Hôm nay,  

Chạy Dịch

14/08/202111:29:00(Xem: 5629)

 


 Anh Hòa lầu bầu trong miệng:

- Hổng biết lò bát quái thế nào chứ căn phòng này có khác gì?

 Cái nóng hầm hập như hấp mấy sinh mạng bên trong, mồ hôi lúc nào cũng rin rít tứa ra, nhiều lúc tưởng chừng cạn cả nước trong cơ thể. Cái nóng dường như cộng dồn từ sự lưu cửu lâu ngày, dù cái máy quạt chạy hết công suất cũng chẳng thay đổi nổi khí nóng trong nhà. Ở thành phố này dường như quanh năm là mùa hè, chỉ có mỗi mùa hè thôi!

Cái khái niệm xuân, thu, đông nó rất mơ hồ trừu tượng, có mấy ai cảm nhận được không khí mát mẻ của nó bao giờ. Đâu chỉ anh Hòa, toàn bộ cư dân ở đây đều vậy, chỉ trừ một số nhà giàu đi du hí các xứ ôn đới thì mới biết cái không khí xuân, thu, đông. Có đôi khi thấy cái cảnh đẹp và mát mẻ của những mùa đó ở trên ti vi hay trên phim ảnh, làm cho anh Hòa cứ ngỡ đó như cảnh tiên, anh ao ước giá được một lần đắm mình trong cái không khí mát mẻ an lành ấy. Anh từng mơ mộng giá mà thành phố này bất chợt một ngày nào đó xuất hiện cảnh vàng thu lá đổ hay tuyết trắng trời đông dù chỉ là một phút thoáng qua. 

 Anh Hòa cởi trần mặc độc xà lỏn  ngồi sát mép cửa ra vào, mắt đầy lo nghĩ mông lung. Lệnh phong thành đã hơn tháng nay, trong nhà cạn kiệt thức ăn, nước uống và tiền bạc; nếu tình trạng này kéo dài chắc chết! Cái đói đã hiện diện chứ không còn mơ hồ gì nữa. Mà đâu chỉ gia đình ảnh, cả cái xóm trọ này cũng thế, toàn dân lao động các tỉnh lên thành kiếm sống, giờ sống dở chết dở. Anh Hòa mất việc mấy tháng rồi, vợ anh mua gánh bán bưng nhặt nhạnh chắp vá từ gánh hàng rong, giờ phong thành đành bó gối ngồi nhà. Thằng Tưởng học lớp bảy, thằng đắc mới đi mẫu giáo cũng ở nhà quanh quẩn trong bốn bức tường. Mấy nay thỉnh thoảng cũng được gạo và rau củ từ mấy nhóm từ thiện cá nhân gởi cho, nếu không thì còn căng thẳng hơn, thỉnh thoảng anh Bảy Bá bên ngoài khu vực phong tỏa cũng tiếp tế cho một ít lương thực. Không có anh và những nhóm từ thiện ấy thì đói là cái chắc, cả xóm cùng đói!

Nhìn những đứa trẻ đứng lố nhố sau hàng rào kẽm gai phong tỏa ngó ra đường, khách cứ ngỡ như trại tập trung thời chiến. Những con người khốn khổ dù chẳng dính dịch hay bệnh nhưng vẫn bị nhốt như gà vịt, thậm chí nhốt còn căng hơn những con vật nguy hiểm truyền nhiễm. Đầu hẻm chăng dây, rào kẽm, những khuôn mặt lạnh tanh lầm lì cứ chờ chực ai vượt qua là ra tay liền, không cần biết lý do gì cả. 

 Cái xóm trọ này ngất ngư trong cơn nắng hạ bao  nhiêu năm nay, cái nắng cái nóng có khó khổ mấy cũng còn chịu được. Ai cũng bám trụ để mưu sinh, lo cho con cái và gia đình, nhưng cái nóng hầm hè chống dịch thì tàn nhẫn hơn, nó làm cho người ta cạn kiệt cả vật chất lẫn tinh thần. Ngồi nhà cả tháng, ăn uống dù có tém gọn đến độ không thể nào gọn hơn nữa nhưng vẫn không biết mai này lấy gì ăn, ấy là chưa nói tiền nhà, tiền điện, nước, học hành và trăm thứ hằm bà lằng khác. Anh Hòa rầu rĩ:

- Phong tỏa dài hạn thế này chắc mình phải cuốn về quê thôi! Dưới quê tuy nghèo khổ nhưng giờ ở đây không còn gì để duy trì nữa! Hết đường sống rồi

 Chị Yên vớt vát:

- Nghe nói họ chuẩn bị phát tiền hỗ trợ cho người nghèo, may ra đắp đổi qua ngày.

- Có mà lên ti vi nhận em ơi!

- Không, em nghe tin tức mấy hôm nay mà!

- Ừ thì ti vi nói, tin được có mà bán lúa giống ăn, dẫu cho có thật thì cũng không bao nhiêu, sao đắp đổi nổi? Mấy nay nhờ những nhóm từ thiện của dân chứ không thì đói rã họng.

- Mình về quê cũng được nhưng việc học hai đứa con sao đây?

- Tới đâu hay tới đó chứ biết sao, giờ lo sống còn trước đã!

 Hai vợ chồng còn đang tính tới tính lui thì tiếng chuông điện thoại cầm tay reo vang. Anh Hòa bắt máy thì nghe tiếng anh Bảy Bá:

- A lô, Hòa đó hả? Anh Bảy đây! Mai bọn anh về quê, anh không giúp gì thêm được nữa, em cũng tính đường đi!

 Hòa bần thần:

- Cảm ơn anh đã giúp bấy nay, giờ anh về quê chúc anh bình an đi đến nơi về đến chốn. Tụi em cũng tính dọn về quê nhưng ngặt cái xóm em bị phong tỏa gắt, nội bất xuất ngoại bất nhập nên không thể đi được.

- Chỗ anh cả xóm ùn ùn kéo về quê, giờ có bám lại cũng không còn tiền để sống, không nghề để làm. Dịch như vầy biết bao giờ mới hết? Em có gì cứ nhắn tin anh, anh giúp được gì trong khả năng thì anh giúp.

- Dạ, cảm ơn anh.

 Bốn giờ sáng, trời còn tối mịt, những ngọn đèn vàng vọt trong hẻm tỏa ra ánh sáng yếu ớt trầm lắng. Vợ chồng Bảy Bá nai nịt gói ghém toàn bộ hành lý lên chiếc xe máy. Anh đèo chị, thằng Tí ngồi ở trước, thằng Tô ngồi giữa hai vợ chồng, trông thật tài tình làm sao, cứ như làm xiếc. Chiếc xe máy cồng kềnh nổ khìn khìn hòa với tiếng máy của những chiếc xe khác, cả đoàn người lần lượt rời khỏi con hẻm, dòng xe nối đuôi chạy ra đường lớn và hướng về phía cửa ngõ thành phố. Nếu sài Gòn ngày trước như một hấp lực, anh Bảy Bá đưa vợ và con lên thành mưu sinh, giờ rời bỏ Sài Gòn chạy trốn trong sự ngậm ngùi, ở lại lấy gì mà sống? Anh làm phụ hồ, chị bán hàng rong, ky cóp cũng đắp đổi được, nhưng từ khi dịch bùng lên, anh mất việc, hai tháng sau thì phong thành, chị buộc phải ngồi nhà. Giờ thì phải bỏ Sài Gòn mà đi, có mấy ai muốn rời đi đâu? Nhưng không đi thì lấy gì ăn? 

 Dòng xe máy khìn khìn nối đuôi nhau, xe nào cũng chất lỉnh kỉnh đồ đạc, treo máng hai bên, ràng buộc trước sau. Mọi người cố nhặt nhạnh đem về những món tài sản ít ỏi của mình. Đoàn xe chạy qua những con đường vắng tanh không một bóng người, không ít người ngậm ngùi thầm nói lời tiễn biệt Sài Gòn. Thỉnh thoảng vài chiếc xe nhà binh rọi đèn pha chói mắt, dù không thấy người trong xe nhưng ai cũng rờn rợn biết có những cặp mắt đang tăm tia họ. Những nhà dân hai bên đường cửa đóng then cài với nhiều lớp khóa. Bên này đường treo cao khẩu hiệu:” Mỗi nhà là một pháo đài chống dịch, mỗi người là một chiến sĩ chống dịch”, bên kia đường đối lại bằng một khẩu hiệu khác: ”Chống dịch như chống giặc, dùng tinh thần đánh đế quốc để chống dịch”… Đòan xe chạy ngang một chốt dân phòng, thấy năm bảy người lố nhố với dùi cui, roi điện, kẽm gai và trên nóc cũng chăng khẩu hiệu đỏ lòm, ngay cạnh đó là trụ sở ủy ban kín cổng cao tường, trên tường cũng trương khẩu hiệu, nơi nào cũng thấy khẩu hiệu. Anh Bảy nói giọng bực bội:

- Con bà nó! Chống dịch bằng tinh thần đánh Mỹ, vậy mà tiền Mỹ thì tươm tướp, hàng Mỹ thì mê, vắc xin Mỹ thì chích.

 Vợ anh ngồi sau lầu bầu:

- Vắc xin Mỹ mấy ổng chích, người nhà và bạn bè mấy ổng hưởng hết trơn. Vắc xin Tàu thì để cho dân. Em thà hổng chích chứ không thèm vắc xin Tàu!

- Ừ, chích vắc xin Tàu không chừng lợi bất cập hại.

- Ăn ở gì lạ quá, mở miệng ra là chửi, xúi đàn em chửi vậy mà tiền đô nhét đầy túi, mở tài khoản ở bển để tuồn của cải, con cháu cài cắm lót ổ ở bển.

- Đời nó chó má vậy! Chỉ tội tụi lon ton thằn lằn cắc ké cuồng mà hổng được gì, cùng lắm thì được chút tiền bồi dưỡng.

 Đoàn xe xóm trọ anh Bảy đến ngã tư Hàng Xanh thì gặp nhiều đoàn xe khác từ các hướng cùng tụ về, từng dòng xe hòa nhập thành một đoàn dài chạy về hướng ngoại thành. Những con người khốn khổ rời Sài Gòn, rời khỏi mảnh đất trù phú từng mơ ước để mưu sinh. Nếu lúc trước lên Sài Gòn để sinh sống thì giờ chạy trốn Sài Gòn vì sự sống còn. Xe chạy được bốn tiếng thì thằng Tí than vãn:

- Ba, com đau đái!

 Thằng Tô ngồi giữa anh và chị cũng kêu:

- Con đói bụng quá mẹ ơi!

 Anh Bảy dỗ ngọt:

- Ráng chút nữa đi con. Chạy thêm chút xíu nữa lựa chỗ trống trải để nghỉ ăn sáng luôn.

 Chạy thêm một tiếng nữa thì hai đứa lại nhắc, anh Bảy tấp vào bên lề đường cho hai đứa đi tiểu và nghỉ chút để ăn sáng. Những chiếc xe khác cũng tấp vào nghỉ, nhìn quanh có khoảng chục gia đình ngồi rải rác, trong khi ấy dòng xe chạy dịch vẫn nối đuôi dài bất tận trên đường. Anh Bảy làm quen, hỏi người đàn ông kế bên:

- Anh chị về đâu?

Người ấy bảo:

- Tui về Huế, bạn tui về tuần trước rồi, tui ráng cầm cự xem thử có trợ cấp giúp đỡ gì không, giờ thì tuyệt vọng nên phải về thôi! Tui nghe phong phanh dường như họ bắt đầu ngăn chặn không cho dân về nữa. Tui không biết sao, cứ đi, tới đâu hay tới đó, giờ ở lại cũng chết mà đi cũng không xong.

 Anh Bảy tâm sự:

- Tui làm phụ hồ, mất việc mấy tháng rồi, vợ cầm cự đến nay thì kiệt, đành về Quảng Ngãi, anh làm gì trong đó?

- Tui làm công nhân lắp ráp trong một xưởng máy, xưởng cho nghỉ cả tháng nay, vợ cũng làm chung, cả hai thất nghiệp!

Anh Bảy nói thêm:

- Mình về còn đỡ, mấy đứa em và bạn kẹt ở khu cấm túc, không thể ra vô nên đâu về được, mà ở lại thì...chẳng còn gì ăn, thế mới chết chứ! Đúng là đi cũng dở ở không xong.

 Đột nhiên người đàn ông gốc Huế giận dữ:

- Chúng nó ột dột quá, chống dịch thì đúng rồi nhưng chống bằng cách triệt đường sống của dân thì ngu xuẩn máy móc quá! Dân chưa chết vì dịch đã điêu đứng vì sinh kế. Các nước họ lo cho dân, phát lương thực, trợ cấp tiền bạc chứ đâu có cái kiểu sống chết mặc bay như vầy!

Một người cũng kế bên, giọng Đà Nẵng góp lời:

- Chống dịch cứng nhắc, họ coi mình như cỏ rác, sống chết mặc bay, chống kiểu này dịch vẫn cứ tăng hàng ngày.

 Một người khác giọng Bình Định:

- Họ chống dịch bằng cách cấm chợ ngăn sông, không cho dân mua bán nhưng siêu thị của nhóm lợi ích thì được bán, bán với giá mắc, dân thiếu ăn mặc kệ!

 Một giọng khác nói xen vào, không rõ giọng miền nào, có lẽ lưu lạc đã lâu nên chất giọng đã pha trộn nhiều âm sắc:

- Ở sài Gòn thiếu thực phẩm, zậy mà nghe nói miền tây hàng trăm ngàn tấn gạo, thủy sản, rau ùn ứ. Đà Lạt hàng chục ngàn tấn hoa quả phải đổ bỏ, tại sao không cho xe hàng chở về Sài Gòn? Phong thành kiểu này thì chết hết dân nghèo.

 Người đàn ông gốc Huế rầu rĩ:

- Ột dột lắm anh ơi! Họ mà biết nghĩ như anh thì dân đỡ khổ, không chừng chúng ta còn bám trụ được ở Sài Gòn.

 Chị Bảy nãy giờ lặng im, chợt than:

- Nghe nói có tỉnh chốt chặn, không cho dân về vì họ sợ lây dịch, liệu mình về có được không?

Anh Bảy chán nản:

- Giờ thì không còn lựa chọn nào khác, tiến lui đều không có cửa, cứ liều vậy, tới đâu hay tới đó!

 Mọi người nghỉ xong vội vàng xốc lại xe máy để tiếp tục lên đường về nhìn kim đồng hồ trên xe máy, anh Bảy nói một mình:

- Chạy bốn lăm đến năm mươi cây số giờ kiểu này chắc phải mất ba ngày mới tới nhà.

 Dòng xe máy trên đường dài ngút  tầm mắt, không thấy điểm đầu cũng như điểm cuối, những bảng số xe cho biết hầu như các tỉnh đều có mặt. Người nào cũng trùm kín mít, nón bảo hiểm, áo dài tay che nắng gió, có người còn mặc cả áo mưa bằng nylon, tất cả chăm chăm hướng về phía trước, dù rằng phía trước lành dữ ra sao chưa đoán được, giờ chỉ một lòng về quê mà thôi! 

 Mười giờ sáng, dòng xe chạy ngang qua một thị trấn nhỏ bên đường cái quan, nhiều người giảm tốc độ rà rà ghé vào một cái quán để nhận chai nước và một phần ăn. Một cụ già và một cô cháu gái đứng phát tặng cho những người chạy dịch. Anh Bảy cũng ghé vào nhận lấy phần quà tặng của người dân xa lạ nhưng tốt bụng từ tâm. Anh thắc mắc với vợ:

- Dòng người dài dằng dặc như vầy, liệu cụ già và cô bé kia có đủ quà để phát?

 Chị Bảy lặng thinh, không biết vì không nghe thấy hay nghe mà trong lòng ẩn nhẫn không biết nói ra sao?  Lúc này mặt trời đã oi bức lắm rồi, chạy thêm chừng hai tiếng nữa thì cái nắng, từ trên đầu dội xuống, sức nóng từ mặt đường bốc lên, cái nóng bít bùng trong mũ bảo hiểm tỏa ra, sự ngột ngạt từ miếng khẩu trang bịt miệng mũi… Anh Bảy như muốn nổ tung, mồ hôi trin trỉn cả người. Người lớn còn câm nín chịu đựng, thằng Tô khóc nhè nhè, bức tóc bức tai, khóc mệt thì ngủ lịm đi, thằng Tí ngồi phía trước hứng gió táp vào mặt, tuy cũng nóng bức nhưng nó đủ nhận thức để hiểu chuyện nên không mè nheo như thằng Tô. Dòng xe máy riết róng chạy về phía trước, bỏ Sài Gòn lại sau lưng, cứ chạy thôi, còn lành dữ ra sao thì chẳng ai biết. Mọi người rời Sài Gòn chẳng qua là bất đắc dĩ, chẳng ai muốn rời bỏ nơi dễ mưu sinh nhất ở xứ sở này. Dòng xe dòng người như chạy giặc tị nạn  giữa thời bình, những người  đã tìm đến sài Gòn để lập nghiệp, kiếm sống giờ phải chạy trốn. Sài Gòn giờ nhìn đâu cũng thấy dịch, nhìn ai cũng như nguồn lây bệnh. 

 Trời nắng như đổ lửa, anh Bảy tách khỏi dòng xe trên đường, tấp vào một gốc cây bên vệ đường để nghỉ và ăn chút gì lót dạ. Nhiều người thấy thế cũng tự động tấp theo vào. Gặm cái bánh mì thịt bỏ trong ba lô bị dẹp lép, anh ăn ngon như chưa bao giờ được ăn. Chị Bảy lấy thức ăn cho hai đứa con và cùng ăn với chúng, Ăn xong ai nấy tự động nằm thẳng ra đất cho cái lưng đỡ mỏi, bây giờ chẳng còn khái niệm sạch dơ bụi bặm gì nữa. Sau khi nghỉ ngơi lại sức, dòng xe lại tiếp tục chạy về miền trung, mảnh đất nghèo khó nhiều thiên tai và cả nhân tai. Miền trung được bọn văn sĩ, thi sĩ ví như cái đòn gánh, lại có kẻ ví như khúc ruột… Dù gì thì nó cũng từng là cái nôi của nhiều nền văn minh cổ của quốc gia này, nào chỉ là văn minh tộc Việt, còn nhiều tộc người khác trước cả tộc Việt rất lâu. Miền trung mang nhiều vết thương lòng, năm xưa khói lửa chiến chinh, dòng người ùn ùn di tản kéo về nam, chạy về Sài Gòn để tránh giặc, nào ngờ mấy mươi năm sau người ta lại lũ lượt bỏ chạy khỏi sài Gòn để tránh dịch. Không biết cái nghiệp gì mà những người con của tộc Việt đau khổ không thế này? Bao nhiêu khổ nạn vận vào họ, những dòng người xưa nay tơi tả chạy ngược chạy xuôi, ai dám bảo tương lai sẽ không còn chạy? 

 Dòng người lặng thầm chạy về phía trước, chỉ có tiếng xe máy khìn khìn, phành phạch khuấy động cái nóng, kích thích cái nóng trên đường. Cứ chạy như thế cho đến khi tối mịt mùng, nhiều tốp tấp vào bên đường, dùng ánh đèn xe máy để ăn uống, những gói mì khô khốc, những cái bánh mì xẹp lép dai nhách, những gói cơm nguội… bị những người đang đói bụng ăn ngấu nghiến một cách ngon lành, rải rác quanh đó có nhiều người mệt quá nằm ngủ thiếp đi. Chị Bảy gối đầu lên cái ba lô, trong ấy còn một ít tiền và nữ trang, đó là tất cả sự sống còn cho những ngày sắp tới, chị ôm thằng Tô ngủ một giấc ngủ chập chờn mộng mị. Anh Bảy Bá cẩn thận hơn, anh buộc chân vào bánh xe máy, phòng khi ngủ say bị  trộm dắt xe thì biết, có lẽ bản tánh người trung là vậy, tuy nhiên trong lúc này thì sự cẩn thận ấy cũng thừa. Không một thằng ăn trộm nào dám bén mảng đến dòng người chạy dịch đông đúc như thế này! Anh Bảy cẩn thận, đề phòng là vậy, nhưng với chiếc xe máy hay những cái nhỏ nhặt chứ còn những việc lớn như sinh mệnh anh và gia đình, sự sống, sinh kế… thì hoàn toàn định đoạt bởi người ta. Mà nào chỉ có anh, hàng triệu người ở xứ sở này cũng đều bị như thế cả. Anh Bảy và dòng người lên Sài Gòn kiếm sống và rồi chạy dịch cũng vì sự sống, cuộc sống đẩy đưa, dòng đời đưa đẩy như bèo dạt mây trôi.


TIỂU LỤC THẦN PHONG

Ất Lăng thành, 08/2021

 

Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng. «… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
Tháng tư ngửa mặt nhìn trời | Nhớ xem hồng nhạn đã rơi phương nào | Cánh chim gãy sợi tóc đau | Con đò chở khẳm nỗi sầu lưu vong.
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt.
Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.