Hôm nay,  

Tuổi mười bảy

03/05/202220:21:00(Xem: 3889)

Truyện ngắn

girl-love-cartoon

 

Em mười bảy xinh đẹp, mộng mơ

Như vạt nắng dưới sân tình cờ

Có chàng đi qua bên cửa sổ

Rộn ràng em viết xuống thành thơ

(Kim Loan)

 

Đọc những dòng chữ trong cuốn nhật ký của con gái, lòng tôi khựng lại, bồi hồi. Chẳng phải vì tôi đang đọc lén. Cuốn nhật ký này, Amanda viết lúc nó đang học High School, hay nói chính xác hơn là năm học lớp Mười Một, tuổi mười bảy.

 

Sau khi tốt nghiệp phổ thông, tiếp theo là sáu năm dài trên giảng đường Đại Học và hiện đang đi làm Registered Nurse hơn một năm nay, nó đã bỏ cuốn nhật ký học trò vào trong mấy thùng cartons chứa các tập vở, giấy tờ, tài liệu cũ và để dưới nhà kho basement, là nơi chúng tôi sẽ gom góp lại mang đi bỏ rác “recycle” mỗi năm khi xuân tàn chuẩn bị đón hè sang. Không biết nó cố ý hay vô tình để lạc cuốn nhật ký, nên tôi cầm lên xem và sẽ giữ lại giùm nó.

 

Đó là cuốn notebook xinh xắn màu hồng, có nơ nhỏ xíu ngoài bìa, tuy khá dầy nhưng nó chỉ viết vài chục trang. Mỗi trang có ghi ngày tháng nơi góc phải trên trang giấy, viết ra những vụn vặt linh tinh với bạn bè cùng lớp, với mấy đứa bạn gái thân quen mà tôi còn nhớ mặt nhớ tên. Nào là đi ăn kem với Paulette, cô bé người Việt dịu dàng cùng xóm. Nào là cãi nhau với Atoosa, cô bé “hoa khôi Iran” đẹp như người mẫu và thân nhất với nó. Nào là buổi chơi bóng chuyền tại trường vui nhộn. Nào là ba má mới mua cho nó chiếc xe đạp.  Đến mấy trang sau thì viết dài hơn, nhắc đến một nhân vật đặc biệt, dĩ nhiên là nó viết bằng English (vì nó chỉ biết nghe và nói tiếng Việt khá rành rẽ), tôi xin tạm dịch lại đại khái như sau:

 

“Anh Huy ơi! Vậy là hai đứa mình đã quyết định không gặp nhau. Không phải lỗi nơi anh, cũng không phải lỗi nơi em, chúng ta chẳng ai có lỗi, có chăng là không thể phù hợp nữa. Thời gian qua, những tháng ngày hai đứa mình dạy Giáo Lý có nhiều kỷ niệm. Em vẫn nhớ những buổi sáng mùa đông tuyết rơi ăn Pizza sau giờ dạy do Cha Xứ đãi. Em nhớ lần chuẩn bị cho tiệc Halloween, mấy đứa “học trò” nhí nhố dễ thương hết sức. Em nhớ… em nhớ nhiều lắm, và em biết anh cũng không quên. Nhưng có một chuyện, anh nhớ hay không: đôi giầy cao gót màu bạc có dát ánh kim lấp lánh của em mà anh đã cầm giùm em suốt đêm ca nhạc gây quỹ của giáo xứ. Đôi giầy đó, em vẫn đang giữ nó như một kỷ vật của tụi mình, ngay ngắn trong chiếc hộp trong phòng học của em đây…”

 

Huy và Amanda cùng trong nhóm thanh niên trẻ của giáo xứ, tình nguyện dạy Giáo Lý cho các em nhỏ trong nhà thờ sau mỗi Thánh Lễ Chúa Nhật. Lúc ấy Amanda mười bảy tuổi, còn Huy hơn nó bốn tuổi, đang là sinh viên năm thứ hai ngành Engineering. Một hôm về nhà nó nói với tôi:

 

– Mẹ ơi, anh Huy xin số phone của con, và con đã cho rồi, có được không mẹ?

 

Tôi cười với nó:

– Con đã cho rồi thì hỏi mẹ làm gì?

 

Nó hơi mắc cỡ:

– Tại vì dạy Giáo Lý chung với nhau mà không cho cũng kỳ sao á! Với lại, anh Huy có thể hỏi anh trưởng ban Giáo Lý số của con được mà.

 

– Mẹ đùa thôi, bạn bè trong xứ, trong trường lớp, ai hỏi số phone cũng được, có gì sai đâu nà!

 

Tôi cũng hiểu, ở lứa tuổi mười bảy là thời điểm bắt đầu có thêm mối quan hệ với các bạn khác phái là chuyện bình thường. Thế là hai đứa thân nhau, ngoài giờ dạy Giáo Lý, còn là những buổi đi Mall chơi, mua sắm, uống café. Có lần nó mang về khoe chiếc Starbucks Coffee Mug:

 

– Mẹ! Anh Huy tặng con cái mug này. Ảnh nói khi lên Đại Học con sẽ cần nó để uống café mỗi khi chạy đổi giờ trên giảng đường, nhất là khi trời đông lạnh.

 

Rồi nó để trên kệ sách, chưa dám xài đến, vì muốn để dành đúng lúc vào Đại Học như lời Huy dặn. Tình cảm tuổi mới lớn, mong manh như sương khói, dễ tan theo mây trời, rồi hai đứa chia tay. Nó buồn, nhưng tuổi trẻ cũng mau quên, trở lại hồn nhiên với bạn bè. Một buổi tối nó đưa tôi xem một tấm hình, là hình mấy đứa con gái trong nhóm múa của Nhà Thờ. Tôi nói:

 

– Mẹ nhớ đây là ngày văn nghệ gây quỹ, mẹ làm MC, mấy đứa con múa mở màn, đứa nào cũng xinh đẹp, phơi phới, cái tuổi mà không cần điểm phấn tô son vẫn đẹp rực rỡ.

 

Nó hồ hởi:

 

– Bữa đó sau khi múa xong, tụi con thấy còn sớm nên kéo nhau ra ngoài park chụp hình, anh Huy đi theo chụp cho cả nhóm. Được một lúc, chân con bị đau, sưng phồng lên vì mang giày cao gót chưa quen, con phải tháo ra. Vậy là anh Huy cầm giày của con đi theo tụi con cả buổi tối.

 

Rồi nó bật cười:

 

– Cũng may bữa đó mẹ có dư đôi dép nên sau đó con có dép mang, còn anh Huy để quên đôi giày của con trong xe của anh ấy khi chở tụi con về lại nhà hàng văn nghệ. Đến tuần sau đi dạy lớp Giáo Lý, anh bỏ đôi giày vào trong cái hộp thiệt đẹp, ảnh nói Cinderella làm rớt có một chiếc giày, còn con thì… cả đôi!

 

Thì ra đó là đôi giầy nó ghi trong nhật ký, “sẽ nâng niu kỷ niệm” ngày thơ. Tôi âu yếm nhìn con, rồi nhớ cái tuổi 17 của mình.

 

Mùa hè năm đó, trên đường đi học thêm về nhà, tới đoạn đường rầy xe lửa gần Ngã Năm trời đổ mưa tầm tã, bánh xe đạp của tôi trơn trợt trên đường rầy làm tôi té sấp xuống đường, môi sưng vù, máu me chảy khắp miệng và hai cái răng cửa bị bể. Ngày hôm sau anh tôi chở tôi đến một nha sĩ nổi tiếng ở Tân Định, kết quả là không cứu vãn nổi, đành giữ lại chân răng còn tốt, rồi khoan ốc vít gắn hai cái răng (giả) vào. Thuở ấy, kỹ thuật nha khoa ở Việt Nam chưa tiến bộ, họ không có răng tạm thời cho mình trong thời gian chờ đợi, nên tôi phải chịu hai tuần lễ trống hai răng cửa (“hàng tiền đạo” bỏ ngỏ). Trong xóm có anh chàng để ý tôi nhưng chưa bao giờ dám bày tỏ, nhà chàng ở cạnh nhà nhỏ bạn thân của tôi, chắc nhỏ "thèo lẻo" chuyện tôi “bị nạn”, chàng liền lấy hết can đảm đến nhà sau khi uống hết một lon bia (sau này nhỏ kể tôi nghe thế). Tôi ra mở cổng, phải mỉm cười... e lệ bất đắc dĩ để che đi sự trống vắng của hai chiếc răng cửa (hồi đó chưa có khẩu trang thông dụng như bây giờ). Anh ấy nói:

 

– Nghe tin em bị ngã đau lắm nên anh đến thăm.

 

Tôi vờ vĩnh để ngón tay trỏ lên môi… làm dáng và đáp lí nhí:

 

– Dạ cám ơn anh, mà anh về đi, miệng em đang đau không muốn tiếp ai hết á!

 

Chàng năn nỉ:

 

– Anh chỉ muốn vào nhà nói chuyện với em một chút, mười phút thôi, nhé?

 

Không thể dùng dằng nơi cổng, sợ hàng xóm nhìn thấy “dị òm”, tôi đành mở cổng mời anh vào. Suốt buổi nói chuyện, tôi luôn là người lắng nghe anh nói, thỉnh thoảng điểm thêm nụ cười mỉm và khi cần nói lại để bàn tay che miệng, nói lí nhí anh càng tưởng tôi đang cảm động, đang bối rối nũng nịu điệu đàng làm duyên làm dáng với anh.

 

Khi chia tay tôi ra về, anh chàng hồ hởi sung sướng lâng lâng như bay trên chín từng mây, vội về vườn sau nhà hái một rổ mận sọc, nhờ đứa em mang đến cho tôi, cây mận nhà anh ấy nổi tiếng sai trái, ngọt lịm. Tôi đã ăn hết sạch rổ mận trong một buổi chiều (dù thiếu… hai cái răng), còn tình của người ta thì tôi không đáp lại.

 

Dù sao, con gái tôi còn có cái coffee mug và đôi giày kỷ vật, còn tôi chỉ có giỏ mận mà tôi đã… ăn hết từ lâu. Riêng đôi giày đó, với ngần ấy thời gian, với mấy mùa “cleaning đầu hè”, với lần dọn từ căn nhà cũ qua căn nhà mới hiện nay của gia đình tôi, đôi giày cũng không còn nữa (tình cảm đầu đời như chiếc lá thu phai). Nhưng có điều chắc chắn, là đôi giầy của nó, cũng như giỏ mận của anh hàng xóm của tôi, vẫn còn mãi trong ký ức long lanh của tuổi 17 ngọt ngào.

 

Đẹp như một giấc mơ!

 

Kim Loan

 

Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
Tình yêu không phải là thứ ngôn ngữ nói ra, mà là ngôn ngữ để giữ kín! Tôi đã chôn kín hình ảnh đẹp nhất một đời người. Bây giờ người con gái năm xưa đang ở đâu, sống ra sao trong vạn nẽo đường trần hệ lụy. Có còn nhớ cơn mưa bong bóng chiều nào nơi hiên ngôi chùa nhỏ? Có còn tìm thấy những cơn mưa bong bóng bên đời? Hay tất cả đã phôi pha, đã trôi theo những giọt mưa bong bóng một thời đã mất?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.