Hôm nay,  

Bông Hoa Trên Phím

14/07/202214:29:00(Xem: 3866)

Đoản thiên

hoangquan
Ngày Chủ Nhật -- Tranh Đỗ Tuấn Huy.

       

                                               

Tôi nhận được thư điện tử của thầy Bùi Thế Dũng, vắn tắt và khách sáo: “Cô Thúy, tôi sẽ sang Bỉ vào tháng Chín. Tham gia ban giám khảo cuộc thi guitar quốc tế Cung Đàn Mùa Xuân (Printemps de la Guitare). Tôi sẽ thông báo khi có tin tức cụ thể. Dũng”. Tôi trả lời thư, vắn tắt và khách sáo, cho “môn đăng hộ đối” với thầy: “Rất vui mừng khi nghe tin thầy qua Âu châu. Sẽ sắp xếp để gặp thầy”. Rồi tôi nghỉ phép thường niên, gần bốn tuần lễ. Trước khi đi xa, tôi làm thông báo vắng mặt, để khi ai gởi thư đến, biết rằng, tôi không có ở văn phòng. Trong trường hợp khẩn cấp, liên lạc đến Michael, là đồng nghiệp thay tôi. Tôi cho Michael địa chỉ hotmail của tôi, phòng trường hợp cần kíp liên lạc. Michael biết ý tôi, cười nói:

 

– Chỉ khi nào ngân hàng Mỹ “nuốt” ngân hàng mình, mới liên lạc với Thúy. Nói Thúy ở luôn bên Mỹ cho tiện. Ngoài ra, cứ xem như Thúy nghỉ hè trên hoang đảo, không có điện.

 

Tôi về lại Đức sau mấy tuần rong chơi xứ Cờ Hoa. Còn lại vài ngày để dưỡng sức... sau khi nghỉ hè. Nhận được email của Michael. “Thúy ơi, đi chơi vui không? Tôi nhận thư của một người Việt. Tôi chẳng hiểu gì cả. Nhưng đoán là gấp và quan trọng, vì người gởi đã chuyển cho tôi. Tận hưởng những ngày nghỉ còn lại đi nhe. Michael”. Tôi đọc thư thầy Dũng gởi về địa chỉ của Michael. Thư dài hơn và bớt khách sáo. “Thúy ơi, tôi sẽ đến Bruxelles vào ngày 04 tháng Chín. Chương trình thi kéo dài đến 20 tháng Chín. Chấm thi xong, tôi được tự do đi bụi. Nếu được, các cô sắp xếp cho tôi chương trình đến thăm hai bác và cả nhà. Chở tôi đến một tiệm sách thật lớn, quẳng tôi ở đó nửa ngày. Cho tôi ăn thử các món đặc sản của Đức và uống bia Đức. Hẹn gặp lại. Dũng”. Tôi vội vã trả lời thầy và liên lạc với chị em trong nhà báo “hỉ tín”. Một người học trò cũ của thầy, Tiến, liên lạc với tôi để kết hợp chương trình khi thầy sang Đức. Tiến gởi cho tôi thông tin về cuộc thi Cung Đàn Mùa Xuân. Thầy Bùi Thế Dũng sang Bỉ tham gia ban giám khảo. Đây là một trong những cuộc thi guitar lớn, dành cho các nghệ sĩ guitar khắp nơi trên thế giới. Đọc các bài báo viết về thầy, tôi càng nể thầy hơn. Tôi tiếc, không nghe được bài phỏng vấn thầy trên đài BBC. Tôi khoe với bạn đồng nghiệp về thầy Dũng và “nổ” rằng, tôi đã một thời là học trò của danh cầm này. Bạn bè ở quê nhà kể cho tôi nghe, rằng, thầy Dũng ở Việt Nam bây giờ nổi tiếng lắm, học trò của thầy đem chuông đi đánh xứ người rất đông.                                                                                                                        

Tôi về Việt Nam mấy lần, mà không hữu duyên, nên không gặp thầy. Tôi đến Sài Gòn, thầy ở Hà Nội, hoặc ngược lại. Mãi lần vừa rồi, tôi một hai nhờ người liên lạc với thầy Dũng. Tôi nhất định phải kiến kỳ hình sư phụ sau bao nhiêu năm. Khi tôi đến, thầy đang dạy hai học trò. Thầy Dũng tiếp tôi với khoảng cách vừa phải. Thầy phải giữ uy với học trò chứ. Thầy giới thiệu, tôi là học trò của thầy cách đây mấy chục năm. Bây giờ thành đạt. Đi khắp năm châu, bốn bể. Thầy đưa cho tôi xem những tờ chương trình hòa nhạc tự tay thầy vẽ kiểu và trình bày. Thật mỹ thuật. Hồi xưa tôi đâu biết thầy khéo tay như vậy. Thầy Dũng nhìn tôi như một doanh nhân thành công nơi xứ người. Tôi hơi buồn buồn. Thầy không hỏi tôi có còn chơi đàn không. Mặc dù tôi sợ câu hỏi đó, vì biết mình không có câu trả lời thích hợp. Tôi ra Hà Nội. Thầy gởi gắm tôi cho hai học trò của thầy. Vân Thu là giảng viên Quốc Gia Âm Nhạc. Thầy nhắn nhủ thế nào, mà Vân Thu gọi điện thoại cho tôi, gọi cô, xưng con ngọt xớt. Thì giờ eo hẹp, tôi tiếc không đi chơi với Vân Thu được. Vân Thu nói sẽ tạt ngang khách sạn tôi ở, để chào làm quen. Nhân viên tiếp tân gọi cho tôi, giọng trân trọng:

 

– Thưa chị, có cô Vân Thu, giảng viên Trường Âm Nhạc đang chờ chị dưới sảnh.

 

Tôi đi xuống phòng tiếp tân. Một cô gái, dáng vẻ giản dị, ngồi ở salon chờ. Tôi đoán, đó là Vân Thu. Tôi tiến lại, chuẩn bị một nụ cười. Cô thấy tôi đi tới, nhìn thoáng tôi. Rồi quay đầu, như đang tìm kiếm ai. Tôi đến gần:

 

– Xin lỗi, cô là Vân Thu?

 

– Vâng?

 

– Tôi là Ngọc Thúy.

 

– Ấy chết, chào chị, xin lỗi. Chào cô, em ngỡ cô là bạn ngang lứa của thầy Dũng. Vân Thu lúng túng.

 

– Không sao đâu Vân Thu...

 

Chúng tôi trao đổi với nhau đôi câu. Vân Thu đem tặng cho tôi một dĩa nhạc độc tấu tây ban cầm cổ điển, do Vân Thu trình bày. Là những bản tôi rất thích: Prelude của J. S. Bach, Los Tios De Zaragoza của Cristobal Oudrid... và đã từng mơ sẽ tập, sẽ chơi, và đã có lúc táo tợn mơ ngày trình diễn nữa. Buổi tối, một học trò khác của thầy, Bích Thanh, đến đưa tôi đi chơi Hà Nội. Bích Thanh mời tôi ăn phở Hỏa Lò, nghe nhạc, uống cà phê ở Emperor, đi mua dĩa nhạc độc tấu tây ban cầm. Một buổi tối thú vị. Học trò của thầy Dũng ngưỡng mộ thầy kinh khủng. Bích Thanh có dự thi trong kỳ thi Cung Đàn Mùa Xuân.

 

*

 

Bốn chị em chúng tôi có giờ học đàn guitar với thầy Dũng vào mỗi thứ Bảy. Chúng tôi sắm một giá để nhạc, một giá để đàn và đóng một cái đòn gác chân lúc chơi đàn, trông rất thiện nghệ. Chúng tôi dự định sẽ sắm một cái Metronome đánh nhịp. Theo sự hướng dẫn của thầy Dũng, các mầm non học đàn võ trang đến tận răng. Về kỷ luật luyện tập, chị Thanh Tâm với chị Cẩm Thành hơi nhiều “nghệ sĩ tính”. Hai chị thích đi nghe nhạc, ngắm đàn, hơn là tập đàn. Có lần thầy Dũng ghé nhà chơi, tình cờ lúc đó chị Thanh Tâm đang dợt bài Stille Nacht –  Đêm Thánh Vô Cùng. Ngạc nhiên vì sự kiện đặc biệt, thầy Dũng dí dỏm:

 

– Ủa, tập đàn, lỡ hư tay, làm sao rửa bát!

 

Ngọc Hiền và tôi rất chăm chỉ dùi mài kinh sử. Bài tập nào cũng dợt kỹ càng. Tôi thường tập đàn thật khuya. Thầy nói, đêm khuya yên tĩnh, mình mới nghe rõ tiếng đàn của mình. Hàng xóm bên trái là gia đình nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu, một nhạc sĩ trong chương trình du ca. Gia đình nhạc sĩ và gia đình chúng tôi rất quý mến nhau. Những năm cuối thập niên 70, nhà nhà cùng đói, đói sơ sơ hay đói meo. Thế mà nhạc sĩ vẫn đều đặn dạy xướng âm cho lũ con thật dễ thương của nhạc sĩ: Xì, Xụt, Xíu, Xiu, Xìu, Xịt... Mấy đứa bé, dù không đủ thực, nhưng xem ra đều vực được đạo. Tôi chưa bao giờ cảm thấy phiền hà, khi nghe bầy nhóc tập hát. Có lần tôi được nghe một đối thoại dễ thương kinh khủng. Một bé hỏi bố:

 

– Bố ơi, quả tim và trái tim khác nhau như thế nào?

 

– Quả tim là một bộ phận trong cơ thể con người, có chức năng bơm máu, tuyệt đối cần thiết cho cơ thể con người. Ngoài chức năng đó, khi quả tim biết rung động, biết yêu, thì quả tim trở thành trái tim.

 

Tôi muốn góp chuyện thêm rằng, không có quả tim thì chết. Nhưng quả tim chỉ đơn thuần vai trò quả tim, thì chưa gọi là sống được. Hồi đó, tôi đã thấy quá đúng. Sau này, nghiệm lại, diễn giải đó quả là chân lý. Nghe những nhạc phẩm như: Trái Tim Không Ngủ Yên, Trái Tim Ngục Tù, Trái Tim Mùa Đông, Trái Tim Còn Trinh (Bản nhạc dịch, với tựa nhạc nghe rất “ngộ”. Này hỡi con tim xinh xinh, vì yêu quá nên tim lao đao gập ghềnh..) trong trái tim tôi cũng có chút rung động không nhiều, thì ít. Còn nghe tới quả tim, trong trí tôi hiện lên tô cháo lòng, thơm tiêu hành, cay sướt mướt, ăn với giò cháo quảy. Càng nghĩ nhiều đến quả tim, lại càng muốn chết đuối trong suối... nước miếng đang tuôn ra rạt rào. Hàng xóm bên phải là gia đình bác Hoàng, bác rất hiền. Thế mà ông Thịnh con trai bác, khó chịu quá sức. Cây ngọt lịm, sao trái đắng nghét. Có lần tôi đang miên man chạy nốt, đô, rê, mi, fa, sol, la, si... Ông đứng sát vách, nói trổng:

 

– Ồn ào quá, bà già phải ngủ. Mai còn đi bán hàng sớm.

 

Tôi chột dạ. Ngưng ngang. Ông còn chép miệng, phì phò thở ra. Ừ, tiếng chạy nốt chẳng mang nhạc tính nhiều. Nhưng sao ông không gõ cửa nhà tôi, rồi ló khuôn mặt đẹp trai của ông vô. Nhẹ nhàng yêu cầu, có phải đề huề, tình lân lý vẫn đẹp. Nhà tới bốn bóng hồng, không chừng lại có mối tình chung vách. Tôi phải chấm dứt đàn trong đêm vắng. Tôi cất đàn, nhưng không bỏ cuộc. Lời thầy nói là khuôn vàng, thước ngọc. Tập đàn ban ngày nhiều tạp âm lắm, mình không kiểm soát được tiếng đàn của mình. Xóm tôi ở, không ai nuôi gà. Tôi tự nhiên đảm nhận vai trò truyền thống của con gà trống gáy. Sáng tôi dậy thật sớm, chăm chỉ tập tremolo, là la la la... Ông Thịnh cáu lắm, nhưng có lý do nào nữa đâu. Đáng kiếp! Nghe tiếng ông đóng cửa rầm rầm, thấy mặt ông hầm hầm, dắt xe trước nhà tôi là tôi có... niềm vui len nhẹ trong hồn. May, chứ con chó, con mèo nào vô phước ở nhà ổng, chắc ông giận người, đá vật tan nát.

 

Tập dợt kỹ càng như vậy, mà nhiều khi thầy Dũng đến, thầy không bắt trả bài, làm tôi tiếc công. Thầy nói, nay không có hứng dạy, ngồi tán dóc. Thầy có cả một bụng kiếm hiệp. Thầy kể cho mấy chị của tôi bao nhiêu là chuyện. Tôi dỏng tai, nghe lỏm, mê mẩn. Nếu “tình cờ” chúng tôi nộp tiền học, thầy mời mấy chị em ra khu rạp hát Minh Châu uống cà phê, ăn hoành thánh. Thỉnh thoảng, thầy kêu tôi và Ngọc Hiền lên nhà thầy ở đường Phạm Ngũ Lão học. Nhà thầy ở trên lầu, không có chuông. Thầy dặn, đến, nhớ mang theo ít sỏi, sạn, ném lên lầu. Thầy nghe, thầy xuống mở cửa. Có lẽ nhờ dợt như vậy, tôi được nhiều điểm trong môn ném tạ ở trường. Trên ban công nhà thầy lổm nhổm những sạn và sỏi. Thầy còn phóng đại, kể, “May là tôi ngủ mùng, chớ không thôi, tôi bị u đầu, sứt trán vì tiếng chuông của khách rồi”. Nhà thầy là một thư viện nhỏ. Gia sản của thầy quá sức vĩ đại trong mắt tôi lúc đó. Hàng dĩa nhạc xếp sát nhau, dài tưởng như vô tận. Thầy mở nhạc cho nghe. Bài Valse số 7 của Chopin mơ màng. Tôi đã vì bài Valse này mà đi xem phim Với Cả Tâm Tình của Ba Lan mấy lần. Thật ra, lần thì đi coi với bồ, đi với bạn cùng trường, bạn khác trường, với chị, với em. Khi nghe bài The Maiden’s Prayer hay tuyệt... vọng, tôi để hồn bay bổng, mơ có ngày thầy Dũng dạy cho bài này. Cứ được nghe bản nhạc hay, tôi lại vẽ vời thêm nhiều giấc mơ. Có lần hai chị em đến nhà thầy, thầy bận đi nhậu. Thầy giao nhà cho hai đứa, bắt ngồi ở nhà thầy tập đàn, chờ thầy về. Hai chị em ngồi chờ mòn mỏi, thầy vẫn biệt tăm.

 

Vào một ngày cuối tuần, mùa hè, chúng tôi rủ thầy Dũng đi picnic ở bờ sông Thanh Đa. Hôm đó, rất đông người, có anh Vượng và nhiều bạn bè cùng lớp ở trường Đại Học Sư Phạm đi cùng. Tất nhiên, đi đâu tôi cũng ôm đàn theo. Không khí thật thanh bình. Gió sông nhè nhẹ, phong cảnh hữu tình, gia đình, bạn bè thân yêu chung quanh. Bao năm qua, bây giờ hồi tưởng lại, tôi vẫn có thể cảm nhận được những khoảnh khắc hạnh phúc ngày xưa. Tôi chẳng ngại sư phụ méo mó nghề nghiệp, chê đệ tử chơi chưa đúng kỹ thuật hay gì gì đó. Tôi ôm đàn, chơi những “tác phẩm” ưng ý nhất của mình. Thời gian đó, anh Vượng lúc nào cũng kè kè bên cạnh máy chụp hình. Anh đang theo học lớp nhiếp ảnh nghệ thuật. Thật thuận tiện, anh thích chụp hình, tôi thích có mặt trên tấm hình. Sau đó vài tuần lễ, tôi nghe đám bạn chộn rộn, rủ nhau lên Câu Lạc Bộ Thanh Niên, xem hình tài tử chưa lên mà... sắp xuống. Lên tới nơi, mới hay mình thành “minh tinh”. Số là, anh Vượng gởi tấm hình chụp hai chị em tôi ở bờ sông Thanh Đa đi dự thi. Tấm hình có tựa đề: “Ngày Chủ Nhật”. Tôi ngồi ôm đàn, tay đang gò một hợp âm có vẻ rắc rối, hồn như đắm trong tiếng đàn của chính mình. Chị Thanh Tâm nằm sát bên, đầu gần như gối vào thùng đàn, đang thưởng thức từng điệu nhặt khoan. Tấm hình được giải ba của đợt thi chụp hình nghệ thuật thành phố. Anh Vượng gởi lời cám ơn hai chị em. Tôi vui lắm, vậy mà đôi lời ngọt ngào dễ thương cho anh, dù có nghĩ, tôi chẳng nói cho nên hồn.

 

Thầy Dũng “bắt” tôi và Hiền chơi các bài tập trong Carulli. Hai chị em cũng thích chơi những bản nhạc Việt soạn cho tây ban cầm như Thu Vàng, Hạ Trắng. Bồ của Thanh Nga học lớp tôi là anh Phạm Ngọc Chỉnh, có soạn nhiều bài cho guitar. Thanh Nga khoe và tặng tôi một tập nhạc có chữ ký của tác giả. Hai chị em lén thầy Dũng tự tập những bản nhạc “tự do và trữ tình” này. Có lần thầy Dũng đến, chúng tôi chưa kịp phi tang. Thầy chọc quê:

 

– Chắc có Hiền mới chơi nhạc “sến” như vầy.

 

Ngọc Hiền ấm ức trong bụng lắm, mà đành phải ngậm bồ hòn. Mỗi lần có trình diễn độc tấu guitar, thầy Dũng thông báo nhắc mấy chị em đi nghe. Có khi thầy “chạy” cho ít cái vé mời. Lắm lúc, cuối tháng, chờ quà từ Tây Đức mỏi mòn, chúng tôi phải nhịn ăn để tiền mua vé nghe nhạc. Hồi đó, tụi tôi hay nghe Phùng Tuấn Vũ, Trần Toàn Minh, Trần Toàn Chí (hễ nghe đến tên ông này tụi tôi không nhịn cười được). Có thời kỳ thầy Dũng hay cặp kè với anh Trần Văn Phú, tay đàn Flamenco nổi tiếng Sài Gòn. Anh Phú chơi kỹ thuật rất “ngầu”, nhưng thiếu chất hồn trong nét đàn. Tụi tôi thỉnh thoảng cũng được vé mời “danh dự” của anh Phú. Học trước tôi có Hổ, em chị Ngọc Phấn. Hổ học rất nhanh. Lúc nghe Hổ chơi Asturias (Leyenda), tôi rộn ràng muốn học cho kịp Hổ. Khi thầy Dũng bắt đầu ghi chú các kỹ thuật bấm nốt và gảy đàn cho Variations on a Theme by Mozart, tôi vui sướng vô kể. Tiếc, tôi rời Việt Nam khi vừa mới bắt đầu tập bài này. Tôi nguyện trong lòng, sẽ tập tiếp tục cho hết bản nhạc đó. Bây giờ, tôi biết, chẳng bao giờ tôi có thể chơi trọn bài. Nhìn những chùm nốt nhạc quấn quít lấy nhau, tôi chẳng biết bắt đầu từ đâu.

 

Lần nọ, thầy Dũng ghé lại. Lúc đó chỉ mình tôi ở nhà. Thầy nói, vừa phổ xong hai bài hát, thơ của Trần Dạ Từ và Du Tử Lê. Thầy với tay lấy cây đàn, hát một lèo hai bài. Rất hay, tôi thích. Mấy ngày sau, thầy Dũng tạt qua, nói, cần lại hai bài hát, vì lý do gì đó tôi không hiểu. Tôi tiếc ngẩn ngơ. Tôi quên khuấy, chưa kịp chép lại, chưa kể cho mấy chị em nghe về bài hát. Tôi chỉ nhớ lõm bõm mấy câu... yêu nhau dù một thoáng, là thiên cổ tình nhau, yêu nhau là đã biết, đời nhau mãi ngậm ngùi... ta đi trời một phương... Tôi định, khi nào thấy thầy vui vẻ, sẽ xin thầy cho mượn chép lại. Lúc thầy vui, tôi quên hỏi. Lúc nhớ, lại thấy thời cơ chưa thuận lợi. Mấy chục năm qua, chắc thầy chẳng còn nhớ đến hai bài hát đó nữa.  

                                                                       

Lần khác, thầy Dũng đến với một người lạ. Người đó trông thật nghiêm nghị. Thầy Dũng nghiêm trang, không thoải mái như mọi khi:

 

– Hôm nay Thúy cố gắng chơi cho hay nghe chưa! Anh Ngọc là đàn anh của anh đó.

 

– Dạ. Tôi lo toát mồ hôi hột.

 

Giờ học hôm đó sao mà dài đằng đẵng. Tôi cố gắng hết sức mình, cẩn thận từng nốt. Mắt chăm chăm vào tập nhạc, không chừng miệng há hốc cũng có. Thầy Dũng không khen mà chẳng chê. Ông Ngọc không nói lời nào. Tôi băn khoăn, sợ mình làm bể mặt thầy. Lần sau đến dạy, thầy Dũng kể một cách thích thú. Thầy và ông Ngọc cười một trận đã đời, khi quan sát tôi đau khổ đến như thế nào trong giờ học qua. Ông Ngọc không chơi đàn. Ông là bạn nhậu của thầy. Trời ơi, gian ác đến vậy thôi. Tôi sùng thầy, nhưng không dám hó hé. Thầy Dũng nói, nhận được sứ mệnh của bạn nhậu, nhắn với tôi rằng, ông ấy thích tôi. Thầy Dũng hỉ hả:

 

– Anh cảnh cáo Ngọc rồi. Con Thúy nó dữ lắm. Ngọc nó mặc kệ, bắt anh phải nhắn với Thúy như vậy.

 

– Thúy làm gì mà anh nói Thúy dữ? Tôi hỏi yểu xìu, thấy mình bị oan.

 

Sau đó, cùng đi với chị Thanh Tâm và thầy Dũng, tôi đến nhà anh Ngọc chơi mấy lần. Trước 1975, anh đi lính, ở trại cải tạo một thời gian. Anh Ngọc tính trầm lặng. Anh mang kính cận, ánh mắt qua làn kính thật hiền hậu. Tôi không nhớ, anh đã nói gì với tôi. Còn tôi, hay tía lia, cũng không nhớ, tôi đã nói gì với anh. Hình ảnh của anh Ngọc mờ nhạt trong tôi. Khi tôi rời Việt Nam, anh Ngọc tặng tôi cuốn tự điển Anh Việt thật to. Chắc là anh phải bỏ cả gia tài để mua cuốn sách đó. Tôi chùng lòng khi nghĩ đến điều này. Anh viết nơi trang đầu, “Để Thúy còn nhớ tiếng Việt khi viết thư cho tôi”. Tôi cảm động, tự nhủ sẽ viết thư cho anh. Qua Đức, tôi viết rất nhiều thư, cho Ba Mạ, cho anh em và một lô bạn bè từ tiểu học lên đến đại học... Tôi vẫn nói rành rẽ tiếng Việt, vậy mà tôi chẳng viết được cho anh Ngọc một lá thư. Cuốn tự điển không hiểu vì lẽ gì, lưu lạc trên kệ sách của chị Thanh Tâm. Sau này, về Việt nam, tôi mua rất nhiều tự điển. Tôi định, lúc nào thuận tiện sẽ tặng cho chị Thanh Tâm cuốn tự điển mới, và xin cuốn tự điển xưa về. Ngày mấy chị em rời Việt Nam, thầy ra phi trường tiễn. Thầy tặng bài Giấc Mơ Hồi Hương của thầy soạn cho guitar, “Thân tặng bốn cô học trò rất dễ thương. Hãy luôn nhớ đến Việt Nam...”

                       

*

 

Tôi đếm từng ngày của tháng Chín. Tháng Mười có nhiều điều hứa hẹn. Hai cô bạn thân sẽ đến Munich thăm tôi vào đầu tháng. Tôi quá bận sắp xếp chương trình cho hai cô bạn, nên quên bẵng không theo dõi chuyến Âu du của thầy Dũng. Khi mới nhận thư thầy, tôi đã phác họa sơ chương trình tiếp đãi thầy. Sẽ đưa thầy đến những danh lam thắng cảnh của tiểu bang Bavaria và vùng phụ cận. Thời gian đó, có lễ hội bia Oktoberfest. Đến đó, thầy sẽ thử bia và giò heo nướng. Mấy ngày vui với bạn qua nhanh. Trong suốt thời gian đó, thầy Dũng biến mất trong bộ nhớ của tôi. Khi hai đứa bạn về rồi, tôi vẫn còn bần thần với nhiều tâm sự ngổn ngang và vì nhiều đêm liên tục thiếu ngủ trầm trọng. Ngọc Hiền nhắc tôi gọi điện thoại cho thầy. Thầy hờn rồi đó. Thầy đến Đức cả tuần lễ rồi, chẳng thấy học trò đâu. Đệ tử đắc tội quá. Thầy mở đầu bằng câu chào:

 

– Thúy đấy hả? Sao? Trán có còn dồ như xưa không?

 

– Trời ơi! Ngày xưa dạy, thầy đã đì trò. Bây giờ cũng chưa tha. Mà phải gọi anh Dũng là gì cho phải đạo đây. Đại sư phụ hay sư tổ?

 

– Thúy gọi sao, tôi nghe vậy.

 

Tôi bắt đầu chiến dịch… vừa ăn cướp, vừa la làng:

 

– Trời ơi! Cuối tuần rồi, bị ăn một chầu thịt thỏ, tức bụng gần chết!

 

– Giời đất! Ai mà to gan dữ vậy, dám cho Thúy leo cây?

 

– Thì ai trồng khoai đất này! Anh Dũng hứa sẽ đến Munich. Mà nghe nói, dọc đường gặp bạn nhậu. Vui quá, nên không thèm đi đâu nữa phải không? Đệ tử tiếc công chuẩn bị bao ngày để tiếp đón sư phụ.

 

– Xin lỗi nhé. Tôi đâu có biết là Thúy có sắp xếp để gặp tôi đâu.

 

– Anh Dũng biết không, một chương trình cực kỳ hấp dẫn. Sẽ đưa anh Dũng đi Salzburg, đi thăm lâu đài Neuschwanstein, Linderhof, Nymphenburg. Theo như yêu cầu của anh Dũng, sẽ mời anh Dũng thưởng thức bia của vùng Bavaria và món giò heo nướng ăn với bắp cải chua. Tuần rồi ở Munich là hội bia tháng 10. Anh Dũng chắc đã nghe, đó là hội hè vui chơi lớn nhất thế giới. Năm nay có 6 triệu người đến Munich để dự. Vậy mà anh Dũng lại không là một phần 6 triệu... Tôi hăng hái vẽ.

 

– Thôi, thôi, đừng có kể thêm. Tôi tiếc đứt ruột. Có ai nói cho tôi biết về chương trình này đâu. Tôi mê Munich từ ngày xưa lận. Mơ ngày đến Âu châu, nhất định phải đến Munich.

 

– Chớ không phải anh Dũng có bạn, quên trò sao? –  Tôi bày đặt hờn mát. –  Khi nghe tin anh Dũng qua Âu Châu, Thúy vội vàng liên lạc. Tưởng mình chiếm được tiện nghi. À, phải trong kiếm hiệp người ta nói vậy không?

 

– Ừ, đúng rồi. Ối giời, bây giờ cũng biết đọc kiếm hiệp hả? Tôi tưởng Thúy thành người Đức chỉ biết đọc Goethe, Hesse thôi chứ.

 

– Đâu có, nói tiếng Đức vẫn sặc mùi nước mắm. Máu Việt bảo đảm một ngàn phần trăm. Tôi lại dở bổn cũ. Anh Dũng có nhớ Quách Tĩnh hỏi Châu Bá Thông, có phải ai họ Hoàng là thông minh không?

 

– Nhớ chứ sao không!

 

– Thúy cũng họ Hoàng đó.

 

– Biết rồi, biết rồi! Bao nhiêu cái khôn lanh của thiên hạ, hồi đó Thúy lấy hết, mà bây giờ vẫn còn giữ. – Thầy đổi đề tài. – Tôi thích những đoạn tả tình trong kiếm hiệp, thơ mộng hết sức.

 

– Dạ, ví dụ như lúc sư cô Nghi Lâm săn sóc cho Lệnh Hồ Xung. Lúc cô thấy sao băng, cô mơ ước... Trúng đài của tôi rồi, đoạn này tôi mới đọc cách đây mấy tuần, tôi mở máy.

 

– Ừ, đọc đến đấy tôi cảm động muốn khóc luôn đó. Này, cho hay nhé, tôi cũng là Lệnh Hồ Xung đó.

 

– Thiệt hả! – Tôi kéo dài giọng. Nhớ ông thầy mình hồi xưa lẻ bóng triền miên. Không biết tại kén hay ế. –  Lệnh Hồ Xung có Nhạc Linh San, Doanh Doanh... Mà Thúy nhớ Lệnh Hồ Xung đâu có bệnh hoang tưởng đâu. Tôi tung chưởng, cơ hội hiếm hoi để đáp lễ ông thầy “hắc ám”.

 

– Tôi có Doanh Doanh chứ. Thầy Dũng lúng túng đỡ đòn, đổi đề tài. Thế này nhé, ngày mai tôi xuống Munich. Thúy đi làm ra, mình rủ nhau, chén thầy, chén trò một bữa nhé. Rủ ông xã Thúy đi chung luôn. A, mà ông xã Thúy người Đức hay người Việt?

 

– Dạ, phu quân của tại hạ là chàng trai nước Việt hẳn hoi.

 

– Giời ơi, ông ấy to gan thật. Đây, tôi đọc cho Thúy số điện thoại cầm tay của tôi, để Thúy liên lạc nhé.

 

– Dạ, anh Dũng đọc đi. Mà khó quá, gọi anh Dũng thì được, nhưng xa xôi như vầy làm sao vừa gọi, vừa cầm tay được?

 

– Giời ơi, cô này. Khiếp quá! Đấy, ngày mai nhé.

 

Tôi nghe có tiếng nói của Tiến vọng từ xa.

 

– Từ Cologne đến Munich hơn 700 cây số lận, thầy ơi.

 

Tôi chưa kịp tỏ nỗi âu lo của tôi, thì học trò của thầy đã nói rồi. Thầy Dũng như chợt tỉnh giấc:

 

– Xa quá, Thúy ơi, đi bao giờ mới tới. Thôi, kiếp sau vậy.

 

Thôi, vậy là dịp này không gặp được thầy. Vợ chồng Ngọc Hiền thu xếp chạy lên nhà Tiến, đón thầy về thăm Ba Mạ và đi chơi Frankfurt. Trước khi đi, Ngọc Hiền đã cẩn thận dẹp vào nhà kho cây đàn guitar ngày xưa đem từ Việt Nam qua. Chúng tôi mang qua hai cây đàn, đặt làm ở ông Nguyễn Văn Tâm. Hai năm đầu đàn còn giữ tiếng. Sau đó, cần đàn bị cong nên không xài được nữa. Tôi lấy một cây đàn về, những dây đàn đã chùng, tiếng đàn bị hư hẳn. Tôi lấy bó hoa cưới đã phơi khô, gắn lên đàn, thành một món trang trí có ý nghĩa. Cây đàn, dù vẫn còn hình dáng của nó, nhưng nó lùi vào sau, chỉ là biểu tượng của một đam mê ngày xưa. Bó hoa, biểu tượng của hôn nhân, của bổn phận đứng trước. Hoa và đàn cùng nhau là vật trang trí đẹp trong nhà và trong đời tôi. Tôi nhớ một bản nhạc ngày xưa tôi đã thương: người ơi, tôi thường hay muốn biết với tình hoa thắm thiết, yêu tôi hay yêu đàn... Yêu hoa, yêu đàn và yêu tôi.

 

Thầy đến nhà, như mọi người, thích xem phòng này, phòng kia của nhà. Cuối cùng thầy đảo mắt qua nhà kho, sắp sửa chấm dứt chuyến “tham quan”. Thầy chợt thấy góc nhà có vật gì trông tựa như một nhạc cụ. Méo mó nghề nghiệp, thầy bước lại gần để nhận diện. Ngọc Hiền không biết làm sao để cản “bước tiến” của thầy. Không biết thầy cố nén tiếng thở dài, hay nén tiếng cười phì, khi thấy số phận của cây đàn bỏ quên của cô học trò ngày xưa.

 

Thầy gởi tặng trò Ngọc Thúy và trò Ngọc Hiền mỗi đứa một con búp bê bằng gỗ, một trai, một gái. Sản phẩm làm bằng tay do học trò của thầy làm. Biết được xuất xứ của món quà, tôi cảm động. Tôi đề nghị với Ngọc Hiền, mình sẽ thay phiên nhau trưng đủ cặp búp bê. Chứ chia uyên, rẽ thúy hai con búp bê tội nghiệp. Hai con búp bê bên nhau, dễ thương ghê, đứng chụm đầu trên kệ sách của tôi. Năm nay tôi trưng, sang năm đến phiên Hiền. Nếu Ngọc Hiền không nhớ nhắc, có lẽ tôi sẽ giả bộ quên.

 

*         

 

Tôi ghé tiệm chị bạn người Việt cắt tóc. Trong lúc ngồi chờ, tôi bâng quơ lật tờ báo Văn Nghệ. Tình cờ, tôi gặp bài viết ngắn, nói về bối cảnh lịch sử của bài thơ Hồ Trường. Hơn hai mươi năm trước, lần đầu tiên nghe thầy Dũng đọc bài thơ đó, tôi đã cảm ngay và vội vàng chép lại. Tôi thích bài thơ, nhớ mấy câu: Trời đất mang mang, ai người tri kỷ,/ Lại đây cùng ta cạn một hồ trường. Tôi không hiểu rõ tựa bài thơ. Lúc đó, tôi không dám hỏi thầy Dũng. Sợ thầy làm le, chê là con nít, không cắt nghĩa, mà còn chọc quê nữa. Tôi vội vàng lục túi xách, tìm bút giấy. Hí hoáy ghi chép. Hai chữ Hồ Trường mượn ý từ hai câu thơ Đường:Túy túy càn khôn đại, Hồ trung nhật nguyệt trường.(Khi say trời đất rộng, trong bầu ngày tháng dài). Tờ giấy quá nhỏ tôi phải viết chữ li ti. Chồng chị bạn, nói:

 

– Chị Thúy chép thơ đấy à? Chị có vẻ thích thơ quá nhỉ.

 

– Dạ. Tôi hi vọng anh ấy sẽ nói, đại khái là: “Chị cứ giữ tờ báo đi.”

 

– Vâng, chị cứ chép tự nhiên nhé. Anh đã dập tắt hy vọng mới vươn lên của tôi.

 

Thôi thì thôi thế, tôi cặm cụi chép tiếp. Tôi gởi email cho thầy Dũng. Hỏi, thầy còn nhớ bài thơ Hồ Trường không. Thầy bảo, “Còn nhớ chứ, tôi thích bài thơ ấy dễ sợ. Nhưng không nhớ hết”. Tôi hơi ngạc nhiên, thầy Dũng có óc quan sát sắc bén và trí nhớ thuộc loại đáng nể. Tôi viết ngắn ghẹo thầy, chắc tam thi não thần đan đang ăn mòn trí nhớ của thầy. Thầy phải tìm Doanh Doanh xin thuốc giải. Chắc thầy “quê một cục” nên không nghe trả lời, trả vốn gì cả.

 

Tôi không nhớ rõ lần cuối cùng mình ôm đàn cách đây bao nhiêu năm rồi. Lần nọ, khi Bê, còn ở tiểu học, có bạn đến chơi. Xavier mân mê cây đàn, hỏi, phải Bê chơi đàn không. Bê nói:

 

– Không, Mẹ tao chơi.

 

Xavier ngạc nhiên:

 

– Cô chơi được à? Cô đàn con nghe đi.

 

Tôi lấy đàn xuống. Chơi bài Valse số 1 và bài Rondo số 7. Trước đó đã lâu, tôi chẳng hề đụng đến cây đàn. Tôi chỉ còn chơi theo phản xạ, chứ không đọc được nốt nữa. Xavier trầm trồ. Bê hãnh diện. Tôi rủ Bê học đàn guitar, ấn tượng còn đó, Bê thích ngay. Nhưng sau đó, Bê hẹn lần, hẹn lữa. Rồi thôi, chồng tôi không thích nghe bàn nhiều về đề tài này. Tôi có lúc mơ học chơi dương cầm. Chẳng hiểu sao, tôi cứ tin rằng, mình sẽ học được một nhạc cụ khác. Giấc mơ dương cầm tôi đã ôm ấp từ mấy năm trước. Lúc đó tôi tập tễnh “hoạt động” trong thị trường chứng khoán. Mathias ra vẻ là tay đen đỏ rành rẽ. Mathias ba hoa:

 

– Thúy biết không, Munich Re là hãng ruột của tui đó. Tui đầu tư, từ từ lên vốn. Không chừng có ngày thành nhà giàu. Hồi nào không thấy tui vô đi làm là biết ha.

 

Tôi nghe theo mấy tên đồng nghiệp cùng phòng, cũng mua này, bán kia. Thánh nhân đãi kẻ khù khờ. Tôi rủng rỉnh đồng ra, đồng vào. Khi gần đủ mua cây đàn, thì chúng tôi quyết định mua nhà. Tôi tạm đẩy giấc mơ của mình vào một xó xỉnh nào đó. Mua nhà xong, phải sắm sửa tí tí. Chúng tôi vẫn đi nghỉ hè ở đây, kia, năm châu, bốn bể. Giấc mơ ngoan ngoãn nằm chờ. Mỗi khi thấy mấy đứa cháu chơi đàn dương cầm, tôi nhớ đến giấc mơ của mình. Ông anh rể rủ, chơi bạo, ra tiệm mua trả góp. Tôi nhát gan, không dám. Tôi vẫn mua bán cổ phần, trích ra một phần cho giấc mơ dương cầm của mình. Thị trường chứng khoán đang trải qua những bất trắc lớn. Đàn dương cầm trong mộng của tôi cứ ít dần phím đi. Thu nhỏ thành phong cầm, khẩu cầm. Tôi không dám nhìn vào con số tài sản chứng khoán của tôi. Đàn dương cầm giờ đây chỉ còn là một ống sáo mộc mạc, đơn giản. Tôi tự an ủi mình, nghe tiếng sáo thiên thai, chờ ngày thị trường chứng khoán bình phục, ống sáo sẽ hoá thân thành dương cầm.

                                                                                                              

Khi chăm chút kho “tài sản tinh thần” của tôi, tôi đã ngồi thừ người rất lâu, nhìn những bài tập cũ trong Carulli, Carcassi. Tôi bồi hồi, mân mê những bài nhạc tôi chép và có ghi ký hiệu kỹ thuật đàn của thầy Dũng: My Way, Lágrima, Menuet, Variation... Ừ, tại sao tôi phải đeo đuổi điều gì quá xa tầm tay mình. Đương nhiên, ai cũng cần có một giấc mơ lớn để ấp ủ. Nhưng tôi vẫn còn giấc mơ dù nhỏ, mà rất đẹp đây chứ. Tôi nhớ, tôi đã có lúc yêu đàn guitar ghê lắm. Đam mê đó chỉ nguội, chứ chưa tắt trong tôi. Lần nọ, đi uống cà phê với thầy Dũng ở đường Trương Minh Giảng. Tiệm cà phê có trưng một bức tranh cây đàn guitar bị nhện giăng. Không hiểu tại sao, vừa thấy bức tranh, tôi thích ngay. Cây đàn ở nhà chúng tôi thuở đó, một hạt bụi cũng chẳng có cơ hội bám, vì bao nhiêu tay đàn thay nhau nâng niu. Anh Vượng, người bạn học cùng lớp ở trường Sư Phạm, nói, thích tặng tôi món quà. Tôi mừng quá chừng, dẫn anh đến tiệm cà phê, chỉ bức tranh. Không biết sau đó anh Vượng có phải ngồi đồng ở tiệm để ngắm “người mẫu” không. Tác phẩm của anh thật đẹp. Bức tranh anh Vượng tặng treo ở nhà cho đến khi tôi rời Việt Nam. Mấy chục năm qua, hình ảnh của cây đàn nhện giăng vẫn còn trong trí nhớ của tôi. Ở Đức, lúc nào trong nhà tôi cũng có cây đàn guitar. Lâu lâu, tôi đem đàn xuống lau bụi. Cây đàn trong phòng khách nhà tôi sạch bóng. Nhưng cây đàn trong hồn tôi phủ đầy bụi và nhện giăng chằng chịt. Ngày nào đó, tôi sẽ cẩn trọng phủi đám bụi dày, gỡ những dây tơ nhện. Tôi sẽ gảy nhẹ, thật nhẹ những nốt nhạc cũ, đánh thức đam mê ngày xưa của mình. Tôi sẽ, tôi sẽ... Có lẽ, tôi sẽ đi lại từ đầu. Tôi sẽ tập bản số Một, số Hai... Tôi sẽ náo nức, khi sắp sửa tập đến bài số Chín, số Mười Một. Nhạc điệu của bài Mười Bốn vẫn mồn một trong tôi. Bài Ba Lăm cũng tuyệt vời. Và “đại tác phẩm” My Way của tôi nữa. Tôi biết, tôi sẽ không nâng niu phím đàn với tất cả tâm tình như cách đây hơn mấy thập niên. Nhưng tôi hy vọng, chút đam mê cung đàn còn sót lại đâu đó trong trái tim lắm ngõ, nhiều ngách của tôi, sẽ giúp tôi tìm lại tôi. Tìm lại vài nét hình bóng yêu đàn của tôi ngày xưa.

 

– Hoàng Quân

 

(Trích lời ca trong nhạc phẩm Cây Đàn Bỏ Quên, nhạc sĩ Phạm Duy).

Đó là tháng 6-1989, lần đầu đến New York và vào một bảo tàng viện nổi tiếng ở đây, tôi tình cờ, tới chỗ treo một bức tranh trừu tượng khổng lồ, cao khoảng 2 mét, ngang khoảng 6 mét. Tôi kinh ngạc với sự giàu có ở đây, bảo tàng viện này dành riêng ra một căn phòng lớn, đơn giản, sang trọng, chỉ để trưng bày một bức tranh đó...
Tôi bị bắt tại huyện Tân Hiệp chiều ngày hai mươi, giáp Tết. Lý do, mang theo hàng không giấy phép. Thế là tiêu tan hết vốn lẫn lời mà tôi chắt chiu, dành dụm gần cả năm nay. Nhớ đến mẹ và gia đình trong những ngày Tết sắp tới, tôi vừa buồn vừa tức đến bật khóc. Xui rủi, biết trách ai. Tiễn, anh phụ lơ, đã cẩn thận cất dấu hàng cho tôi, vã lại anh cũng quá quen biết với đám công an trạm kiểm soát. Không ngờ chuyến nầy bọn công an tỉnh xuống giải thể đám địa phương, nên tôi bị “hốt ổ” chung cả đám. Đây không phải là lần đầu bị bắt, nhưng lại là lần đầu tiên tôi đi chuyến vốn lớn như vầy. Năm ký bột ngọt, năm ký bột giặt, hơn chục ống thuốc cầm máu và trụ sinh hàng ngoại. Bột ngọt, bột giặt không nói gì, nhưng hai thứ sau hiếm như vàng mà giới “chạy hàng” chúng tôi gọi là “vàng nước”. Nên thay vì đưa về khu tạm giam huyện chờ lập biên bản, hồ sơ xét xử tôi nghe bọn công an thì thầm, bàn tán giải thẳng về khám lớn tỉnh Rạch Giá.
Quỳnh Lâm báo tin sẽ đến Đức trong tuần lễ đầu tháng 10. Nisha vội vàng thu xếp “sự vụ lệnh“ để công du sang Đức. Nisha lo đi chợ sắm sửa đầy mấy tủ lạnh, tủ đá, để mấy cha con sống còn trong thời gian nữ tướng đi xa. Chúng tôi hồi hộp quá, ngày nào cũng thư từ, nhắn nhủ, dặn dò đủ điều tẳn mà, tẳn mẳn. Điện thư qua, về hoa cả mắt. Thư nào chúng tôi cũng nhắc nhở nhau giữ gìn sức khoẻ, vì đứa nào cũng “lão” rồi. Khi gặp nhau, tụi tôi nhất thiết phải đầy đủ tinh thần minh mẫn trong thân thể tráng kiện. Có hôm, đến trưa, chưa nghe tăm tiếng, tôi sốt ruột, xuất khẩu làm thơ... bút tre:
Sống ở đây an toàn và bình an gần như một trăm phần trăm trong hiện tại và tương lai, nhưng không thể bình thản hóa quá khứ. Cuộc chiến khốc liệt giữa thiên thần và ma quỉ luôn ám ảnh ông. Có những điều gì thao thức, âm thầm nghi hoặc, nhoi nhúc sâu thẳm trong ông. Lòng tin vào ông Gót có phần nào lung lay. Đông cảm thấy có lỗi khi nghi ngờ bố, người đã giúp đỡ, bảo vệ ông và Vá. Nhưng nghi ngờ là một thứ gì không thể điều khiển, không thể đổi đi, không thể nhốt lại. Nó vẫn đến, mỗi lần đến nó vạch rõ hơn, nhưng vẫn mù sương như đèn xe quét qua rồi trả lại sương mù.
Trâm gật đầu nhè nhẹ. Đoan nghĩ thật nhanh đến một cảnh diễn ra mỗi đầu tháng trong sân trường. Nơi đó, các sinh viên xúm xít cân gạo và các loại “nhu yếu phẩm”, mang phần của mình về nhà. Rồi thì trong khu phố, cảnh những người dân xếp hàng “mua gạo theo sổ” cũng diễn ra mỗi ngày. Nói “gạo” là nói chung thôi, thật ra trong đó phần “độn” chiếm đa số. Phần “độn” có thể là bo bo, có thể là bột mì, cũng có thể là khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô. Nồi cơm nấu từ gạo và một thứ khác được gọi là nồi “cơm độn.” Mỗi ngày hai bữa cơm độn. Bo bo thì quá cứng vì vỏ ngoài chưa tróc, nấu trước cho mềm rồi cho gạo vào nấu tiếp, trở thành một “bản song ca” chói tai. Khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô thường bị sượng, ghế vào cơm rất khó ăn. Chỉ có bột mì tương đối dễ ăn hơn, vì người nấu có thể chế biến thành bánh mì, nui hay mì sợi
Mùa đông, tuyết đóng dầy trên mái nhà. Ấy là lúc bà ngoại cũng lo là lũ chim - những con chim của ngoại - sẽ chết cóng. Nhưng bà không biết làm gì để cứu chúng nó. Ngoại đi tới đi lui từ phòng khách qua nhà bếp. Thở dài. Rên rỉ. Rồi lẩm bẩm, “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.” Bà ngoại tội nghiệp những con chim chết lạnh. Sinh nhật ngoại, chúng tôi chung tiền mua quà. Một con sáo trong chiếc lồng tuyệt đẹp. Bà ngoại cưng nó hơn cưng chị em tôi. Cho nó ăn, ngắm nghía bộ lông đầy màu sắc của nó. Chăm chú lắng nghe tiếng hót véo von lúc chớm nắng bình minh và buổi hoàng hôn nắng nhạt. Rồi một buổi sáng nọ tiếng chim thôi líu lo. Bà ngoại chạy ra phòng khách. Hấp tấp tuột cả đôi guốc mộc. Con chim sáo nằm cứng sát vách lồng. Hai chân duỗi thẳng. Cổ ngoặt sang một bên. Con chim của ngoại đã chết. Bà ngoại buồn thiu cả tuần lễ. Bố mẹ tôi bàn tính mua con chim khác. Bà gạt ngang.
Tôi là người viết báo nghiệp dư. Từ khi khởi viết vào năm 1959, tay cầm viết luôn là nghề tay trái. Tôi sống bằng nghề tay phải khác. Cho tới nay, nghề chính của tôi là…hưu trí, viết vẫn là nghề tay trái. Tôi phân biệt viết báo và làm báo. Làm báo là lăn lộn nơi tòa soạn toàn thời gian hoặc bán thời gian để góp công góp sức hoàn thành một tờ báo. Họ có thể là chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký, thư ký tòa soạn hay chỉ là ký giả, phóng viên. Nhưng tôi nghĩ người quan trọng nhất trong tòa soạn một tờ báo là ông “thầy cò”. Thầy cò ở đây không có súng ống hay cò bóp chi mà là biến thể của danh từ tiếng Pháp corrector, người sửa morasse. Morasse là bản vỗ một bài báo cần sửa trước khi in.
Sáu tuần. Nàng đã đi ra khỏi mụ mị từ trong mối tình hiện tại của mình. Cô bạn gái hỏi "Tỉnh chưa?". Tỉnh rồi, nhưng tỉnh không có nghĩa không yêu anh ấy nữa, chỉ là không còn mụ mị mê muội nữa thôi...
Trong bóng tối dày đặc, dọ dẫm từng bước một, hai tay vừa rờ vào hai bên vách hang động, vừa quơ qua quơ lại trước mặt, dù cố mở mắt lớn, chỉ thấy lờ mờ, nhiều ảo ảnh hơn là cảnh thật. Cảm giác bực bội vì đã trợt té làm văng mất ba lô, mất tất cả các dụng cụ, thực phẩm và nước uống cần thiết. Bối rối hơn nữa, đã rớt chiếc đèn bin cầm tay, mất luôn chiếc đèn bin lớn mang bên lưng và máy liên lạc vệ tinh có dự phòng sóng AM. Giờ đây, chỉ còn ít vật dụng tùy thân cất trong mấy túi quần, túi áo khoát và hoàn toàn mất phương hướng. Chỉ nhớ lời chỉ dẫn, hang động sẽ phải đi lên rồi mới trở xuống. Trang nghĩ, mình có thể thoát ra từ lối biển. Là một tay bơi có hạng, nàng không sợ.
Cô người Nha Trang, lớn lên và đi học ở đó. Cô sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, mẹ cô đi dậy học, ông thân cô cũng là hiệu trưởng một trường trung học lớn ở Phú Yên. Năm 22 tuổi, cô học năm cuối đại học văn khoa Huế thì gặp gỡ chú Hiếu trong một dịp hội thảo sinh viên do các biến động thời cuộc miền Trung bắt đầu nhen nhúm. Chú Hiếu lúc đó đang theo cao học luật. Họ thành đôi bạn tâm giao tuổi trẻ, sau thành đôi uyên ương. Ba năm sau khi Trang vừa 25 tuổi, Hiếu đã nhậm chức chánh án tòa thượng thẩm.
Nhà trẻ kế bên bệnh xá. Trong góc một trại giam. Nhà trẻ có sáu đứa con nít. Bệnh xá có mấy bệnh nhân già. Coi bệnh xá là một tù nam nguyên là y tá ngoài đời. Coi nhà trẻ là một tù nữ án chung thân. Coi cả hai nơi ấy là một công an mà mọi người vẫn gọi là bác sĩ! Sáu đứa con nít đều là con hoang. Mẹ chúng nó là nữ tù bên khu B, đừng hỏi cha chúng đâu vì chúng sẽ không biết trả lời thế nào. Cũng đừng bao giờ hỏi mẹ chúng nó về chuyện ấy vì rằng đó là chuyện riêng và cũng là những chuyện rất khó trả lời. Thảng hoặc có ai đó được nghe kể thì lại là những chuyện rất tình tiết ly kỳ lâm ly bi đát… chuyện nào cũng lạ, chuyện nào cũng hay
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.