Hôm nay,  

Hoa Sứ Trắng

08/05/202600:00:00(Xem: 1058)

thanh-mai-1

Vũ Thị Thanh Mai, ảnh Trần Vũ chụp 2015 

 
LTS: “Hoa Sứ Trắng” của Vũ Thị Thanh Mai mở ra từ một khu vườn nhỏ, dẫn người đọc đi qua những tầng ký ức, những vỡ lẽ âm thầm của một đời người. Ở đó có bóng gia đình, có khói hương, có những lần tin rồi nghi, mất rồi hiểu. Tản văn không tìm cách giải thích, chỉ đặt xuống những câu hỏi cũ: về vô thường, về niềm tin, về chỗ nương tựa sau cùng. Văn nhẹ, trong, buồn vừa đủ—như hương sứ thoảng qua, mong manh mà ở lại lâu.

***
  
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sàigòn. Mùa hạ là những chuyện tình không viết ra của hai vợ chồng trên những bãi biển cát nóng sóng gầm. Mùa thu, các anh chị em tôi gọi là mùa gặt hái vì chừng tháng mười một các cây nhãn hạt tiêu, hồng giòn và ổi xá lị chín nặng trĩu cành; và giữa phòng khách trưng một quả bí rợ khổng lồ từ Halloween chễm trệ đến hết Thanksgiving. Mùa đông Cali khi mưa khi lạnh, cây không cần tưới nhiều, biển âm u. Bù lại là liên tục lễ tiệc, từ Tạ Ơn sang Giáng Sinh, đến Tết Tây, rồi Tết Ta. Cứ như vậy bốn mùa xoay vần, với tốc độ tăng dần, mỗi năm mỗi nhanh hơn. Chúng tôi miệt mài chạy theo thời gian, khi cảm thấy đuối sức mới nhận thức tuổi trẻ đã qua tự bao giờ. Viễn tượng của hưu trí là một cuối đường sẽ hẹp dần, không gian sẽ thu nhỏ lại cho đến khi mọi vật vốn mang bản chất phù du trở thành cát bụi. Làm sao đối diện với sự hữu hạn của đời người để được bình yên trong tuổi già?  

Khi sợ hãi, người ta bắt đầu cầu nguyện.  

thanh-mai-2
Căn nhà thủa bé của tôi có một phòng thờ rất rộng, nơi đặt nhiều bàn thờ các vị Phật, đức Quan Công và tổ tiên, cũng là nơi chính cho các tiệc giỗ. Năm sáu tuổi, sáng sớm tôi theo bà nội hái những chiếc hoa sứ trắng đặt trên bàn thờ rồi thắp hương cúng Phật. Bà dạy tôi những lời khấn đầu tiên, xin cho bà cha mẹ anh chị em khỏe mạnh, xin cho con học giỏi.

Năm mười bảy tuổi trước khi vượt biên, mẹ dặn trên đường niệm nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát cho con tai qua nạn khỏi. Ba mươi mấy tuổi, tôi đưa mẹ về Long Thành tu ở Thiền Viện Thường Chiếu. Mẹ nói để xin hòa thượng Thích Thanh Từ quy y cho con, mẹ gieo nhân duyên này để con tìm đến khi cần thiết. Thầy đặt cho pháp danh Thích Thanh Nhàn, chắc vì tôi mang số tử vi của một đời gian truân.  

Mẹ ở trong chiếc cốc nhỏ tu tập và làm việc thiện. Mỗi lần tôi và con gái về thăm, ba bà cháu đi dạo loanh quanh trong cảnh chùa thanh tịnh thênh thang, vào chánh điện lạy Phật, rồi ra tháp thắp hương tưởng nhớ bố và bà nội. Sự tín ngưỡng của tôi dừng lại ở đây; mẹ hiểu, nhưng thỉnh thoảng vẫn dúi vào tay tôi một băng cassette hay một quyển kinh để mang về.  

Mấy mươi năm trôi qua, cảnh chùa ngày càng xanh tươi đông đúc. Nhưng cốc của mẹ không còn. Những chậu hoa mẹ trồng bây giờ đang vươn nở trong khu vườn khác. Tôi đã trải qua những đau khổ, mất mát, thất bại, thăng trầm mà gắn liền với đời sống của tất cả mỗi sinh vật. Cây cỏ hoa lá cũng hiển nhiên bệnh hoạn héo tàn và chưa hẳn sẽ trở lại sau mùa đông. Hữu sinh thì hữu diệt, có sinh thì có tử, đến rồi sẽ đi. Như vậy, mục đích của đời người là gì? Sống, đòi hỏi vật chất và tình người – hạnh phúc hoàn toàn phụ thuộc vào hai điều kiện này mà chúng khi ẩn khi hiện, thay đổi không ngừng khiến mình lao đao. Những người tin vào luật nhân quả cố gắng giữ gìn đạo đức nhưng vẫn không tránh khỏi tai ương, vì còn phụ thuộc vào những nghiệp đã gây ra trong kiếp trước (ai biết là gì!). Nói cách khác, không ai kiểm soát được số phận. Không ai nên mong chờ gì hơn số phận của một chiếc lá úa vàng trong mùa thu ảm đạm, rơi xuống mặt đường nằm chờ mục rữa.  

Nhân duyên của mẹ gieo cuối cùng được quả. Tôi giờ chú tâm tìm hiểu Phật pháp. Và khám phá ra đạo Phật không có thần thánh mà là một triết lý uyên bác thâm sâu, dẫn dắt con người thoát khỏi khổ đau. Các hình ảnh tượng đài là phương tiện giúp người ta hướng về. Chùa chiềng là phương tiện giúp tín đồ tu tập. Tôi tiếc cho mình đã không bồi đắp đời sống tâm linh sớm hơn. Nghĩ lại, những lời khấn cầu bà và mẹ dạy chủ yếu là gieo trong tôi niềm tin.  
Niềm tin là cứu cánh duy nhất của con người.  

Trong những cơn lao đao trên bờ vực thẳm. Với cảm giác thất lạc tận cùng, sức ép đè nặng nề trên ngực, trước mắt tối tăm. Khi con người không thể cho mình hy vọng. Mình muốn tin vào một quyền năng thiên nhiên cho mình lối thoát.  

Các khoa học gia ước lượng có hai ngàn tỷ thiên hà trong vũ trụ; tỷ lệ đường kính một giải ngân hà to gấp bảy mươi bốn ngàn tỷ lần trái đất, tương tự như Bắc Mỹ và một hạt cát. Họ còn cho rằng vũ trụ vẫn không ngừng bành trướng. Chỉ một cơn bão trên mặt trời có thể bùng phát to hơn trái đất nhiều lần. Những con số này luôn khiến tôi choáng ngộp mỗi lần nghe đến. Tôi muốn tin cách nhìn của triết gia Alan Watts trong ảnh hưởng Phật giáo - con người sinh ra từ vũ trụ, mỗi con người là một chức năng của toàn bộ vũ trụ, giống như con sóng là chức năng của toàn bộ đại dương, con sóng và đại dương không tách biệt, chúng liên tục. Và tôi đặt niềm tin vào quyền năng của vũ trụ huyền bí, chấp nhận chức năng của riêng mình cho một mục đích cao hơn.  

Chấp nhận vì không có chọn lựa. Chấp nhận để biết xem nhẹ. Khi khổ đau, biết tỷ sinh vật đang đau khổ hơn mình; mình không duy nhất. Khi hạnh phúc, biết sẽ có ngày mất mát. Mất mát cũng chỉ là một cách gọi khi ngoài tầm tay tầm nhìn. Bà nội, bố mẹ mất đã nhiều năm nhưng họ vẫn sống trong lòng tôi, vẫn cho tôi hạnh phúc ấm áp khi nghĩ về họ. Từ góc nhìn này, tôi không hề mất họ. Hơn nữa, mất là đã có; tỷ sinh vật không có diễm phúc đánh mất những gì chưa bao giờ có.  

Tôi hái một ít hoa sứ trắng ngoài vườn đặt lên bàn thờ. Vài cánh hoa mong manh chóng tàn cho tôi niềm tin suốt một đời.  

Những ước mơ cho riêng mình mà vẫn chưa thực hiện, tôi hiểu, cần gói ghém lại cho kiếp sau. Kiếp còn lại để tìm an lạc – bình an trong tâm hồn và hạnh phúc. Không phải hạnh phúc tối thượng của Niết bàn – một trạng thái thoát khỏi tham, sân, si – mà con người sẽ không bao giờ đạt tới. Mà là hạnh phúc với gia đình và qua những ai có thiện duyên với mình. 

Qua Tết, đại gia đình chúng tôi sẽ chuẩn bị đám cưới cho cô con gái duy nhất của tôi. Đứa cháu duy nhất sinh ra khi bà ngoại sang Mỹ được ba ngày và được bà nuôi mấy năm trước khi bà về lại quê hương đi tu. Tôi hy vọng nó sẽ sớm ý thức sự quan trọng của đời sống tâm linh, sớm hơn tôi. 

Đám cưới sẽ diễn ra đầu mùa xuân. Thiên nhiên sẽ tưng bừng những mạch sống mới; con người cũng sẽ hớn hở qua khỏi một mùa đông âm u. Không gian sẽ toát ngời những năng lượng tích cực, chào mừng duyên lành của đôi vợ chồng trẻ. Tôi nhìn thấy một bắt đầu đẹp đẽ. 

 VTTM, áp Tết Bính Ngọ 2026
 

Tháng tư ngửa mặt nhìn trời | Nhớ xem hồng nhạn đã rơi phương nào | Cánh chim gãy sợi tóc đau | Con đò chở khẳm nỗi sầu lưu vong.
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt.
Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời. Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông.
Đại Tá Hoàng Cơ Lân có tiếng là một cấp chỉ huy trong sạch, thanh liêm và ngay thẳng. Tại Trường Quân Y, Ông giúp cải tổ lại kỷ luật và quân phong của các sinh viên sĩ quan Quân Y hiện dịch, ra chỉ thị các sinh viên phải vào ngủ trong trại, ngoại trừ khi phải trực gác ở bệnh viện, phục hồi duyệt binh và chào cờ VNCH mỗi sáng thứ Hai tại Vũ Đình Trường, những sinh viên hiện dịch bị rớt 1 niên học YK bị cho ra khỏi trường Quân Y. Và có lẽ quan trọng nhất là không còn có chuyện những bác sĩ tốt nghiệp Hiện Dịch hay Trưng Tập thuộc thành phần COCC đã có nhiệm sở của mình trước khi danh sách các đơn vị do Cục Quân Y được phổ biến chính thức tại Trường Quân Y để toàn thể các Quân Y Nha Dược sĩ của toàn khóa chọn cùng một lúc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.