Hôm nay,  

Tản Mạn Về Từ “Tấm Mẳn”

10/01/202213:25:00(Xem: 6089)

Tản mạn


nambo-country 

“Tấm mẳn” vốn xuất phát từ Nam bộ, thuở người Việt tìm xuống phía Nam mở cõi... Thuở ban đầu, lúc chưa khai phá, gạo thóc khó khăn, người ta phải gom những hạt gạo gãy, bể thay vì để nuôi gia súc, lại để dành nấu cơm ăn sáng. Hạt gạo đó được gọi là “tấm”, tức hạt gạo khi sàng, giã bị bể đôi hay gãy nát, và người ta cũng có thể hiểu là gạo tấm là hạt gạo bị lọt xuống giần, sàng... Riêng từ “mẳn”, theo Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Paulus Của và tự điển Tiếng Việt thì có hai nghĩa là: hạt gạo gãy nát và hơi mặn (vị), suy diễn thêm còn có nghĩa “người hẹp hòi” và “món canh nấu mặn”! Gọi người “mẳn tính” là người hẹp hòi hay để bụng những điều nhỏ nhặt”? Đó cũng là những từ Nôm mà người đi khai hoang mở cõi thường dùng, đến nay cũng đã dần bị mai một và thuộc từ “cổ” hay bản ngữ, ít người sử dụng.

 

Tuy nhiên về món ăn, gạo tấm thì cũng đã phổ biến trên khắp Nam kỳ lục tỉnh, nhiều nơi coi đó là đặc sản với tên gọi là “cơm tấm mẳn” như ở Long Xuyên, Cần Thơ... Cơm được nấu với gạo tấm nhuyễn, chan mỡ hành, và bỏ bì, thịt heo nướng thái nhỏ, trứng vịt khìa nước dừa cũng xắt nhỏ, một ít dưa chua và cả cà chua, dưa leo xắt nhỏ, là món ăn sáng, thơm ngon và chắc bụng của người bình dân, được nhiều người ưa thích. Món ăn sáng lót bụng song nhiều lúc cũng thành món... ăn trưa, ăn tối khoái khẩu của những người bận bịu!

 

Không chỉ là để chỉ món ăn, từ “tấm mẳn” cũng được ghép thành “Tình tấm mẳn” như trong truyện ngắn của nhà văn Bình Nguyên Lộc có đoạn đối thoại: “Vợ anh là tình tấm mẳn mà anh còn bỏ được thì tôi sau này sẽ ra gì?”  Hay như “Người vợ tấm mẳn” trong thơ của Thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà.

 

Vậy “Người vợ tấm mẳn” có nghĩa là gì? Phần đông người trẻ bây giờ nghe thấy... lạ, rồi hiểu là “người vợ... hẹp hòi”, chi li, tính toán, để bụng từ chuyện nhỏ! Quả thật là rất oan cho “Người vợ tấm mẳn”, người đã được các nhà văn, nhà thơ Nam bộ xưa luôn cổ vũ và ca tụng. Nếu như từ xa xưa, ông bà ta thường truyền tụng nhau câu:

 

“Tào khang chi thê bất hạ đường

Bần tiện chi giao mạc khả vong”

 

có nghĩa là: Vợ chồng lấy nhau từ lúc khổ cực, chẳng nên bỏ. Bạn bè kết giao từ thuở hèn, không nên mất. Từ đó mà có từ “người vợ tào khang”. Tào khang nguyên gốc là từ Hán, có ý nghĩa: Tào là bã rượu hay còn gọi là hèm, khang là trấu hay còn gọi là cám gạo. Những thức ăn dành cho heo, nhưng người nghèo khổ cũng có thể dùng làm thực phẩm, giống như tấm mẳn. Phải chăng cha ông xưa, trên bước đường đi mở bờ cõi cũng muốn tách xa cái gốc từ ngữ bị Hán hóa, mà chọn ra các chữ Nôm có ý nghĩa tương đồng để gọi những người vợ hiền được cưới hỏi trong lúc còn nghèo khó là “người vợ tấm mẳn”, hay những mối tình trong lúc hàn vi, cơ nhỡ là “tình tấm mẳn”. “Vợ tấm mẳn” được đặt ngang hàng và cùng nghĩa với “vợ tào khang” thể hiện rõ sự tự chủ của cha ông thời mở cõi.

 

Tiếc thay, trong cuộc sống của người dân, cụm từ “tấm mẳn” lại không thấy đưa vào ca dao, tục ngữ, là vốn văn hóa bình dân lẫn bác học của dân tộc Việt, nên ít người biết và hiểu cặn kẻ về người “vợ tấm mẳn”, trong khi có thể giải thích được ý nghĩa của người “vợ tào khang”!

 

Dầu sao một thời, ông bà ta đã sống và trân trọng với những từ “tấm mẳn”, “người vợ tấm mẳn”, để xây dựng cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, lâu dài và truyền lại cho con cháu cho đến ngày nay.

 

– Trần Hoàng Vy

Xíu tiếp tục cuộc hành trình bất tận của mình, đừng tưởng Xíu chơi hoang hay đi rông, phiêu bạt giang hồ vô tích sự. Chính sự lang bạt kỳ hồ của Xíu và anh em nhà Xíu đã đem lại mưa thuận gió hòa, đem lại nguồn sống cho loài người và vạn vật muôn loài. Lần này Xíu quay về lại góc Đông Nam Á châu, nơi có dòng sông thiêng liêng chảy qua.
Tôi không phải là thi sĩ, nhưng chắc cũng giống như những thi nhân của đất Việt, thường gửi gấm tâm tình u uất vào những vần thơ của mình. Những bài thơ viết xong, tôi cặm cụi chép vào nhật ký, xen vào những lời than thân trách phận, hờn mây khóc gió. Cuốn nhật ký, tôi cất kỹ trong ngăn kéo ở cái table de nuit cũ kỹ bên cạnh chiếc giường nhỏ trong phòng ngủ. Cũng may là má chưa lục ra đọc lần nào...
Cuối cùng, vợ tôi cũng đồng ý một cách vui vẻ cho tôi lấy vợ bé. Một hành động vượt ra ngoài quan niệm ái tình nghiêm túc của bà. Vợ bé tên Hà, do vợ lớn đặt. Tên khai sinh của Hà là Đỗ thị 451. Vợ lớn nói, số này hên, cộng lại là 10. Hà lai Ái Nhỉ Lan. Ở lứa tuổi gần ba mươi, chưa lấy chồng, không có con, một thân hình phước đức cho bất kỳ người đàn ông nào, sáu mươi bảy tuổi, như tôi.
Kế hoạch của anh ấy thật là hợp lý: anh ấy sẽ giấu tôi phía sau cốp xe Austin-Healey, một chiếc xe dạng rất thấp mà anh vừa mới mua bên Áo và đã tháo kính che gió ra. Chúng tôi chỉ cần đi qua bên dưới rào chắn, trong khi mấy tên cảnh sát nhân dân Vopo*2/ thì bận lo kiểm tra giấy tờ như thường lệ. Rolf đã tính toán nhiều lần, tính đi tính lại, anh lại còn xì bớt hơi các bánh xe: như thế cái xe sẽ không vượt quá 90 cms bề cao. Anh chỉ cần cúi đầu xuống, nhấn mạnh vào cần tăng tốc, thế là chúng tôi sẽ qua bên kia địa phận đất Mỹ! Một "bờ thành" nhỏ làm bằng gạch sẽ bảo vệ tôi khỏi những lằn đạn có thể xảy ra. Và rồi sau đó là tự do...
(Viết cho bằng hữu tháng tư 1954. Chúng tôi 300 thanh niên trình diện trại Ngọc Hà động viên vào Đà Lạt cùng hát bài ca Hà Nội ơi, năm 20 tuổi chưa từng biết yêu. Sau 21 năm chinh chiến, tháng tư 75 khóa Cương Quyết hát tiếp. Bao nhiêu mộng đẹp, tan ra thành khói, bay theo mây chiều. Ngày nay, tháng 7-2024 vào nursing home thăm bạn cùng khóa. Ba anh bạn đại tá lữ đoàn trưởng mũ xanh mũ đỏ cùng đại đội võ bị ra đánh trận Quảng Trị chỉ còn Ngô Văn Định. Ghé lại bên tai nghe Định hỏi nhỏ. /Bên ngoài còn mấy thằng,/ Còn liên lạc được 4 thằng. Ngoài 90 cả rồi.Tôi báo cáo./ Thằng Luyện mới đến thăm./ Định nói./ Luyện nhảy Bắc 21 năm biệt giam mà còn sống. Hay thật./ Tôi nói./ Bạn yên tâm. Ngoài này còn thằng nào chơi thằng đó./ OK bạn còn sống lo cho anh em.)
Năm Giáp Ngọ 1954 có thể gọi là năm đại diện cho tuổi thơ tôi. Chỉ trong một năm 1954 đã có quá nhiều biến cố xảy ra dồn dập trước mắt chú bé mười hai tuổi mà suốt trong đời chưa có thời điểm nào đặc biệt như vậy...
Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.