Hôm nay,  

Chạy Dịch

14/08/202111:29:00(Xem: 5503)

 


 Anh Hòa lầu bầu trong miệng:

- Hổng biết lò bát quái thế nào chứ căn phòng này có khác gì?

 Cái nóng hầm hập như hấp mấy sinh mạng bên trong, mồ hôi lúc nào cũng rin rít tứa ra, nhiều lúc tưởng chừng cạn cả nước trong cơ thể. Cái nóng dường như cộng dồn từ sự lưu cửu lâu ngày, dù cái máy quạt chạy hết công suất cũng chẳng thay đổi nổi khí nóng trong nhà. Ở thành phố này dường như quanh năm là mùa hè, chỉ có mỗi mùa hè thôi!

Cái khái niệm xuân, thu, đông nó rất mơ hồ trừu tượng, có mấy ai cảm nhận được không khí mát mẻ của nó bao giờ. Đâu chỉ anh Hòa, toàn bộ cư dân ở đây đều vậy, chỉ trừ một số nhà giàu đi du hí các xứ ôn đới thì mới biết cái không khí xuân, thu, đông. Có đôi khi thấy cái cảnh đẹp và mát mẻ của những mùa đó ở trên ti vi hay trên phim ảnh, làm cho anh Hòa cứ ngỡ đó như cảnh tiên, anh ao ước giá được một lần đắm mình trong cái không khí mát mẻ an lành ấy. Anh từng mơ mộng giá mà thành phố này bất chợt một ngày nào đó xuất hiện cảnh vàng thu lá đổ hay tuyết trắng trời đông dù chỉ là một phút thoáng qua. 

 Anh Hòa cởi trần mặc độc xà lỏn  ngồi sát mép cửa ra vào, mắt đầy lo nghĩ mông lung. Lệnh phong thành đã hơn tháng nay, trong nhà cạn kiệt thức ăn, nước uống và tiền bạc; nếu tình trạng này kéo dài chắc chết! Cái đói đã hiện diện chứ không còn mơ hồ gì nữa. Mà đâu chỉ gia đình ảnh, cả cái xóm trọ này cũng thế, toàn dân lao động các tỉnh lên thành kiếm sống, giờ sống dở chết dở. Anh Hòa mất việc mấy tháng rồi, vợ anh mua gánh bán bưng nhặt nhạnh chắp vá từ gánh hàng rong, giờ phong thành đành bó gối ngồi nhà. Thằng Tưởng học lớp bảy, thằng đắc mới đi mẫu giáo cũng ở nhà quanh quẩn trong bốn bức tường. Mấy nay thỉnh thoảng cũng được gạo và rau củ từ mấy nhóm từ thiện cá nhân gởi cho, nếu không thì còn căng thẳng hơn, thỉnh thoảng anh Bảy Bá bên ngoài khu vực phong tỏa cũng tiếp tế cho một ít lương thực. Không có anh và những nhóm từ thiện ấy thì đói là cái chắc, cả xóm cùng đói!

Nhìn những đứa trẻ đứng lố nhố sau hàng rào kẽm gai phong tỏa ngó ra đường, khách cứ ngỡ như trại tập trung thời chiến. Những con người khốn khổ dù chẳng dính dịch hay bệnh nhưng vẫn bị nhốt như gà vịt, thậm chí nhốt còn căng hơn những con vật nguy hiểm truyền nhiễm. Đầu hẻm chăng dây, rào kẽm, những khuôn mặt lạnh tanh lầm lì cứ chờ chực ai vượt qua là ra tay liền, không cần biết lý do gì cả. 

 Cái xóm trọ này ngất ngư trong cơn nắng hạ bao  nhiêu năm nay, cái nắng cái nóng có khó khổ mấy cũng còn chịu được. Ai cũng bám trụ để mưu sinh, lo cho con cái và gia đình, nhưng cái nóng hầm hè chống dịch thì tàn nhẫn hơn, nó làm cho người ta cạn kiệt cả vật chất lẫn tinh thần. Ngồi nhà cả tháng, ăn uống dù có tém gọn đến độ không thể nào gọn hơn nữa nhưng vẫn không biết mai này lấy gì ăn, ấy là chưa nói tiền nhà, tiền điện, nước, học hành và trăm thứ hằm bà lằng khác. Anh Hòa rầu rĩ:

- Phong tỏa dài hạn thế này chắc mình phải cuốn về quê thôi! Dưới quê tuy nghèo khổ nhưng giờ ở đây không còn gì để duy trì nữa! Hết đường sống rồi

 Chị Yên vớt vát:

- Nghe nói họ chuẩn bị phát tiền hỗ trợ cho người nghèo, may ra đắp đổi qua ngày.

- Có mà lên ti vi nhận em ơi!

- Không, em nghe tin tức mấy hôm nay mà!

- Ừ thì ti vi nói, tin được có mà bán lúa giống ăn, dẫu cho có thật thì cũng không bao nhiêu, sao đắp đổi nổi? Mấy nay nhờ những nhóm từ thiện của dân chứ không thì đói rã họng.

- Mình về quê cũng được nhưng việc học hai đứa con sao đây?

- Tới đâu hay tới đó chứ biết sao, giờ lo sống còn trước đã!

 Hai vợ chồng còn đang tính tới tính lui thì tiếng chuông điện thoại cầm tay reo vang. Anh Hòa bắt máy thì nghe tiếng anh Bảy Bá:

- A lô, Hòa đó hả? Anh Bảy đây! Mai bọn anh về quê, anh không giúp gì thêm được nữa, em cũng tính đường đi!

 Hòa bần thần:

- Cảm ơn anh đã giúp bấy nay, giờ anh về quê chúc anh bình an đi đến nơi về đến chốn. Tụi em cũng tính dọn về quê nhưng ngặt cái xóm em bị phong tỏa gắt, nội bất xuất ngoại bất nhập nên không thể đi được.

- Chỗ anh cả xóm ùn ùn kéo về quê, giờ có bám lại cũng không còn tiền để sống, không nghề để làm. Dịch như vầy biết bao giờ mới hết? Em có gì cứ nhắn tin anh, anh giúp được gì trong khả năng thì anh giúp.

- Dạ, cảm ơn anh.

 Bốn giờ sáng, trời còn tối mịt, những ngọn đèn vàng vọt trong hẻm tỏa ra ánh sáng yếu ớt trầm lắng. Vợ chồng Bảy Bá nai nịt gói ghém toàn bộ hành lý lên chiếc xe máy. Anh đèo chị, thằng Tí ngồi ở trước, thằng Tô ngồi giữa hai vợ chồng, trông thật tài tình làm sao, cứ như làm xiếc. Chiếc xe máy cồng kềnh nổ khìn khìn hòa với tiếng máy của những chiếc xe khác, cả đoàn người lần lượt rời khỏi con hẻm, dòng xe nối đuôi chạy ra đường lớn và hướng về phía cửa ngõ thành phố. Nếu sài Gòn ngày trước như một hấp lực, anh Bảy Bá đưa vợ và con lên thành mưu sinh, giờ rời bỏ Sài Gòn chạy trốn trong sự ngậm ngùi, ở lại lấy gì mà sống? Anh làm phụ hồ, chị bán hàng rong, ky cóp cũng đắp đổi được, nhưng từ khi dịch bùng lên, anh mất việc, hai tháng sau thì phong thành, chị buộc phải ngồi nhà. Giờ thì phải bỏ Sài Gòn mà đi, có mấy ai muốn rời đi đâu? Nhưng không đi thì lấy gì ăn? 

 Dòng xe máy khìn khìn nối đuôi nhau, xe nào cũng chất lỉnh kỉnh đồ đạc, treo máng hai bên, ràng buộc trước sau. Mọi người cố nhặt nhạnh đem về những món tài sản ít ỏi của mình. Đoàn xe chạy qua những con đường vắng tanh không một bóng người, không ít người ngậm ngùi thầm nói lời tiễn biệt Sài Gòn. Thỉnh thoảng vài chiếc xe nhà binh rọi đèn pha chói mắt, dù không thấy người trong xe nhưng ai cũng rờn rợn biết có những cặp mắt đang tăm tia họ. Những nhà dân hai bên đường cửa đóng then cài với nhiều lớp khóa. Bên này đường treo cao khẩu hiệu:” Mỗi nhà là một pháo đài chống dịch, mỗi người là một chiến sĩ chống dịch”, bên kia đường đối lại bằng một khẩu hiệu khác: ”Chống dịch như chống giặc, dùng tinh thần đánh đế quốc để chống dịch”… Đòan xe chạy ngang một chốt dân phòng, thấy năm bảy người lố nhố với dùi cui, roi điện, kẽm gai và trên nóc cũng chăng khẩu hiệu đỏ lòm, ngay cạnh đó là trụ sở ủy ban kín cổng cao tường, trên tường cũng trương khẩu hiệu, nơi nào cũng thấy khẩu hiệu. Anh Bảy nói giọng bực bội:

- Con bà nó! Chống dịch bằng tinh thần đánh Mỹ, vậy mà tiền Mỹ thì tươm tướp, hàng Mỹ thì mê, vắc xin Mỹ thì chích.

 Vợ anh ngồi sau lầu bầu:

- Vắc xin Mỹ mấy ổng chích, người nhà và bạn bè mấy ổng hưởng hết trơn. Vắc xin Tàu thì để cho dân. Em thà hổng chích chứ không thèm vắc xin Tàu!

- Ừ, chích vắc xin Tàu không chừng lợi bất cập hại.

- Ăn ở gì lạ quá, mở miệng ra là chửi, xúi đàn em chửi vậy mà tiền đô nhét đầy túi, mở tài khoản ở bển để tuồn của cải, con cháu cài cắm lót ổ ở bển.

- Đời nó chó má vậy! Chỉ tội tụi lon ton thằn lằn cắc ké cuồng mà hổng được gì, cùng lắm thì được chút tiền bồi dưỡng.

 Đoàn xe xóm trọ anh Bảy đến ngã tư Hàng Xanh thì gặp nhiều đoàn xe khác từ các hướng cùng tụ về, từng dòng xe hòa nhập thành một đoàn dài chạy về hướng ngoại thành. Những con người khốn khổ rời Sài Gòn, rời khỏi mảnh đất trù phú từng mơ ước để mưu sinh. Nếu lúc trước lên Sài Gòn để sinh sống thì giờ chạy trốn Sài Gòn vì sự sống còn. Xe chạy được bốn tiếng thì thằng Tí than vãn:

- Ba, com đau đái!

 Thằng Tô ngồi giữa anh và chị cũng kêu:

- Con đói bụng quá mẹ ơi!

 Anh Bảy dỗ ngọt:

- Ráng chút nữa đi con. Chạy thêm chút xíu nữa lựa chỗ trống trải để nghỉ ăn sáng luôn.

 Chạy thêm một tiếng nữa thì hai đứa lại nhắc, anh Bảy tấp vào bên lề đường cho hai đứa đi tiểu và nghỉ chút để ăn sáng. Những chiếc xe khác cũng tấp vào nghỉ, nhìn quanh có khoảng chục gia đình ngồi rải rác, trong khi ấy dòng xe chạy dịch vẫn nối đuôi dài bất tận trên đường. Anh Bảy làm quen, hỏi người đàn ông kế bên:

- Anh chị về đâu?

Người ấy bảo:

- Tui về Huế, bạn tui về tuần trước rồi, tui ráng cầm cự xem thử có trợ cấp giúp đỡ gì không, giờ thì tuyệt vọng nên phải về thôi! Tui nghe phong phanh dường như họ bắt đầu ngăn chặn không cho dân về nữa. Tui không biết sao, cứ đi, tới đâu hay tới đó, giờ ở lại cũng chết mà đi cũng không xong.

 Anh Bảy tâm sự:

- Tui làm phụ hồ, mất việc mấy tháng rồi, vợ cầm cự đến nay thì kiệt, đành về Quảng Ngãi, anh làm gì trong đó?

- Tui làm công nhân lắp ráp trong một xưởng máy, xưởng cho nghỉ cả tháng nay, vợ cũng làm chung, cả hai thất nghiệp!

Anh Bảy nói thêm:

- Mình về còn đỡ, mấy đứa em và bạn kẹt ở khu cấm túc, không thể ra vô nên đâu về được, mà ở lại thì...chẳng còn gì ăn, thế mới chết chứ! Đúng là đi cũng dở ở không xong.

 Đột nhiên người đàn ông gốc Huế giận dữ:

- Chúng nó ột dột quá, chống dịch thì đúng rồi nhưng chống bằng cách triệt đường sống của dân thì ngu xuẩn máy móc quá! Dân chưa chết vì dịch đã điêu đứng vì sinh kế. Các nước họ lo cho dân, phát lương thực, trợ cấp tiền bạc chứ đâu có cái kiểu sống chết mặc bay như vầy!

Một người cũng kế bên, giọng Đà Nẵng góp lời:

- Chống dịch cứng nhắc, họ coi mình như cỏ rác, sống chết mặc bay, chống kiểu này dịch vẫn cứ tăng hàng ngày.

 Một người khác giọng Bình Định:

- Họ chống dịch bằng cách cấm chợ ngăn sông, không cho dân mua bán nhưng siêu thị của nhóm lợi ích thì được bán, bán với giá mắc, dân thiếu ăn mặc kệ!

 Một giọng khác nói xen vào, không rõ giọng miền nào, có lẽ lưu lạc đã lâu nên chất giọng đã pha trộn nhiều âm sắc:

- Ở sài Gòn thiếu thực phẩm, zậy mà nghe nói miền tây hàng trăm ngàn tấn gạo, thủy sản, rau ùn ứ. Đà Lạt hàng chục ngàn tấn hoa quả phải đổ bỏ, tại sao không cho xe hàng chở về Sài Gòn? Phong thành kiểu này thì chết hết dân nghèo.

 Người đàn ông gốc Huế rầu rĩ:

- Ột dột lắm anh ơi! Họ mà biết nghĩ như anh thì dân đỡ khổ, không chừng chúng ta còn bám trụ được ở Sài Gòn.

 Chị Bảy nãy giờ lặng im, chợt than:

- Nghe nói có tỉnh chốt chặn, không cho dân về vì họ sợ lây dịch, liệu mình về có được không?

Anh Bảy chán nản:

- Giờ thì không còn lựa chọn nào khác, tiến lui đều không có cửa, cứ liều vậy, tới đâu hay tới đó!

 Mọi người nghỉ xong vội vàng xốc lại xe máy để tiếp tục lên đường về nhìn kim đồng hồ trên xe máy, anh Bảy nói một mình:

- Chạy bốn lăm đến năm mươi cây số giờ kiểu này chắc phải mất ba ngày mới tới nhà.

 Dòng xe máy trên đường dài ngút  tầm mắt, không thấy điểm đầu cũng như điểm cuối, những bảng số xe cho biết hầu như các tỉnh đều có mặt. Người nào cũng trùm kín mít, nón bảo hiểm, áo dài tay che nắng gió, có người còn mặc cả áo mưa bằng nylon, tất cả chăm chăm hướng về phía trước, dù rằng phía trước lành dữ ra sao chưa đoán được, giờ chỉ một lòng về quê mà thôi! 

 Mười giờ sáng, dòng xe chạy ngang qua một thị trấn nhỏ bên đường cái quan, nhiều người giảm tốc độ rà rà ghé vào một cái quán để nhận chai nước và một phần ăn. Một cụ già và một cô cháu gái đứng phát tặng cho những người chạy dịch. Anh Bảy cũng ghé vào nhận lấy phần quà tặng của người dân xa lạ nhưng tốt bụng từ tâm. Anh thắc mắc với vợ:

- Dòng người dài dằng dặc như vầy, liệu cụ già và cô bé kia có đủ quà để phát?

 Chị Bảy lặng thinh, không biết vì không nghe thấy hay nghe mà trong lòng ẩn nhẫn không biết nói ra sao?  Lúc này mặt trời đã oi bức lắm rồi, chạy thêm chừng hai tiếng nữa thì cái nắng, từ trên đầu dội xuống, sức nóng từ mặt đường bốc lên, cái nóng bít bùng trong mũ bảo hiểm tỏa ra, sự ngột ngạt từ miếng khẩu trang bịt miệng mũi… Anh Bảy như muốn nổ tung, mồ hôi trin trỉn cả người. Người lớn còn câm nín chịu đựng, thằng Tô khóc nhè nhè, bức tóc bức tai, khóc mệt thì ngủ lịm đi, thằng Tí ngồi phía trước hứng gió táp vào mặt, tuy cũng nóng bức nhưng nó đủ nhận thức để hiểu chuyện nên không mè nheo như thằng Tô. Dòng xe máy riết róng chạy về phía trước, bỏ Sài Gòn lại sau lưng, cứ chạy thôi, còn lành dữ ra sao thì chẳng ai biết. Mọi người rời Sài Gòn chẳng qua là bất đắc dĩ, chẳng ai muốn rời bỏ nơi dễ mưu sinh nhất ở xứ sở này. Dòng xe dòng người như chạy giặc tị nạn  giữa thời bình, những người  đã tìm đến sài Gòn để lập nghiệp, kiếm sống giờ phải chạy trốn. Sài Gòn giờ nhìn đâu cũng thấy dịch, nhìn ai cũng như nguồn lây bệnh. 

 Trời nắng như đổ lửa, anh Bảy tách khỏi dòng xe trên đường, tấp vào một gốc cây bên vệ đường để nghỉ và ăn chút gì lót dạ. Nhiều người thấy thế cũng tự động tấp theo vào. Gặm cái bánh mì thịt bỏ trong ba lô bị dẹp lép, anh ăn ngon như chưa bao giờ được ăn. Chị Bảy lấy thức ăn cho hai đứa con và cùng ăn với chúng, Ăn xong ai nấy tự động nằm thẳng ra đất cho cái lưng đỡ mỏi, bây giờ chẳng còn khái niệm sạch dơ bụi bặm gì nữa. Sau khi nghỉ ngơi lại sức, dòng xe lại tiếp tục chạy về miền trung, mảnh đất nghèo khó nhiều thiên tai và cả nhân tai. Miền trung được bọn văn sĩ, thi sĩ ví như cái đòn gánh, lại có kẻ ví như khúc ruột… Dù gì thì nó cũng từng là cái nôi của nhiều nền văn minh cổ của quốc gia này, nào chỉ là văn minh tộc Việt, còn nhiều tộc người khác trước cả tộc Việt rất lâu. Miền trung mang nhiều vết thương lòng, năm xưa khói lửa chiến chinh, dòng người ùn ùn di tản kéo về nam, chạy về Sài Gòn để tránh giặc, nào ngờ mấy mươi năm sau người ta lại lũ lượt bỏ chạy khỏi sài Gòn để tránh dịch. Không biết cái nghiệp gì mà những người con của tộc Việt đau khổ không thế này? Bao nhiêu khổ nạn vận vào họ, những dòng người xưa nay tơi tả chạy ngược chạy xuôi, ai dám bảo tương lai sẽ không còn chạy? 

 Dòng người lặng thầm chạy về phía trước, chỉ có tiếng xe máy khìn khìn, phành phạch khuấy động cái nóng, kích thích cái nóng trên đường. Cứ chạy như thế cho đến khi tối mịt mùng, nhiều tốp tấp vào bên đường, dùng ánh đèn xe máy để ăn uống, những gói mì khô khốc, những cái bánh mì xẹp lép dai nhách, những gói cơm nguội… bị những người đang đói bụng ăn ngấu nghiến một cách ngon lành, rải rác quanh đó có nhiều người mệt quá nằm ngủ thiếp đi. Chị Bảy gối đầu lên cái ba lô, trong ấy còn một ít tiền và nữ trang, đó là tất cả sự sống còn cho những ngày sắp tới, chị ôm thằng Tô ngủ một giấc ngủ chập chờn mộng mị. Anh Bảy Bá cẩn thận hơn, anh buộc chân vào bánh xe máy, phòng khi ngủ say bị  trộm dắt xe thì biết, có lẽ bản tánh người trung là vậy, tuy nhiên trong lúc này thì sự cẩn thận ấy cũng thừa. Không một thằng ăn trộm nào dám bén mảng đến dòng người chạy dịch đông đúc như thế này! Anh Bảy cẩn thận, đề phòng là vậy, nhưng với chiếc xe máy hay những cái nhỏ nhặt chứ còn những việc lớn như sinh mệnh anh và gia đình, sự sống, sinh kế… thì hoàn toàn định đoạt bởi người ta. Mà nào chỉ có anh, hàng triệu người ở xứ sở này cũng đều bị như thế cả. Anh Bảy và dòng người lên Sài Gòn kiếm sống và rồi chạy dịch cũng vì sự sống, cuộc sống đẩy đưa, dòng đời đưa đẩy như bèo dạt mây trôi.


TIỂU LỤC THẦN PHONG

Ất Lăng thành, 08/2021

 

Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
Tôi rất thích bút danh "Hoàng Thị Cỏ May" mà chị Phi Loan dùng cho những bài thơ của chị, nhưng chưa có dịp hỏi chị tại sao chị lại chọn tên này. Hình ảnh "Cỏ May" gợi lên sự mộc mạc, bền bỉ, mang nét đẹp bình dị và phảng phất nỗi buồn quê hương và có lẽ đó là lý do chị thích cái tên này.
Thưa, chuyện là sư cô Chân Hiếu xuất gia đã hơn 10 năm với sư bà Huệ Chơn, một ngày kia cô thấy xa gia đình đã lâu, cô có ý muốn xin phép sư thầy về thăm mẹ già đã cả năm cô chưa gặp lại. Rồi được phép, cô về gặp mẹ, mẹ con mừng mừng tủi tủi hội ngộ, rồi cũng trong một buổi đó, hàn huyên vui vầy, nhân lúc vui vui câu chuyện mẹ mẹ con con. Bà mẹ già đã ngoài 80 tuổi, có lúc nhớ nhớ, có lúc đã quên quên ít nhiều.
Không có phương pháp tu hành nào giúp tìm ra câu trả lời, nỗi băn khoăn của thầy cứ kéo dài và tâm thầy hơi xao động. Không phải thầy nảy sinh ý nghĩ bất tịnh gì. Thầy chỉ tò mò thôi.
Chỉ có giữa nhà mình với nhà con hay mang thức ăn sang cho nhau mà tự dưng mất một cái nắp nồi. Tìm mãi cả hai bếp vẫn không ra. Chị của Nhàn bảo, cứ đo cái miệng nồi rồi ra tiệm Goodwill, cái gì cũng có hết. Nhàn nghe chị, đi Goodwill vào ngàyThứ Sáu, vì nghe nói Thứ Sáu lại được bớt 20% cho người trên 60 tuổi (Nhàn cười, nói khẽ một mình: 60 tuổi à? Dư sức qua cầu!)
Anh và tôi làm chung hãng với nhau khá lâu, rất thân, vừa là đồng nghiệp, vừa người Huế đồng hương. Một hôm anh mời đến nhà chơi. Nhân đang lúc rảnh rỗi bàn luận thế sự, tôi để ý trên bàn thờ nhà anh có treo bức tranh vẽ một ông quan đội mão rất uy nghi. Anh giới thiệu đó là ông Tổ nhà anh. Tôi tò mò hỏi cụ làm chức chi trong triều? Anh không trả lời, hỏi lại học sử có nhớ việc dưới triều nhà Nguyễn vua Thiệu Trị bỏ trưởng lập thứ là vua Tự Đức? Tôi nhớ có học điều đó, nhưng không biết gì thêm nữa. Anh trịnh trọng nói vị hoàng tử con trưởng vua Thiệu Trị đáng lẽ phải được chọn làm vua đó là: An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là người trên bức chân dung đó. Và anh chính là hậu duệ của An Phong Công Hồng Bảo.
Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.
Sau một đêm lênh đênh trong vùng biển Aegean, thuộc lãnh hải của Athens, Greece, khi vầng đông vừa ló dạng, phía chân trời ửng một màu cam sáng rực rỡ, du thuyền MSC Lirica vừa cặp vào bến cảng Izmir, miền trung của Turkey. Trên tàu, hành khách ai nấy đều ăn sáng thật nhanh để chuẩn bị xuống tàu. Đây là điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến hải hành bảy ngày quanh vùng biển Aegean, Địa Trung Hải, bắt đầu bằng đất nước Hồi giáo từng một thời oanh liệt dưới bóng cờ Đế quốc Ottoman. Đúng 09 giờ sáng, cầu tàu được thả xuống, mọi người phấn chấn sau một đêm ngủ ngon, sẵn sàng đi bộ vào trung tâm thành phố cách đó khoảng 30 phút đi bộ. Thành phố này không có gì đặc biệt để tham quan, nên chúng tôi thả bộ men theo con đường lót đá dọc bờ biển, tha hồ hít thở khí trời trong lành sau 4 ngày ngột ngạt ở Athens đầy khói xe, khói thuốc lá.
Chúng tôi ngồi, không nói gì với nhau nữa, cả hai cùng đăm chiêu nhìn xuống dòng kênh Đôi chảy lờ lững với những đám bèo giạt bám vào bờ, vào chân cây cầu sơn màu đỏ phía xa xa. Nơi chúng tôi ngồi là một khu dân cư mới thành hình khoảng hai chục năm nay, một khu dân cư đẹp vì thiết kế mới, những con đường cắt nhau vuông vức, các mảng cây xanh bên cạnh những căn nhà cấu trúc mới và đẹp...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.