Hôm nay,  

Kéo Pháo Ra?

31/03/202219:57:00(Xem: 6556)

Lịch sử quân sự

dbp 2


Nhân ngày tang của đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhật trình cánh tả Le Monde số ra ngày 4 tháng 10-2013 đăng bài “Anh hùng của nền độc lập Việt Nam đã chết” (Le général Giap, héros de l'Indépendance vietnamienne, est mort) của ký giả thân Cộng Jean-Claude Pomonti từng bị chính phủ VNCH và Hoàng gia Miên trục xuất. 


Năm 2004, Pomonti quay lại Hà Nội và thực hiện phỏng vấn Võ Nguyên Giáp. Pomonti ghi trong bài viết: 


“Giáp say mê Nã Phá Luân và trong tất cả những chiến thuật của Bonaparte, Giáp giữ lại yếu tố bất ngờ. Trước sự ngạc nhiên của chúng tôi, Giáp kêu lên: ‘Việc Bonaparte đào thoát khỏi đảo Elbe về đất liền cầm quân, là tuyệt vời!’ Giáp muốn nhắc đến việc vua Louis XVIII gửi ngự lâm quân chặn bắt Nã Phá Luân nhưng rồi đạo quân ấy đã theo hoàng đế. Một nháy mắt của Giáp về sự trung thành của các tướng lĩnh đối với chính mình. […] Giáp còn là một thiên tài tiếp vận. Một ngày, Giáp nhắc lại với chúng tôi phương châm mà Bonaparte vận dụng khi hành binh sang Ý: ‘Nơi nào một con dê chui qua, một người lính có thể vượt qua. Nơi nào một người lính có thể đi qua, một tiểu đoàn có thể hành quân.’ Giáp nói tiếp: ‘Ở Điện Biên Phủ, để cung cấp 1 ký gạo cho bộ đội đang vây cứ điểm, dân công tiêu thụ 4 ký trong lúc vận chuyển. Chúng tôi đã dùng 260,000 dân công, 20,000 xe đạp, 11,800 bè gỗ, 400 xe vận tải Molotova và 500 ngựa.’ Dưới sự che chở của rừng rậm, đại bác Việt Minh đã được tháo rời từng cơ phận để mang lên các ngọn đồi nhìn xuống lòng chảo, rồi ráp lại.” [1]


Là ghi chép của Jean-Claude Pomonti.


Với những ai quan tâm chiến tranh, nếu đã có một thiên tài quân sự, thì thiên tài đó phải là Trần Đăng Ninh, tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần Việt Minh đã cung cấp vũ khí, thuốc men, đạn dược, lương thực cho quân đoàn tác chiến chủ lực Việt Minh trong suốt 9 năm chiến tranh, không bao giờ thiếu, bất kỳ địa hình trận đánh. Một Trần Đăng Ninh mà trong hồi ký Võ Nguyễn Giáp không một lời tri ân. Trừ phi… chính các cố vấn Tàu: trung tướng Vu Bộ Huyết (于步血) tổng cục Hậu cần, chủ nhiệm quân nhu-quân dụng, thiếu tướng Mã Tây Phu (马西夫), tổng cục tài chính-lương thực, thiếu tướng Lý Học Thư (李学书) quản lý vật tư … phụ trách và làm hết?  


Trên các trang sử Quân đội Nhân dân, thường xuyên số dân công được ghi 25,000. Phía Pháp ước tính 70,000 cho trận Điện Biên. Lần đầu tiên Võ Nguyên Giáp thừa nhận sử dụng 260,000 dân công. Cưỡng bách hay tình nguyện? Những ai sống trong Nam sau 75 biết rõ: mỗi hộ, mỗi tổ dân phố phải cắt cử người đi lao động XHCN cho đủ chỉ tiêu Phường-Quận. Vào thời chiến, chắc chắn là một bắt buộc trong những vùng “giải phóng”.


Phần quan trọng trong tường thuật của Pomonti là câu hỏi về việc kéo pháo ra khỏi thung lũng, lui ngày tấn công đã ấn định 25 tháng 1 sang 13 tháng 3-1954. Võ Nguyên Giáp trả lời bằng Pháp văn: “Le chef de nos conseillers chinois s’était prononcé pour une attaque rapide. Je donne l’ordre de retirer les troupes, y compris l’artillerie. La décision la plus difficile de ma carrière de commandant en chef.” (Cố vấn trưởng Trung quốc muốn đánh nhanh. Tôi ra lệnh rút quân ra, kể cả pháo binh. Là quyết định khó khăn nhất trong binh nghiệp Tổng chỉ huy của tôi.)  


Trong chương Quyết Chiến Điện Biên Phủ, đăng trong Thượng Tướng Phong Vân Lục, Nxb Đại Bách Khoa Toàn Thư năm 2000, Vương Chấn Hoa (王震华) cho một phiên bản khác: Chính Vi Quốc Thanh (韋國清), cố vấn trưởng Trung cộng, lấy quyết định hoãn tấn công và thay đổi phương thức đánh nhanh, thọc sâu, giải quyết chiến trường “nở hoa từ trung tâm” bằng cách áp sát, “bóc măng” từng lớp. [2]


Đâu là sự thật?


Đa phần sự thật không nằm trong những lý lẽ mà Võ Nguyên Giáp cũng như Vi Quốc Thanh viện dẫn, và một cách trùng hợp cả hai cùng viện dẫn chung những lý lẽ: Quân đoàn Tác chiến Việt Minh chưa chuẩn bị đủ; cần đưa sư đoàn 308 sang đột phá Thượng Lào để Navarre phải phân tán binh lực; các đại đoàn trưởng chưa tin chắc thắng. Các lý lẽ này ít đứng vững. Trước mỗi chiến dịch, Việt Minh đều rèn quân chỉnh cán, chiến sĩ và cán bộ chỉ huy đều phải học tập thông suốt đường lối chỉ đạo, thấm nhuần ý chí quyết thắng cũng như tuyệt đối tin vào đường lối đúng đắn của Đảng. Không được quyền băn khoăn, vì sẽ bị xem là “dao động”, chưa “giác ngộ”, còn “hữu khuynh”, chưa gột rửa tinh thần tiểu tư sản ngại gian khổ. Chưa “quyết tâm phấn đấu”… Trên mặt quân sự, với 5 sư đoàn chính quy 304, 308, 312, 316, 351 cộng thêm trung đoàn độc lập 148 lên đến 60,000 lính, Việt Minh chiếm ưu thế tuyệt đối về quân số. Binh lực Pháp đã bị phân tán trước đó, không cần sư đoàn 308 đánh Thượng Lào, vì Navarre đã huy động toàn bộ tổng trừ bị tái chiếm Phú Yên-Bình Định cho chiến dịch Atlante đang diễn ra. Quân đồn trú Điện Biên Phủ không hề giảm đi sau khi sư đoàn 308 sang Lào.


Lui ngày tấn công, như thế không thay đổi chung cuộc. Với công sự không đủ sức chịu pháo, không đường bộ tiếp tế, khả năng không trợ kém, mười ngàn binh sĩ Liên hiệp Pháp tại Mường Thanh không có lối thoát giữa rừng núi vây bọc. 


Nhưng như vậy, thì vì sao Võ Nguyên Giáp và Vi Quốc Thanh bất ngờ lui tấn công một tuần trước khi khai trận? Lui tấn công còn cho de Castries thêm thời gian củng cố chiến lũy. Vì sao?


Chính vì Hội nghị Bá Linh bắt đầu ngày 25 tháng 1-1954, là ngày ấn định khai chiến ban đầu. Anh, Pháp, Nga, Hoa-Kỳ ngoài bàn đến vị trí của Đức sau thế chiến, còn tìm cách giải quyết “vấn đề Đông Dương”. Nga-Sô yêu sách thành công sự tham gia của Trung cộng trong vòng đàm phán thứ nhì sẽ diễn ra vào tháng 4-1954 tại Genève. Chính đây mới là nguyên nhân lui tấn công sang giữa tháng 3 của Võ Nguyên Giáp (hoặc Vi Quốc Thanh). Chính từ lúc này Bắc Kinh sẽ gia tăng viện trợ tối đa cho Việt Minh để Chu Ân Lai đến Genève trong thế thượng phong. 

blank

Mô hình tái hiện cảnh Việt Minh kéo pháo vào trận địa.
(Bảo tàng Chiến thắng Lịch sử Điện Biên Phủ).

 

Nếu chiến tranh là cánh tay nối dài của chính trị, như Clausewitz định nghĩa, và với ai am hiểu tổ chức của các quân đội Cộng sản từ Nga sang đến Tàu rồi Việt Minh, thì một quyết định ngưng ngang quan trọng như vậy phải do Mao gửi công điện cho Vi Quốc Thanh hoặc Hồ Chí Minh yêu cầu Võ Nguyên Giáp trì hoãn. Cá nhân Võ Nguyên Giáp không thể lấy một quyết định ảnh hưởng đến cục diện cuộc chiến mà không thông qua Tổng bí thư kiêm Tổng quân ủy trung ương là Trường Chinh lúc đó. Nhưng vì sao đã ngưng ngang?


Vì cả Mao và Hồ Chí Minh đều muốn biết kết quả hội nghị Bá Linh diễn ra cuối tháng Giêng. Cả hai không muốn dốc hết vốn liếng vào một canh bạc. Chu Ân Lai phải có mặt ở Genève thì Điện Biên Phủ mới nặng nghìn cân, ngược lại, chỉ là một trận đánh như trận Nà Sản trước đó. 

Cho đến khi ấy ngoài khối Cộng sản, Trung cộng chưa được công nhận như một quốc gia Trung Hoa mà vị thế chính thức là Đài Loan. Chiến tranh Cao Ly khiến Bắc Kinh bị cô lập. Một mình Nga-Sô sau “băng hà” của Stalin không đủ sức nặng. Sự có mặt của Chu Ân Lai mới làm lệch cán cân. Tầm quan trọng của Hội nghị Bá Linh là đây. Bắc Kinh phải có tiếng nói, sức áp đảo trên trường quốc tế thì những chi viện cho Việt Minh mới đáng công, đáng của. 


Trước Bá Linh, quân viện cho Việt Minh bằng người, ngựa, lừa. Sau Bá Linh là hàng đoàn xe Molotova từ Hà Khẩu (Vân Nam) sang Lào Cai rồi xuống đến tận Tuần Giáo chỉ cách Điện Biên Phủ 70 cây số. Anh hùng Tô Vĩnh Diện và xe đạp Peugeot chỉ “thi công” vận tải từ binh trạm Nà Nhạn, trên 20 cây số cuối cùng. 


Trước Bá Linh, Mao và Hồ Chí Minh “chắc thắng” nhưng ý thức sẽ hao tổn binh lính. Vì Điện Biên mạnh gấp đôi Con Nhím Nà Sản mà tại Nà Sản, cả hai sư đoàn 308 của Vương Thừa Vũ và 312 của Lê Trọng Tấn đều “thất thu”. Không đột phá. Chịu tiêu hao. Tại Điện Biên, giá “mạc chược” phải cao hơn. 


Dốc hết túi vào một canh bạc khiến Mao cân nhắc. Một chiến thắng phải có tầm ảnh hưởng chính trị, phải là tiếng sấm rền trong chính giới quốc tế có quyền định đoạt vận mệnh Đông Dương, thì mới thích đáng. Là lý do cho việc kéo pháo ra của Võ Nguyên Giáp. Có nghĩa, khi ấy, Cộng sản chưa quyết đánh. 

 

Hội nghị Bá Linh khai mạc 25 tháng 1-1954 và kết thúc ngày 18 tháng 2-1954. Trên trang Báo Điện tử của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong bài "Kéo Pháo Vào, Kéo Pháo Ra - Quyết Định Khó Khăn Nhất!", viết: “Thực hiện quyết định của Bộ Chỉ huy chiến dịch, ngay từ chập tối ngày 26-1-1954, lực lượng pháo binh của ta đã đồng loạt tiến hành rút khỏi trận địa. […] Với những nỗ lực và quyết tâm của bộ đội pháo binh, mờ sáng ngày 5 tháng 2-1954 (tức mùng 3 Tết âm lịch), khẩu pháo cuối cùng đã được kéo về vị trí tập kết, nhiệm vụ kéo pháo ra đã hoàn thành thắng lợi.”  


Như thế, dân Việt hôm nay biết tiến trình kéo pháo ra bắt đầu ngày 26, một ngày sau hội nghị Bá Linh khai mạc. Nhưng rồi sau đó, sau “thắng lợi đàm phán Béc-lin” thì kéo pháo lên núi trở lại lúc nào? Quân đội Nhân dân không nhắc đến.

blank


Trên trang web
ANTV - Truyền hình công an nhân dân, bài “Con đường kéo pháo huyền thoại trong chiến dịch Điện Biên” đăng ngày 7 tháng 5-2019 nhân kỷ niệm 65 năm Điện Biên Phủ, viết: “Cho đến hôm nay, cựu chiến binh Phạm Đức Cư, một chiến sỹ của Trung đoàn 367 pháo cao xạ năm xưa vẫn còn nhớ rõ từng con dốc, con đèo mà ông và những đồng đội đã gồng sức, gồng mình đưa pháo qua. Sau 9 ngày đêm, lực lượng của ta đã đưa pháo vào chiếm lĩnh trận địa an toàn, bí mật. Tuy nhiên, ngay sau đó, khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định đổi phương châm tác chiến từ đánh nhanh thắng nhanh sang đánh chắc tiến chắc, lực lượng pháo binh lại nhận được lệnh kéo pháo trở lại nơi tập kết vất vả gian khổ gấp đôi song tất cả vẫn quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ bằng mọi giá...” 


Có nghĩa, phải mất 9 ngày đêm để kéo pháo lên núi trở lại. Là ít nhất. Rồi thêm vài tuần lễ nữa cho pháo thủ lấy lại sức, lập phương án mới, tái phối trí, tái tiếp tế và phối hợp bộ binh. Vì vậy khai trận 13 tháng 3.


Huyền thoại “kéo pháo ra” vẫn được xem là thiên tài của Võ Nguyên Giáp, trên thực tế không cần thiết. Vì cho đến kết thúc, các tiền sát viên pháo binh Pháp và Phi đoàn Quan sát Pháo binh Bắc phần đã không xác định được vị trí pháo Việt Minh. Đại bác 105 ly của sư đoàn nặng 351 đều đặt trong hang núi, ngụy trang và kéo ra khi bắn. 


Là huyền thoại. Còn thiên tài thực sự?


Báo Đảng ca ngợi: “Chiến thắng Điện Biên lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu khẳng định tư duy quân sự sắc sảo và linh hoạt của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với quyết định chuyển phương án tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”.

  

“Tư duy quân sự sắc sảo” gộp trong ba mệnh đề: “Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu; đánh chậm, đánh chắc, chắc thắng mới đánh; thần tốc, táo bạo, bất ngờ.” 


Mệnh đề 1: “Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu” không phải của Võ Nguyên Giáp mà của Tôn Tử, trong Binh Pháp yêu sách “Đánh vào khoảng trống” là nơi địch ít quân, bố phòng kém hoặc bất lợi.


Mệnh đề 2: “Đánh chậm, đánh chắc, chắc thắng mới đánh” là của tướng Thomas Jonathan Jackson trong nội chiến Nam-Bắc Mỹ: “Không bao giờ tác chiến nếu cơ may quá mỏng (Ne jamais se battre si les chances sont trop minces)”.


Mệnh đề 3: “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ?”

 

Sau chiến thắng Biên Giới đầu tháng 10-1950, Việt Minh đã có thể chiếm Hà Nội vì quân Pháp hoảng loạn mất tinh thần liên tiếp rút khỏi Lạng  Sơn, Lào Kai, Hòa Bình. Phải mất ba tháng sau Võ Nguyên Giáp mới khai trận Vĩnh Yên ngày 13 tháng 1-1951, thì đã quá muộn, vì danh tướng de Lattre de Tassigny với quân viện đã sang Đông Dương (ngày 17 tháng 12-1950) khiến Vĩnh Yên là một thất trận của Việt Minh.  


Trên mặt hành quân, Võ Nguyên Giáp gần với Lord Bernard Montgomery ở tính thận trọng, chậm chạp điều binh, hơn là ở khả năng thần tốc của Guderian hay Rommel.    

 

– Trần Vũ

(Tháng 3-2022)


[1] Le général Giap, héros de l'indépendance vietnamienne, est mort (lemonde.fr)

[2] Thượng Tướng Phong Vân Lục





Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng. «… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
Tháng tư ngửa mặt nhìn trời | Nhớ xem hồng nhạn đã rơi phương nào | Cánh chim gãy sợi tóc đau | Con đò chở khẳm nỗi sầu lưu vong.
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt.
Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.