Hôm nay,  

Ngôi nhà

02/07/202209:45:00(Xem: 4440)

Truyện ngắn

DinhCuong_(10)

 

 Nàng đi qua một căn nhà có vườn đằng sau, đẩy cửa bước qua hàng rào trắng bằng gỗ, đi sang khu vườn bên cạnh. Một chiếc áo sơ mi sọc ca-rô nâu đỏ khá mới vắt vẻo trên một móc treo trên hàng rào gỗ như còn ướt hơi sương sớm.

 

Đột nhiên nàng đứng trước một ngôi nhà hai tầng xây góc xéo ở điểm giao giữa hai con đường tráng nhựa, người ta cố tận dụng một khoảng không gian hẹp, một điều hơi lạ lùng trong các thành phố rộng lớn ở Bắc Mỹ, nhưng hoàn toàn có lý ở đây, nơi cuộc sống đắt đỏ nhất và nhà cửa đắt nhất ở đất nước này. Căn nhà xéo dốc xây gạch màu vàng nâu hình chữ V, như một chiếc bánh đúc cắt hẹp, một miếng lego xéo góc con gái nàng hay bày ra giữa sàn nhà. Mặt ngoài, ở gần tầng một, có một tấm băng-rôn lệch mép của một hàng bún cua. Bún cua? Ở đây? Nàng ngạc nhiên.

 

Một bông anh đào rớt xuống chạm nhẹ vào tay. Hoa ở đâu? Nàng nhặt lên, có hai đứa bé trai trạc tuổi nhau chạy giỡn xô vào nàng. Một đứa lí nhí nói lời xin lỗi đứa kia vẫn đang cười hớn hở. Chắc có chuyện gì vui lắm.

 

Cánh cửa trắng ở góc xéo nhất của ngôi nhà mở ra. Một người đàn bà đẹp xuất hiện, mỉm miệng cười gượng gạo nhìn nàng, nhưng cũng mời nàng vào nhà. Người đàn bà lấy từ trong kệ sách ra một quyển sách dày và bắt đầu ký tên ở trang đầu, bằng cây bút Montblanc Platinum nàng được tặng nhân ngày tốt nghiệp. Bút của tôi, nàng định nói nhưng không mở miệng được. Chăm chú nhìn vào trang sách. Nét chữ đẹp và mảnh khảnh. Marilyn, một cái tên đẹp. Một ngọn gió lùa ngang và trước mắt nàng hai chữ "Mari" biến mất. Người đàn bà ngẩng lên nhìn nàng một cách kiêu hãnh: "Tôi là Lyn".

 

Nàng đưa tay định cầm lấy cây bút của mình, dẫu người đàn bà chẳng hề có ý định đưa cho nàng quyển sách. Chợt một người đàn ông xuất hiện cầm lấy quyển sách và cây bút từ tay người đàn bà, vui vẻ chào hỏi: "Bút đẹp lắm, của em phải không?" Lại đặt tất cả lên kệ sách. "Ơ, tại sao?" Người đàn ông lấy từ trong túi ra một chiếc khăn mùi xoa màu xanh đậm tự nhiên buộc lên cổ nàng, ngắm nghía, khen đẹp rồi vuốt tóc nàng. Nàng không phản đối. Người đàn bà có vẻ khó chịu ra mặt. Người đàn ông lại nói: "Thật là nhớ em!"

 

Một đứa bé gái trạc 7, 8 tuổi níu tay nàng nhìn người đàn ông vẻ nghi ngại. Kéo tay nàng chỉ vào cánh cửa mở ra đường cái. Người đàn ông đưa cho nàng một xấp giấy in đầy bảng biểu. Cây bút đã biến mất, quyển sách yên lặng nằm trên kệ sách ngăn cao nhất. Nàng ngạc nhiên cứ tưởng lẽ ra mình được nhận quyển sách đó. Đứa bé gái thánh thót: "Đi đi, mẹ ơi!" Người đàn bà đột nhiên thốt lên giọng đầy cay đắng. "Cô biến khỏi nơi này và đừng bao giờ trở lại". Nàng ngạc nhiên "Nhưng tôi chưa bao giờ đến đây". Người đàn bà chỉ vào những khung tranh trên tường "Cô nhìn xem, có phải ảnh của cô không?" Những bức tranh trong vùng tối mờ như một cái gì che giấu, nàng nghĩ thầm, nếu cô ta không thích thì cứ dẹp đi tại sao lại phải treo tranh. Tranh rất nhòe, nàng không nhìn ra gì cả, tuy nhiên có một bức vẽ trực diện cô gái nhìn thẳng, cổ quấn khăn choàng với mái tóc vừa kéo thẳng và một nụ cười rạng rỡ. Giật mình, hình như là mình. Nàng chưa bao giờ có tranh treo ở đâu cả, thậm chí chưa hề làm mẫu cho một bức tranh nào. Không ai vẽ nàng cả. Có lẽ chỉ là một sự trùng hợp, nàng nghĩ.

 

Người đàn ông nắm lấy tay nàng, "Giờ làm việc của anh có thay đổi. Đi, chúng ta đi xem ngôi nhà mới". Mười lăm phút lái xe sang một khu vực gần đó. Khu VF. Nhà hẹp, không mới. Cửa màu xanh. "Tại sao anh lại dắt em đến đây?" "Đây không phải nhà chính của chúng tôi, chỉ là nhà cho thuê, vừa mua vào năm ngoái, nhưng tôi không muốn đưa em về nhà mình". "Chẳng phải ngôi nhà vừa rồi là nhà anh đấy sao?" "Đó chỉ là ngôi nhà cũ trong quá khứ, em vừa nhìn thấy một hình ảnh thoáng qua thôi". Số nhà 1394. Thật không?

 

Anh ta bắt đầu hôn nàng. Nàng cố cưỡng lại, rồi không cưỡng lại nữa và bắt đầu nồng nhiệt hôn anh ấy. Như trong một giấc mơ hoang đường nhất. Tan chảy. Xấp giấy bảng biểu trong tay rơi xuống, không hiểu sao nàng nhớ con số 747,040. Có vẻ là một số tiền. Có vẻ là một mật mã. Khung cửa số 4. Một tờ báo có tên "Ngày Mới" mực đã xỉn màu, cũ lắm, cũ lắm, rơi ra cùng xấp giấy. "Trước khi anh lấy vợ." Người đàn ông nói, như giải thích. Và lại hôn nàng. Tất cả, nhòe đi, nhòe nhạt, tan loãng.

 

Nàng phát hiện mình đang gục đầu trước bàn ăn cá nhân trên máy bay. Một quyển tiểu thuyết bên cạnh, "Mùa vĩnh cửu", hay là “Mùa vĩnh hằng nhỉ”, nàng dụi mắt. Có những thành phố được đặt tên theo những loài hoa. Người đàn ông đã biến mất. Những đứa trẻ đã biến mất. Tờ giấy có con số ở trước mặt nàng. Nhìn kỹ, là số 767,040. Là số tiền. Doanh thu của một doanh nghiệp nào đó. Ước lượng. Nàng lúc lắc đầu. Tại sao. Giấc mơ. Hay sự thật. Người đàn ông đó là ai. Hình như là một người quen thuộc lắm. Người yêu? Nàng không nhớ ra.

 

Tiếng loa vang lên "Chúng ta đang hạ cánh xuống sân bay Victoria Airport. Đề nghị hành khách ngồi yên tại chỗ và thắt dây an toàn đến khi máy bay ngừng hẳn". Thành phố chữ V.

 

– Trần Hạ Vi

 

Má ơi! Thế giới vô thường, thay đổi và biến hoại trong từng phút giây nhưng lòng con thương má thì không biến hoại, không thay đổi, không suy hao. Nguyện cầu ngày đêm cho má, hướng phước lành đến cho má. Cầu chư Phật, chư Bồ Tát, chư hiền thánh tăng ba đời mười phương gia hộ má vượt qua đau bệnh để sống an lạc trong những ngày tháng tuổi già bóng xế.
Truyện đầu tiên kể nơi đây là kể về một tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca. Khi đó, ngài được gọi là một vị Bồ Tát. Ngày xưa rất là xưa, có hai người thợ săn, là hai vị thủ lĩnh của hai ngôi làng gần nhau. Hai vị trưởng làng đã lập một giao ước rằng nếu con của họ tình cờ khác giới tính, họ sẽ sắp xếp cho hai đứa con này kết hôn với nhau. Đó là một thời phần lớn hôn nhân là do sắp xếp của ba mẹ. Một vị trưởng làng có một cậu con trai được đặt tên là Dukūlakumāra, vì cậu bé được sinh ra trong một tấm vải bọc đẹp; vị trưởng làng kia có một cô con gái tên là Pārikā, vì cô bé được sinh ra ở bên kia con sông. Khi chàng trai và cô gái lớn lên, cha mẹ hai bên đã kết hôn cho hai người con này. Tuy nhiên, chàng trai Dukūlakumāra và cô gái Pārikā đã có nhiều kiếp tu, cùng giữ hạnh trong sạch, cho nên cô dâu và chú rể cùng cam kết bí mật với nhau rằng hai người sẽ ở chung nhà như vợ chồng, sẽ yêu thương nhau như vợ chồng nhưng sẽ không làm mất hạnh trong sạch của nhau.
Rõ ràng thằng bé đã thức. Nhưng khi An bước đến bên giường, mắt cu cậu nhắm tịt lại vờ như đang ngủ. An cù vào nách con : — Giả bộ này. Giả bộ này… / Bin uốn éo người, cười khanh khách. An xốc con dậy, hôn vào đôi má phúng phính: / — Con đánh răng rồi ti sữa cho ngoan nhé. Mẹ đi làm đây. / Bin choàng vòng tay nhỏ xíu quanh cổ mẹ, giọng ngọng nghịu: / — Mẹ ứ đii… / Bà đưa tay đỡ lấy cu Bin: / — Sang đây bà bế. Chiều mẹ lại về với Bin nào. / Chỉ nũng nịu với mẹ chút thôi, chứ Bin rất ngoan. Chưa bao giờ em khóc nhè, vòi vĩnh như những đứa trẻ khác. Sự hiểu chuyện của con, nhiều khi làm An nghe buốt lòng.
Chiếc ghế đá hầu như rất quen thuộc, dù nó cũng như mọi chiếc ghế khác trong công viên. Tháng Sáu. Bầy ve kêu inh ỏi. Chúng vô tư thật! Đoan ngồi xuống. Mấy buổi chiều nay, tan học, Đoan ghé khu vườn rộng lớn này, như một người trở về, cảm giác thật khó tả. Chợt nghe trong đầu vẳng lại lời của một bài thơ:
Cuộc đời trung úy Đỗ Lệnh Dũng, một sĩ quan VNCH, là biểu tượng bi tráng của lòng trung thành, khí phách giữa chiến tranh tàn khốc, và là minh chứng cho nỗi đau kéo dài của những người lính và thương phế binh miền Nam sau cuộc chiến.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.