Hôm nay,  

Giấc mơ trại gà

03/05/202220:17:00(Xem: 4297)


poultry-farm 

(Kỷ niệm đi thăm trại gà của anh NP).

 

Chúng tôi đến trại gà sau 2 tiếng lái xe từ thành phố Dallas đến thành phố nhỏ Palestine. Từ lâu tôi đã cả gan mơ làm chủ một trại gà và mê cách nuôi gà công nghiệp tại Mỹ với những chuồng trại hàng trăm ngàn con gà mà không tốn nhiều công sức lao động. Một nghề gặt hái ra tiền nếu chịu đầu tư tiền bạc và chăm chỉ làm việc.

 

Tôi tò mò và yêu thích những cảnh thiên nhiên hoang vắng, vài hình ảnh trại gà tôi xem trên Net chỉ là một góc cạnh, tôi tưởng tượng ra một trang trại rộng lớn với những khu rừng và những cánh đồng cỏ xanh mướt, vừa nuôi gà vừa có cảnh để ngắm và rong chơi thơ thẩn bướm hoa.

 

Thế nên tôi luôn mong muốn được đến thăm một trại gà.

 

Trại gà này thuộc gia đình họ hàng người em dâu. Tôi theo chân hai vợ chồng đứa em đến đây một buổi sáng chủ nhật nhiều nắng nóng của mùa hè Texas. Đường vào trại gà càng lúc càng hoang sơ, dân cư thưa thớt, xe chạy trên những con đường nhỏ dẫn vào trang trại bốn bề lặng thinh như chốn không người.

 

– Trại gà đây rồi!

 

Tôi reo lên khi xe rẽ vào trang trại và đậu lại trước căn mobile home, nhưng chúng tôi khựng lại không dám xuống xe vì thấy 3 con chó mặt dữ như bà chằng lửa đang nhổm dậy từ gầm chiếc xe tải đậu trước nhà và gầm gừ chui ra nghinh đón chúng tôi. Tôi ngó nhìn xung quanh, trước mặt căn mobile home xéo về phía bên phải là một nhà kho hoang phế, mái lợp tôn, vách tôn đa phần hoen rỉ nắng mưa và xập xệ, chắc chủ nhân chưa rảnh để gỡ bỏ. Phía bên trái chúng tôi là một khu đất thấp mấy con bò đen đang thong thả gặm cỏ.

 

Những con chó và những con bò để tôi biết chắc nơi này đang có cuộc sống.

 

Chủ nhân đã từ những bậc thang căn mobile home bước xuống đón khách, có chủ nhân nên 3 con chó ngoan ngoãn để yên chúng tôi trèo lên thang vào nhà. Căn nhà có máy lạnh và thêm cái quạt máy đang quay cho tôi cảm giác thoải mái tạm quên nắng ngoài sân hôm nay hơn 90 độ F.

 

Cô em dâu của tôi lôi từ những túi quà mang theo, nào heo quay, vịt quay, rau trái, bún, bánh, đồ khô… y như đi tiếp tế cho tù nhân. Nơi đây xa phố, càng xa chợ búa Việt Nam nên cô em đã mang tặng ông anh họ của cô nhiều thứ. Muốn đi chợ Việt Nam phải mất 2 giờ xe về Dallas hay Houston.

 

Chủ nhân mới xây dựng trại gà được 1 năm, chỉ tính riêng 8 chuồng gà mới tinh là 2 triệu 7 trên khu đất rộng mênh mông hơn 250 acres, trị giá đất là 600 ngàn đồng. Họ không mua được miếng đất nhỏ hơn nên đành bỏ phí đất vì công ty gà Sanderson chỉ cho xây 8 chuồng gà trong khu vực này. Đất rộng rãi dư thừa, ráng chịu. Ngoài xây chuồng gà chủ nhân phải thuê người đổ đất làm nền nhà cho cao ráo bằng phẳng, nơi đặt chiếc mobile home quay ra mặt ngõ, đổ đất làm con đường từ nhà đến những chuồng gà phía đằng sau nhà, khoảng cách không xa là bao. Tất cả đều là con đường đất, màu đất cày xới đã cả năm nhưng dường như vẫn còn tươi vì xe cộ và bàn chân con người chưa giẫm đạp lên bao nhiêu. Rồi mắc điện câu nước để dùng trong gia đình, chưa kể đào 3 cái giếng bơm nước dùng cho lũ gà cưng uống, v.v…

 

Chủ nhân nói tổng số giá trị toàn thể đất đai, trại gà, nhà ở cũng như xe cộ và những công trình phụ thuộc để phục vụ cho trại gà nói tròn số là 4 triệu đô la Mỹ. Nếu mua trại gà cũ 8 chuồng vẫn còn tốt để yên chí tiếp tục nuôi gà kiếm tiền thì khoảng 2 triệu. Nhưng nếu ít vốn mua trại gà quá cũ, giá rẻ hơn, nay hư chỗ này mai hư thứ khác, gặp thời tiết mưa gió bão bùng hay tuyết rơi nhiều, vách hở mái nhà đổ sập sẽ là cơn ác mộng nơi chốn “lưu đày”.

 

Nhiều người Việt Nam với bản tính chịu khó dành dụm tiền bạc và chịu khó làm ăn đã làm chủ trại gà khắp nơi trên đất Mỹ. Chuyện vui buồn trại gà thì đủ kiểu, hoàn cảnh ai thích hợp hay quyết tâm muốn làm giàu thì yêu nghề và bám trụ lâu dài, gia đình  nào “phân ly”, kẻ ở  quê người ở phố cho con cái học hành là một sự hi sinh lớn. Những trại gà được rao bán thường xuyên, có thể sau nhiều năm miệt mài với gà, chủ nhân đã kiếm đủ mớ vốn ước mơ nên bỏ rừng về phố hoặc có thể chủ nhân thất vọng nửa đường bỏ cuộc. Mỗi người một cảnh, một tâm trạng.

 

Chúng tôi nói chuyện xong là háo hức đòi đi xem trại gà rồi ăn cơm sau dù rằng bụng đang đói. Lần đầu tiên trong đời tôi được ngồi lên một chiếc xe nông nghiệp, loại xe dùng để chạy trong farm do chủ nhân lái dẫn đường và xe người em theo sau. Chiếc xe chạy trên con đường đất tung bụi mù, 3 con chó chắc ngày tháng buồn tênh vì vắng người nay có đám khách nhộn nhịp chúng hớn hở như phát cuồng chạy băng mình trong bụi cát và nắng nóng theo sau xe chúng tôi.

 

Ngoài khu nhà ở và khu chuồng trại được phát quang, phía xa mênh mông là cây hoang bụi rậm có lẽ chủ nhân cũng chẳng mấy khi có thì giờ đến đó, để mặc chúng tự vươn lên tồn tại hay lụi tàn với nắng mưa bốn mùa. Con đường đất tương đối bằng phẳng dẫn đến gần những chuồng gà thì bỗng lổm chổm đá, những cục đá trắng to như quả trứng vịt, như những nắm đấm tay, chắc để tiết kiệm tiền nếu đổ bê tông hay trải nhựa. Bà nào cô nào mà đi giày cao gót đến đây sẽ không thể nào bước nổi, mà nếu cố bước thì sẽ ngã giập mặt u đầu.

 

Chủ nhân gõ cửa chuồng gà như thông báo với chúng là có khách đến thăm nè rồi mới mở cửa, mùi phân gà xông ra và trong ánh đèn mờ cả lũ gà nhốn nháo xoè cánh chạy xô vào nhau thấy mà thương.

 

Mỗi chuồng gà dài 600 feet, rộng 50 feet, chứa 28 ngàn con. Chủ nhân chỉ thuê một anh Mễ làm full-time, hằng ngày chủ cùng người làm đi rảo qua các chuồng trại kiểm tra nhiệt độ, đồ ăn thức uống và nhặt gà chết để thiêu hủy chúng. Ngoài công việc làm liên quan đến gà anh Mễ thỉnh thoảng cắt cỏ xung quanh 8 trại gà. Anh Mễ sáng đến làm chiều về dù chủ nhân đã hậu hĩ mua một căn mobile home đặt sau căn mobile home chủ nhân để anh ta có thể sinh sống hẳn trong trại gà, nhưng anh thà lái xe đi về mỗi lần hơn nửa tiếng để thấy phố thấy nhà còn hơn thuận tiện nhưng phải sống trong cảnh hoang vắng đìu hiu. Ông chủ vì của cải sự nghiệp của ông thì ráng ở lại chứ anh Mễ mắc mớ chi.

 

Xe lại đưa chúng tôi trở về căn mobile home, những con chó vẫn hớn hở băng mình chạy theo trong đám bụi và nắng hè. Khi xuống xe, tôi bất chợt thấy ngoài xa một chiếc xe chở những cuộn cỏ đang chạy ra phía cổng trang trại và được chủ nhân giải thích:

 

–  Mỗi cuộn cỏ trị giá ít nhất 50 đồng, mỗi lần họ cắt được khoảng 200 cuộn, 250 acres đất của tôi được cắt cỏ miễn phí và họ thì được cỏ miễn phí.

 

Tôi tính toán và tiếc rẻ:

 

–  Những 10 ngàn đồng cho 200 cuộn cỏ kia chứ ít gì. Sao anh không tự làm và bán cỏ kiếm thêm tiền?

 

–  Chị ơi tôi chẳng ba đầu sáu tay mà làm hết mọi thứ, với lại phải sắm sửa máy móc, máy cắt cỏ và máy cuộn cỏ lại.

 

Tôi lại tính toán giùm nhà giàu:

 

–  Sao anh không tận dụng nuôi nhiều bò trên cánh rừng bao la này khỏi phải cắt cỏ lại ra huê lợi?

 

–  Chị ơi, nuôi bò kiểu kinh tế thì phải có bài bản chứ không phải cứ thả rong chúng rồi tới ngày bán lấy tiền. Tôi chỉ nuôi chơi dăm bảy con bò đen Angus như chị thấy trước sân kia cho vui thôi. Cũng như nuôi gà, trông giàn thực phẩm cho ăn cho uống tự động tưởng là nhàn hạ nhưng lúc nào chúng tôi cũng phải để mắt tới chúng, xem gà chết nhiều hay ít, hệ thống đồ ăn nước uống có gì trục trặc không, nửa đêm hay lúc trời mưa to gió lớn sấm sét đùng đùng được báo động thì giá nào cũng phải mò ra chuồng gà lo bảo vệ chúng.

 

Những lúc mưa gió thế tôi cuộn mình trong chăn nghe tiếng mưa rơi bên ngoài mà mơ mộng, thì những chủ trại gà như anh ta lo âu và vất vả quá chừng. Tôi hơi run:

 

–  Nửa đêm anh cũng phải ra chuồng gà hả? Không… sợ ma hả? Đường đi không có lấy một cột đèn, xa xa là rừng đen kịt dày đặc bóng tối.

 

–  Chứ còn gì nữa, đèn xe mình chiếu lên soi đường mà đi, lúc đó sợ gà gặp nạn chứ không thì giờ đâu mà sợ ma.

 

Chủ nhân khoe thêm:

 

–  Có khuya tôi không ngủ được thức dậy pha trà uống và mang đèn pin ra ngoài hàng hiên thấy những đôi mắt xanh lè của những chú nai tơ nhìn tôi, chúng ghé vào hiên nhà ngủ qua đêm.

 

Tôi rùng mình:

 

– Tôi mà gặp những đôi mắt xanh lè trong bóng đêm là ngã bất tỉnh rồi trước khi kịp nhận ra đó là mắt con nai tơ.

 

–  Chỉ có tôi và nai trong đêm khuya, chúng tôi như bạn hiền, bạn tri kỷ.

 

Tôi chưa hết lo sợ:

 

– Thế anh có nhìn ra phía nhà kho hoang phế trước sân nhà anh không? Lỡ… có ai núp trong đó và… bước ra vẫy tay chào anh. Còn căn mobile home anh Mễ không chịu ở, bỏ trống phía sau nhà anh nữa, lỡ có… hồn ma bóng quế nào vào đấy tá túc và trong những đêm khuya canh vắng mưa gió chập chùng hồn ma đến gõ cửa nhà anh cho đỡ đơn lạnh, lẻ loi?

 

Chủ nhân kêu lên:

 

– Trời, đầu óc chị giàu tưởng tượng quá chừng. Tôi chưa bao giờ nghĩ ra điều này.

 

Tôi chưa buông tha:

 

– Thôi thì anh không sợ ma chết nhưng anh biết sợ ma sống chứ? Nếu như có kẻ lạ vào đây anh tính sao?

 

Thấy tôi vẽ ra bao cảnh hãi hùng, chủ nhân không thèm trả lời cho mỏi miệng, anh ta dẫn chúng tôi đi đến từng góc nhà góc bếp, nơi nào cũng có dựng sẵn hai cây súng trường, súng để khơi khơi như que củi và trong phòng ngủ thì anh thủ sẵn khẩu súng lục, anh giơ cao túi đựng những viên đạn và khẩu súng lục lên khoe, vô tình một vài viên đạn rơi xuống sàn làm tôi hoảng hốt nhảy ra xa và hét lên:

 

–  Ối giời ôi! Đạn!!!

 

Chủ nhân bật cười:

 

–  Chị nhát gan nên tưởng ai cũng nhát gan. Ha ha… Này nhé từ ngoài ngõ vào đến sân nhà khoảng nửa dặm đường, kẻ lạ bước vào là sai trái rồi, 3 con chó dữ của tôi sẽ xông ra cho tôi đủ thời gian lên đạn phòng vệ.

 

Chúng tôi ăn uống và chuyện trò đến chiều thì chuẩn bị ra về, chủ nhân bưng ra vỉ trứng gà và hũ trứng muối to tổ bố, giới thiệu:

 

– Trứng gà của farm người Việt Nam bên cạnh biếu tặng, farm tôi nuôi gà thịt, farm kia nuôi gà đẻ trứng. Tuy gọi là “bên cạnh” nhưng vẫn “ngàn trùng xa cách”, cả tháng dễ gì thấy mặt nhau. Đây là trứng gà hai tròng không ấp được nên chủ trại tha hồ ăn hay cho hàng xóm thay vì vứt bỏ, tôi ăn trứng không hết nên làm trứng muối khô, nhúng trứng vào rượu mai quế lộ rồi lăn trứng vào muối, xếp vào hũ đậy lại 4 tuần là ăn được. Thơm ngon lắm, tặng khách ăn lấy thảo.

 

Tôi thích thú:

 

– Trứng gà hai tròng hèn gì to quá, cứ tưởng trứng ngỗng hay trứng gà tây, tôi thích trứng muối khô không cần nước này lắm.

 

Tiễn chúng tôi ra xe ba con chó cũng xôn xao cùng chủ nhân, chúng luẩn quẩn bên chúng tôi như lưu luyến phút chia tay. Chủ nhân giơ tay chào chúng tôi và nói:

 

– Chốc nữa tôi lại rảo qua 8 chuồng gà để xem lần cuối có con nào chết không rồi mới yên tâm cho buổi tối đi ngủ.

 

Thì mỗi con gà là tiền của anh ta mà, bao nhiêu gà bao nhiêu trọng lượng là bấy nhiêu tiền, nếu để gà chết nhiều thì income cũng hao theo. Công việc nào cũng có những vất vả khó khăn của nó, đồng tiền chân chính nào cũng có tâm huyết và mồ hôi của con người.

 

Xe chạy ra khỏi cổng trang trại, chiều đang xuống dần. Trại gà nơi hoang vắng theo tôi trên đường về. Tôi đang nghĩ đến chốc nữa chủ nhân trại gà lái chiếc xe nông nghiệp chạy trên con đường đất đầy bụi, chân anh đi đôi giày ủng cao, tay anh đeo găng và anh sẽ gõ cửa vào trại gà, căng mắt nhìn trong đám gà xớn xác chạy quẩn vào nhau ấy để tìm con nào nằm lật ngửa thì cứu chúng, đỡ chúng dậy, con nào nằm chết bất động hay yếu ớt loạng choạng thì mang chúng ra khỏi tập thể gà đông đảo khỏe mạnh kia.

 

Rảo qua 8 chuồng gà có nghĩa là kiểm tra hơn 200 ngàn con gà là công việc không nhẹ nhàng nhanh chóng. Vậy mà anh ta nói “rảo qua” cứ tưởng như một cuộc đi dạo chơi thú vị. Mong rằng xong việc tối nay anh sẽ có giấc ngủ bình yên, đừng có tin báo động nào vào trong cell phone của anh để dựng anh thức dậy giữa đêm khuya canh vắng.

 

Tôi về đến nhà lúc 8 giờ tối, đứng trước cửa nhà mình, nhìn xung quanh nhà cửa san sát liền nhau, này bên phải là nhà anh Mỹ đen, bên trái nhà bác Mễ, đối diện là nhà chị Mễ và phía sau lưng nhà tôi là khu apartment đông đúc. Tôi cảm thấy ấm áp làm sao, những hàng xóm thân quen của tôi bỗng dễ thương làm sao. Thế mà có lắm lúc cao hứng tôi ước mơ bán quách căn nhà này đi, tom góp tiền để “pay-down” sang một trại gà, để được làm giàu mau chóng và để được sống trong cảnh yên ả nên thơ của trang trại mà tôi từng vẽ ra trong đầu.

 

Đó chỉ là một giấc mơ hoang đường. Vì tôi chẳng có tiền triệu để nhảy vào kinh doanh một trại gà và vì tôi là một kẻ nhát gan, sợ đủ thứ. Sợ thất bại, người ta làm ăn thành công tới phiên mình thì thua lỗ. Sợ trộm cướp ban ngày và sợ ma ban đêm nơi trại gà mênh mông vắng vẻ chẳng thấy mặt mũi hay bóng dáng người láng giềng nào.

 

Hôm nay được tận mắt thấy trại gà chẳng thơ mộng như tôi tưởng, được tận tai nghe chủ nhân trại gà kể những thuận lợi và vất vả khó khăn. Giấc mơ của tôi bay mất.

 

Vào nhà thay đồ xong tôi cảm thấy đói bụng, lục cơm nguội ra ăn với chút đồ ăn còn trong tủ lạnh tôi thấy bình yên và thoải mái trong căn nhà đèn sáng choang, ngoài kia có nhà cửa hàng xóm đông vui, thỉnh thoảng có tiếng xe chạy qua chạy lại. Còn giờ này nơi trang trại hẻo lánh xa phố xa nhà, nơi không có lấy một cột đèn đường trên 250 acres đất, chỉ có rừng cây và bóng tối, anh chủ nhân trại gà đã lái chiếc xe nông nghiệp từ nhà đến chuồng trại, mò mẫm đi qua từng sân trại lổn nhổn đá cục để rảo hết lượt 8 chuồng gà chưa nhỉ?

 

Nguyễn Thị Thanh Dương

 

Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.