn vị do Cục Quân Y được phổ biến chính thức tại Trường Quân Y để toàn thể các Quân Y Nha Dược sĩ của toàn khóa chọn cùng một lúc.
Tôi cúp phone, thay vội bộ quần áo, chạy ra ngoài xe mà muốn kêu trời! Trong cái tiệm thuốc Shoppers Drug Mart này, ngoài nhóm nhân viên ở quầy bên ngoài bán Grocery và nhóm bán mỹ phẩm, thì trong quầy pharmacy, ngoài các dược sĩ là nhóm “assistant” (Dược tá) do tôi …cầm đầu vì tôi lớn tuổi nhất và kinh nghiệm làm việc lâu nhất, nên được đám Dược tá gọi là … “chị Đại” chớ thực ra tôi đâu có chức quyền gì, vì mỗi “ca” làm có một “boss” đó là người Dược Sĩ của ca làm đó . Vậy mà hễ có chuyện gì lớn, nhỏ, từ chuyện giải quyết khiếu nại của khách hàng, những khúc mắc giữa các groups trong tiệm, cho đến chuyện cá nhân lặt vặt, cứ không giải quyết được là chúng lại réo tên tôi.
Chỗ anh ngồi là gần cuối máy bay. Chung quanh anh là những người có vẻ mặt lạnh lùng, khép kín. Mắt họ nhắm nghiền, không ai muốn nhìn ai. Chỉ có anh là đang cố giương mắt nhìn khoảng không gian nhỏ xíu bên ngoài cửa sổ mà hai người ngồi bên cạnh đã án ngữ gần hết. Anh muốn nhìn một mảnh của quê hương lần cuối, như thể đó là hình ảnh của em, hình ảnh vừa tan biến cách đây mười mấy phút, khi anh quay lưng đi, lẫn vào dòng hành khách nối đuôi nhau bước vào khoang máy bay.
Cơn bão tuyết đã qua hơn tuần rồi mà hai bên đường và trong các vườn cây tuyết vẫn chưa tan vì còn lạnh quá, ngày nào cũng dưới zero độ. Nhưng nhờ vậy mà những bao rác tiếp tục chồng lên nhau trên các đống tuyết cao ngất ngưởng tới thắt lưng bên đường, chờ xe đến mang đi, không có mùi hôi. Đường sá đã khó đi quanh những công trình xây dựng không ngưng nghỉ nay lại có thêm những rào cản mới, cấm người bộ hành đến gần những toà cao ốc để tránh những mảng tuyết đã bắt đầu đóng thành băng đang rơi xuống
Em nhỏ hơn tôi đúng hai tuổi. Chúng tôi cùng chào đời vào tháng Ba, cách nhau hai ngày. Hồi nhỏ, chúng tôi trông sàn sàn nhau. Mạ chúng tôi thường may sắm cho hai đứa cùng lúc, từa tựa nhau. Tôi được bộ đồ có hình trái lê, em được hình trái táo. Nhưng em cũng có những ý thích riêng của mình. Mạ dẫn hai đứa ra hàng giày dép. Tôi chọn đôi dép màu ngà, không nổi, không chìm. Em chọn đôi dép quai màu hồng tươi chói chang, nổi bật trên bàn chân ham chạy nhảy, da dang nắng, đen thùi lui.
Tôi không biết bên kia với nó là gì. Không biết nó biết không. Có thể không có khái niệm bên kia trong người nó. Chỉ có mùi nước, mùi cỏ ướt, mùi của nơi da nó sẽ được thở đầy hơn. Cơ thể nó biết phải đi về hướng đó mà không cần hỏi tại sao, không cần biết có gì chờ, không cần tính xem đáng hay không đáng.
Có những tình cảm không cần nói thành lời mà vẫn hiện hữu rất rõ trong tim. Có những tình yêu lặng lẽ, rất âm thầm nhưng vô cùng mãnh liệt. Tôi yêu em như thế, yêu theo cách lặng lẽ nhất mà một người có thể yêu; có lẽ và sẽ chẳng bao giờ em biết được những gì tôi giữ trong lòng. Huy đến trong đời tôi như một làn gió mát giữa trưa hè, không ồn ào, không phô trương, nhưng khiến tôi xao động đến tận tâm đáy tâm hồn. Em có nụ cười dịu dàng, ánh mắt trong trẻo như mặt nước hồ thu, và giọng nói nhỏ nhẹ như tiếng chuông khẽ vang trong buổi chiều tĩnh lặng. Mỗi lần nhìn em lặng lẽ ngắm mưa ngoài cửa sổ, mái tóc nhẹ bay, lòng tôi lại dâng lên một cảm giác yêu thương ngập tràn.
Tôi có đôi lần nói một cách tự hào là chẳng bao giờ giữ các cảm xúc ‘mạnh’ trong lòng. Người sống với sự quá khích thường là người bị mất sự vui sống trước tiên. Không ưa, không thích, không hợp, không ‘chịu nổi’ thì không làm bạn, thế thôi. Nhưng những năm gần đây, các cảm xúc ‘mạnh’ lại tràn lan như quả cầu bồ công anh trong gió. Những sợi tơ trắng bám nơi nào, lúc nào không biết, nhưng chúng làm người ta ngứa ngáy vô cùng. Ngứa mắt, ngứa miệng. Không thể nào không dụi mắt, không thể nào không hé môi. Sự ngứa ngáy lại này rất ác ôn: nó thích xuất hiện bất ngờ. Khi ta đang ăn trưa với một người bạn, đang chuyện trò với người thân, chẳng hạn. Không lẽ bỏ bữa ăn? Không lẽ cúp điện thoại? Thế là phải dụi mắt, phải hé môi. Đã lỡ hé rồi, thì cho nó há ra luôn. Thế là người bạn, người thân cũng khoe cái lưỡi không xương nhiều đường lắt léo!
Tết năm nay, năm 2026 là Tết Bính Ngọ, năm con Ngựa. Trong tâm thức người Việt, mùa Xuân luôn là khởi đầu của những hy vọng. Ngày xưa dân gian tin rằng năm Bính Ngọ là năm của ngựa lửa — chạy nhanh, tính nóng, khó ghìm cương. Vì thế ai sinh năm này thì lanh lợi, thẳng như ruột ngựa, làm gì cũng nhanh như gió, nói trước nghĩ sau.
Ông bà mình có câu “Thấy 30 chưa phải là Tết” với nghĩa bóng, rằng sự gì chưa nắm trong tay là chưa vội mừng, chưa chắc ăn. Nhưng với nghĩa đen, theo tôi, thì không hẳn thế, vì Ba Mươi mới chính là Tết, thậm chí còn…vui hơn Tết, nên mới có lời thơ “Còn đêm nào vui bằng đêm Ba Mươi” đấy thôi! Ngày Ba Mươi, sau một tuần bận rộn dọn dẹp kể từ ngày 23 Ông Táo, là ngày cuối cùng gấp rút cho mọi công việc để đón năm mới. Cứ khoảng 6-7 giờ tối, sau khi nhà cửa yên ổn sạch sẽ, chỉ còn dưới bếp bà chị Hai vẫn âm ỉ vài món ăn cho đêm Giao Thừa và sáng Mồng Một, các thành viên khác trong gia đình cũng bận bịu với những chuyện riêng của mình, thì tôi và nhỏ bạn thân có thói quen rủ nhau chạy xe lên chợ Xóm Mới mua bánh gai nóng hổi mới ra lò, mang về bày biện thêm cho mâm thức ăn ngày Tết.
Từ hồi tiền sử con người sống có lúc cũng yên lành, sau đó dần dần cũng tranh giành quyền lợi vật chất và ảnh hưởng quyền lợi hơn thua với nhau nên dần dần càng về sau, họ không ở yên bên nhau nữa… mà sanh ra chống chọi nhau, chống đối hơn thua để sống… mạnh được yếu thua. Ngoài việc chống đối với nhau, còn phải chống đối với thú dữ… với thiên nhiên, từ đó cuộc sống là một cuộc chiến không ngừng, mệt mỏi… mệt mỏi quá thì mơ tưởng và mong ước hòa bình.
Qua mùa Noël ít ngày là mùa xuân lại về. Mùa xuân về mang một sự thay đổi của đất trời và của cả lòng người… cây cối hoa lá đâm chồi nẩy lộc… và lòng người, với một chút bâng khuâng… chờ đón một cái gì đổi mới, chờ ở xa nơi quê hương và chờ cả ở nơi đây, chắc sẽ có một chút gì mới hơn, thay đổi bộ mặt của năm cũ, đầy xô đẩy, đầy dằng co của chiến tranh, của bão lũ thiên tai nhân tai dồn dập…
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.