Hôm nay,  

Vệ quốc

03/04/202221:16:00(Xem: 6048)

Truyện ngắn

HoaHD

 

Xứ Hoa Dương xinh đẹp và thanh bình, những cánh đồng hoa dương bạt ngàn rực rỡ một màu vàng tươi tắn, những cánh đồng lúa mì óng ả như mái tóc phụ nữ Hoa Dương. Đất đai phì nhiêu, trù phú đủ để người Hoa Dương sống sung túc an lành dưới bầu trời xanh thanh bình. Điều này đã làm cho ma vương sanh tâm đố kỵ, y thèm khát mảnh đất ấy từ lâu, y có tham vọng ngông cuồng như những tiền bối của y là phải chiếm lấy cho bằng được. Hùng ma vương nhiều lần dụ dỗ, ép buộc, đe nẹt quốc chủ Hoa Dương:

 

– Chú em với ta là một nhà, xưa nay nhận sự bảo hộ của các tiền bối nhà ta, nay chú em cũng phải quy phục ta, bằng không ta sẽ dùng vũ lực!

 

Quốc chủ Hoa Dương bình tĩnh, can trường:

 

– Chúng ta là bạn láng giềng, Hoa Dương không phải là chư hầu như ông nghĩ!

 

Ma vương cười gằn đầy nham hiểm:

 

– Chú em đừng quên, xứ sở của chú em vốn là một phần của quốc độ ta, từ xưa đến nay là phiên thuộc ta!

 

– Xin lỗi ông, đó là sự hoang tưởng và sự áp đặt cưỡng bách. Chúng tôi đã thoát ra rồi, hiện giờ chúng tôi hoàn toàn độc lập và tự chủ.

 

Hùng ma vương mặt lạnh như băng Bắc Cực, ánh mắt như lang sói, y gầm gừ:

 

– Không được phép độc lập! Chú em phải trung lập theo chiến lược của ta! Cấm chú mày giao lưu hay kết bạn với Chú Sam và bè lũ Bắc Đại Tây Dương!

 

– Thật vô lý! Chúng tôi muốn kết bạn với ai là quyền của chúng tôi, chúng tôi muốn nhập bọn với ai là quyền tự quyết của dân tôi!

 

– Chú mày dám chống ta à?

 

– Chúng tôi không chống ai cả, chúng tôi chỉ muốn sống hòa bình, sống với độc lập tự do của chúng tôi!

 

– Nếu chú mày không nghe lời ta thì hãy chuẩn bị đón đòn sấm sét!

 

*  

 

Hùng ma vương và bộ sậu khuấy động một chiến dịch phỉ báng Hoa Dương, chúng tuyên truyền sai sự thật, tung ra những thuyết âm mưu giả trá, bịa đặt những việc tưởng tượng để kết tội Hoa Dương. Cái dã tâm của Hùng ma vương quá ngông cuồng, y quyết sáp nhập Hoa Dương vào đất y, y có mộng làm đại đế và biến quốc độ của y thành đế quốc. Y đem quân áp sát biên giới Hoa Dương, không khí chiến tranh vô cùng căng thẳng, mùi sát khí từ Hồng cung lởn vởn tỏa ra khắp thế gian. Chú Sam gởi thông điệp cho Hùng ma vương:

 

– Không được đụng đến Hoa Dương! Bằng không thì chúng tôi sẽ cắt nguồn máu của ông.

 

Hùng ma vương cười khinh kỉnh:

 

– Ông cắt nguồn máu của ta tức là tuyên chiến với ta, thế chiến sẽ xảy ra!

 

Chú Sam vẫn minh định:

 

– Không được đụng đến Hoa Dương, nếu không sẽ bị cắt nguồn máu, sẽ bị đóng băng tài sản của ông và bộ sậu, sẽ bị cô lập hoàn toàn. Các ông chỉ có thể quanh quẩn sân nhà chứ không thể ra ngoài!

 

Nhóm Bắc Đại Tây Dương theo kế của Chú Sam, đồng lòng ủng hộ Hoa Dương. Tuy nhiên khi bị Hùng ma vương đe dọa thì bọn họ chỉ giúp Hoa Dương một chút khí tài chứ không dám cho quân đến giúp Hoa Dương. Tiếc thay Hoa Dương đã đặt trọn niềm tin vào bọn họ, quyết chí xin nhập bọn với họ, cũng vì cái lý do này mà Hùng ma vương điên tiết và tấn công Hoa Dương. Nhóm Bắc Đại Tây Dương có vẻ đông đảo và hùng mạnh nhưng thực chất có nhiều kẻ tự tư tự lợi, đã từng giao hảo với Hùng ma vương để thủ lợi, bởi thế khi có chuyện xảy ra thì không thể đi đến quyết định chung. Giờ đây nghe Hùng ma vương đe dọa: “Nếu giúp Hoa Dương ta sẽ cắt dầu, cắt khí và sẽ dùng bảo bối hạt nhân”, thế là cả nhóm xếp càng im re.

 

*

 

Mặc cho cả thế giới cảnh báo trừng phạt nhưng Hùng ma vương vẫn không đổi ý, thế rồi cái ngày đại nạn xảy ra. Hùng ma vương xua quân tràn sang Hoa Dương, bom đạn, hỏa tiển, tên lửa hành trình… dội xuống như mưa tuyết. Xe tăng bắn cả nhà thương, nhà thờ, nhà trường, nhà trẻ, nhà hát... Hùng ma vương ra lệnh:

 

– Công kích không chừa bất cứ mục tiêu nào!

 

Xứ sở Hoa Dương tan tành dưới sự tấn công tàn bạo và man rợ của quân đội ma vương. Chúng công kích suốt ngày đêm. Những thành phố vốn đẹp đẽ và bình yên giờ thành những đống đổ nát, những cánh đồng hoa dương giờ như bãi tha ma, những thị trấn an lành giờ thành bình địa. Máu người Hoa Dương nhuộm đỏ tuyết trắng, thịt xương người Hoa Dương lầy trong những đống đổ nát. Những thiếu phụ mang bầu không có chỗ sanh, những em bé không có nơi trú ngụ, cả dân tộc Hoa Dương bỗng chốc trắng tay, không còn nhà cửa, không điện ga sưởi ấm, không thực phẩm thuốc men...Một thảm cảnh mà trước đó một tuần không thể tưởng tượng ra. Hùng ma vương muốn khủng bố người Hoa Dương, muốn bẻ gãy tinh thần bất khuất của họ. Y ra lệnh tấn công bất kể dân sự hay quân sự, y muốn Hoa Dương trở thành bình địa để trả thù sự kiên cường dõng mãnh của họ. Y càng tàn ác thì người Hoa Dương càng can trường và quyết tâm hơn. Họ đoàn kết quây quanh quốc chủ để chiến đấu cho quê hương xứ sở. Họ quyết đứng thẳng chứ không chịu quỳ. Họ thấm nhuần tư tưởng:” Tự do hay là chết”.

Cuộc chiến ngày càng khốc liệt, quân đội ma vương đông đảo, khí tài dồi dào, chúng quyết san Hoa Dương thành bình địa. Dù vậy người Hoa Dương vẫn kiên cường giữ vững thế trận của mình. Loài người khắp thế gian biểu tình chống chiến tranh, đả đảo ma vương. Loài người khắp thế gian khâm phục ngưỡng mộ quốc chủ và quân dân Hoa Dương. Họ kêu gọi quyên góp giúp người Hoa Dương, Những chiến binh tự do cũng quyết tâm đến Hoa Dương để cùng họ chống lại ma vương. Chú Sam gởi lời mời quốc chủ Hoa Dương di tản. Ông ấy khảng khái đáp:

 

– Tôi không đi đâu cả, đây là nơi của tôi!

 

Lòng yêu nước, tinh thần bất khuất, ý chí kiên cường của quốc chủ làm cho cả thế gian này cảm phục vô cùng. Quân dân Hoa Dương ủng hộ quốc chủ của mình một cách cao độ. Quốc chủ cũng không phụ lòng dân, ông ấy cởi bỏ vương bào mặc chiến bào ra chiến hào với quân dân. Quốc chủ mặc  giáp bào đi ủy lạo quân dân, viếng thăm cô nhi quả phụ. Ngay cả phu nhân xinh đẹp của ông cũng sát cánh với chồng, với quân dân Hoa Dương để chiến đấu chống quân xâm lăng. Những cô gái trẻ xinh đẹp, mắt xanh tóc vàng lẽ ra đang sống hạnh phúc với người yêu, giờ cũng xung phong ra tuyến đầu vệ quốc. Họ tổ chức lễ cưới ngay tại chiến trường. Những chuyện tình trong chiến tranh vệ quốc đẹp và bi thương hơn cả truyện cổ tích ngày xưa. Quốc chủ Hoa Dương đã tạo nên một làn sóng cảm khái tích cực trong lòng quân dân, ông đã trở thành một biểu tượng yêu nước và can trường, không chỉ người Hoa Dương yêu mến và kính phục ông ấy, người khắp thế gian cũng yêu mến và cảm phục vậy! Ông ấy và quân dân Hoa Dương đã viết nên một bản anh hùng ca mới về tinh thần yêu nước và lòng gan dạ, can trường trong cuộc chiến vệ quốc.

 

*

 

Thiên hạ xưa nay vẫn thường nói: Phật có Phật tử, ma có ma quân; nhà có hiếu tử thì cũng có nghịch tử; nước có hiền thần thì cũng có nghịch thần; xã hội có người ngay ắt cũng không ít kẻ gian. Người xứ Vệ cũng thế, đa số đều đồng cảm với người Hoa Dương, ủng hộ cuộc chiến vệ quốc của họ, đã có những cuộc lạc quyên ủng hộ, có những hành động chia sẻ niềm tin, công lý… Người xứ Vệ rất thấm thía với nỗi đau vong quốc, họ đã từng bị tổ tiên của Hồng xếnh xáng xâm lăng cai trị nhiều đời. Họ đã tốn bao nhiêu xương máu để giành lại độc lập tự do. Bởi vậy họ rất hiểu và thông cảm với cuộc chiến vệ quốc của người Hoa Dương. Hoa Dương ở cạnh Hùng ma vương, họ ở sát nách Hồng xếnh xáng, cả hai quốc độ ở hai phương trời nhưng có chung một mối nguy hiểm lớn. Cả Hùng ma vương lẫn Hồng xếnh xáng đều có dã tâm xâm lăng lấn đất lập đế quốc. Cái tư tưởng cướp đất lập đế quốc là cái tư tưởng lạc hậu của thời mông muội xa xưa, ấy vậy mà nó vẫn di truyền trong huyết quản của bọn chúng. Người xứ Vệ đau với cái nỗi đau của người Hoa Dương, ủng hộ cuộc chiến vệ quốc của người Hoa Dương là vậy. Tuy nhiên cũng có một số dân Vệ lại tà tâm đi ủng hộ Hùng ma vương, bọn chúng vui vẻ hò reo khi thấy xứ sở Hoa Dương bị công kích dã man tàn bạo, chúng ăn mừng khi thấy máu người Hoa Dương đổ, chúng khen ngợi Hùng ma vương hết lời. Sứ quán Hoa Dương ở xứ Vệ tổ chức lạc quyên thì bị quan quân xứ Vệ ngăn cản và phá rối đến độ phải huỷ bỏ. Có một hèn tướng tuyên bố:

 

– Quốc chủ Hoa Dương là một thằng hề trẻ, sao dám chống lại Hùng ma vương lão luyện đầy kinh nghiệm?

 

Dân xứ Vệ chưa hết bàng hoàng và xấu hổ thì một bồi tướng khác lại phát biểu:

 

– Hoa Dương vốn là đất phiên thuộc của Hùng ma vương, sao dám tự tiện kết giao với Chú Sam và nhóm Bắc Đại Tây Dương? Bị tấn công là phải rồi!

 

Thật không biết tả sao cho hết nỗi đớn hèn bạc nhược và nhục nhã này! thân làm tướng mà có tư tưởng tôi đòi ưng khuyển như thế! Những lời phát biểu vừa thể hiện sự kém hiểu biết vừa bộc lộ rõ cái tư cách thấp kém. Người xứ Vệ thấy nhục lây vì những tay tướng Vệ này.

 

*

 

 Thiên hạ bốn bên lâu nay vẫn biết cái tình kết giao giữa Hùng ma vương và Hồng xếnh xáng, có lạ chi đâu đầu trâu mặt ngựa với nhau, mạt cưa mướp đắng một phường. Trước khi cuộc chiến Hoa Dương xảy ra. Hồng xếnh xáng bắt tay Hùng ma vương xúi:

 

– Nị cứ đánh chiếm Hoa Dương đi! Ngộ sẽ ủng hộ hết lòng, trước là cảm ơn nị ủng hộ ngộ le lưỡi bò liếm bể Đông, dẹp dân chủ Hương Cảng, đe nẹt bọn tép riu Đông Nam Á; sau thì gởi thông điệp đến Đài Loan, Vệ quốc:” Chúng mày hãy xem cái gương Hoa Dương mà liệu hồn!”

 

Thế rồi Hùng ma vương xua quân xâm lăng Hoa Dương, thiên hạ ngỡ Hồng xếnh xáng sẽ gởi tiền của, khí tài hay quân binh đến giúp, nào ngờ y án binh bất động. Hùng ma vương sa lầy kêu cứu, y cũng giả tảng làm lơ, thế thì hai năm rõ mười rồi nhé! Y là kẻ là ngư ông, để mặc cò ngao tranh nhau mà thủ lợi. Y không giúp Hùng ma vương, một phần để cho Hùng ma vương yếu đi thì y đỡ phải lo, một phần sợ Chú Sam trừng phạt. Hồng xếnh xáng là một con cáo già ma mãnh đầy thủ đoạn, chơi với y thì chỉ có bị thương cho đến chết. Thiên hạ bao nhiêu người đã chết vì y, đã mất đất vì y! Tình bạn giữa y với Hùng ma vương chẳng khác gì kẻ cắp với bà già, chung lưng mở gian hàng nhưng kẻ nào cũng gian và muốn dìm hàng của nhau, bắt tay nhau nhưng cũng sẵn sàng diệt nhau để độc xưng bá.

 

Cuộc chiến trên xứ sở Hoa Dương quá tàn khốc. Người Hoa Dương đơn độc chống lại bạo quyền, họ chiến đấu vì xứ sở, chiến đấu dũng mãnh đẩy lùi được những đợt tấn công dã man của quân đội Hùng ma vương. Cái giá phải trả cho độc lập tự do quá đắt. Máu người Hoa Dương đã đổ ra, những thành phố thành bình địa, những đồng hoa dương tan nát dưới đạn bom. Xác người Hoa Dương lầy trong băng giá, hàng triệu người phải tỵ nạn ly hương. Bầu trời xanh ám muội khói súng...Người Hoa Dương vẫn đứng vững, không một chút sờn lòng nhụt chí. Người Hoa Dươgn đang chiến đấu cho độc lập tự do của họ, chiến đấu cho cả công lý của thế gian này, một cuộc chiến vệ quốc hào hùng.

 

– Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 04/22)

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.