Hôm nay,  

Anna

01/04/202211:49:00(Xem: 6521)

Truyện ngắn

smoke over kyiv

 

Cô bé tên là Anna, cô vừa là chị cả vừa là mẹ của tôi. Trên tấm hình này, cô bé lên mười hai tuổi. Còn tôi là con bé mặc áo đầm nhung có hai dây đeo, tôi bám theo cô ấy giống như bám vào phao cứu đắm.

Tấm hình được chụp vài tháng sau "thảm kịch", theo như mọi người trong làng nói.

Hôm đó, tôi đang chơi tại gia đình Labbé, cách nhà tôi hai khối nhà. Họ có hai con trai, đứa lớn là François và đứa nhỏ là Emmanuel, cũng lên sáu giống tôi.

Mọi người gọi nó là Manu. Nó là bạn trai yêu dấu của tôi, nó rất đẹp trai, và nó còn có hai quả banh cao su màu đỏ mà tôi thường lấy để tập tung hứng.

Chúng tôi đang chơi trên phòng của ba mẹ nó, ở tầng lầu có nhiều ánh sáng nhất. Bỗng dưng bà Labbé hét to lên, bảo chúng tôi nằm úp xuống sàn. Manu và tôi liền chui xuống gầm giường. Chúng tôi rất vui, còn có những đám bụi xốp mà chúng tôi cố hết sức để thổi vào mắt nhau. Tôi nhìn thấy đôi dép nhẹ của ông Labbé, khi tôi nhắm một mắt thì thấy chúng to lớn như thể có họ hàng với đôi hia bảy dặm của chú bé Tí Hon mà đêm nào tôi cũng bị ám ảnh.

Sàn nhà rất thơm mùi gỗ và hình như tôi sắp ngủ gục khi tưởng tượng Manu đang mang đôi dép to rộng của ba nó để leo núi.

Nhưng rồi sao có quá nhiều tiếng động bên ngoài vầy nè: Nào là còi hú của xe chữa lửa, nào là máy bay gầm rú vang còn to hơn cả tiếng ngáy của ba tôi và tiếng bom xé trời rồi nhỏ dần, làm cho thời gian qua đi rất nhanh khi tôi kịp đếm đến hai mươi, rồi lại tiếp tục kêu eo éo.

Bom đạn thì tôi quá biết rồi. Chúng rơi xuống đều đều như mưa từ bụng của máy bay, như đàn cá mà ta ném xuống biển vậy.

Bỗng dưng nguyên cái nhà rung lên giống hệt như đôi tay của Ngoại khi bà uống bột rễ diếp xoăn vào buổi sáng. Chỉ trong vài phút tôi bỗng bị điếc đặc. Bị điếc thì buồn cười lắm bạn ạ, ta không thể nghe gì nữa cả, ngay cả tiếng thở của chính mình cũng không nghe được, như thể ta chết vậy, nhưng là chết giả vờ. Chắc là Manu cũng chết luôn rồi, bởi vì nó siết tay tôi chặt ơi là chặt.



Thật lâu sau đó, không biết bao lâu, bởi vì tôi đã không còn đếm nữa, có người đến gọi chúng tôi ra. Ôi, thật đúng lúc, vì tôi cũng không còn biết phải mơ điều gì để khỏi lo sợ nữa.

Nhìn thấy mọi người ai cũng có vẻ gì bất thường, kỳ quặc, có vẻ như bọn cá gây bao nhiêu là thiệt hại khi vỡ ra trên nền đất như thế này.

Khi bước ra đường, tôi nhận biết ngay rằng mọi thứ không còn như trước kia nữa. Nhưng cho dù tôi cố nhíu mày để suy nghĩ cho kỹ, tôi cũng không biết có điều gì mất mát, có cái gì thiếu sót.

Bà Labbé ôm tôi thật chặt vào lòng và nói:

– Bé cưng tội nghiệp của bác ơi, kinh khủng quá, bây giờ con sẽ ra sao đây?

Ngày thường thì bà ấy luôn dễ mến, tử tế đối với tôi, nhưng hôm nay, bà ghì tôi chặt quá, và cái tạp dề của bà rất thơm mùi hành.

Xuýt tí nữa là tôi trượt té vì giẫm lên cái bánh xe đẩy (xe chơi của trẻ con). A, cái bánh xe này, tại sao nó lại nằm đây, mà sao có một bánh thôi nè? Tôi nhớ là đã cẩn thận xếp nó gọn ghẽ vào hiên trước nhà rồi kia mà.

Ôi, thôi, tôi biết rồi, đó là căn nhà! Không được rồi. Đó là điều không bình thường. Căn nhà không còn hiện hữu ở đó nữa. Giống hệt như trong truyện thần tiên, chỉ đơn giản là nó đã biến mất. Và ngay chỗ đó là một cái hố to sâu hoắm, đen thui, và khói đang bay ra như từ một cái nồi hầm vĩ đại.

Rồi sau đó tôi hét lên, hét thật lâu, và có hết sức lực để hét, rồi tôi trở nên điếc thật, và chết thật sự. Nhưng điều đó đã không xảy ra, tôi chỉ không thể nói được trong rất nhiều tuần lễ.

Chính Anna là người đã tập cho tôi nói trở lại, cười trở lại, rồi chạy nhảy, vui đùa. Cô bé đã có hai chị và một anh, tất cả đều có tóc vàng óng giống cô bé, thế thì bạn biết không! Không phải vì có thêm một bé tóc nâu nữa sẽ làm cho cô bé sợ hãi như cô nói đâu.

Chính nhờ cô bé ấy mà hôm nay tôi có thể kể chuyện về bức hình cho con gái tôi nghe. Tôi đặt tên cho con gái tôi là Anna...

– Yves Brard
(thailan dịch)

Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
Tôi rất thích bút danh "Hoàng Thị Cỏ May" mà chị Phi Loan dùng cho những bài thơ của chị, nhưng chưa có dịp hỏi chị tại sao chị lại chọn tên này. Hình ảnh "Cỏ May" gợi lên sự mộc mạc, bền bỉ, mang nét đẹp bình dị và phảng phất nỗi buồn quê hương và có lẽ đó là lý do chị thích cái tên này.
Thưa, chuyện là sư cô Chân Hiếu xuất gia đã hơn 10 năm với sư bà Huệ Chơn, một ngày kia cô thấy xa gia đình đã lâu, cô có ý muốn xin phép sư thầy về thăm mẹ già đã cả năm cô chưa gặp lại. Rồi được phép, cô về gặp mẹ, mẹ con mừng mừng tủi tủi hội ngộ, rồi cũng trong một buổi đó, hàn huyên vui vầy, nhân lúc vui vui câu chuyện mẹ mẹ con con. Bà mẹ già đã ngoài 80 tuổi, có lúc nhớ nhớ, có lúc đã quên quên ít nhiều.
Không có phương pháp tu hành nào giúp tìm ra câu trả lời, nỗi băn khoăn của thầy cứ kéo dài và tâm thầy hơi xao động. Không phải thầy nảy sinh ý nghĩ bất tịnh gì. Thầy chỉ tò mò thôi.
Chỉ có giữa nhà mình với nhà con hay mang thức ăn sang cho nhau mà tự dưng mất một cái nắp nồi. Tìm mãi cả hai bếp vẫn không ra. Chị của Nhàn bảo, cứ đo cái miệng nồi rồi ra tiệm Goodwill, cái gì cũng có hết. Nhàn nghe chị, đi Goodwill vào ngàyThứ Sáu, vì nghe nói Thứ Sáu lại được bớt 20% cho người trên 60 tuổi (Nhàn cười, nói khẽ một mình: 60 tuổi à? Dư sức qua cầu!)
Anh và tôi làm chung hãng với nhau khá lâu, rất thân, vừa là đồng nghiệp, vừa người Huế đồng hương. Một hôm anh mời đến nhà chơi. Nhân đang lúc rảnh rỗi bàn luận thế sự, tôi để ý trên bàn thờ nhà anh có treo bức tranh vẽ một ông quan đội mão rất uy nghi. Anh giới thiệu đó là ông Tổ nhà anh. Tôi tò mò hỏi cụ làm chức chi trong triều? Anh không trả lời, hỏi lại học sử có nhớ việc dưới triều nhà Nguyễn vua Thiệu Trị bỏ trưởng lập thứ là vua Tự Đức? Tôi nhớ có học điều đó, nhưng không biết gì thêm nữa. Anh trịnh trọng nói vị hoàng tử con trưởng vua Thiệu Trị đáng lẽ phải được chọn làm vua đó là: An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là người trên bức chân dung đó. Và anh chính là hậu duệ của An Phong Công Hồng Bảo.
Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.
Sau một đêm lênh đênh trong vùng biển Aegean, thuộc lãnh hải của Athens, Greece, khi vầng đông vừa ló dạng, phía chân trời ửng một màu cam sáng rực rỡ, du thuyền MSC Lirica vừa cặp vào bến cảng Izmir, miền trung của Turkey. Trên tàu, hành khách ai nấy đều ăn sáng thật nhanh để chuẩn bị xuống tàu. Đây là điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến hải hành bảy ngày quanh vùng biển Aegean, Địa Trung Hải, bắt đầu bằng đất nước Hồi giáo từng một thời oanh liệt dưới bóng cờ Đế quốc Ottoman. Đúng 09 giờ sáng, cầu tàu được thả xuống, mọi người phấn chấn sau một đêm ngủ ngon, sẵn sàng đi bộ vào trung tâm thành phố cách đó khoảng 30 phút đi bộ. Thành phố này không có gì đặc biệt để tham quan, nên chúng tôi thả bộ men theo con đường lót đá dọc bờ biển, tha hồ hít thở khí trời trong lành sau 4 ngày ngột ngạt ở Athens đầy khói xe, khói thuốc lá.
Chúng tôi ngồi, không nói gì với nhau nữa, cả hai cùng đăm chiêu nhìn xuống dòng kênh Đôi chảy lờ lững với những đám bèo giạt bám vào bờ, vào chân cây cầu sơn màu đỏ phía xa xa. Nơi chúng tôi ngồi là một khu dân cư mới thành hình khoảng hai chục năm nay, một khu dân cư đẹp vì thiết kế mới, những con đường cắt nhau vuông vức, các mảng cây xanh bên cạnh những căn nhà cấu trúc mới và đẹp...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.