Hôm nay,  

Mẹ và con gái

26/07/202221:47:00(Xem: 4424)

Truyện ngắn

oldmother

 

Bà Pélissand bước vào phòng khách, cô con gái của bà ngồi chơi dương cầm từ nãy giờ. Bà đi chầm chậm lặng lẽ, trên tay là một giỏ đầy những cuộn len và vớ phải khâu mạng lại; bà đi vòng quanh căn phòng, rồi đi vòng nữa và đứng trước chiếc ghế bành làm như bà muốn ngồi xuống, nhưng rồi bà quay lưng lại với con và ngồi bên cạnh chiếc đàn.

 

Ngay lúc đó, Marie Pélissand ngừng đàn. Cô biết là mẹ không thích nghe nhạc và cảm thấy tiếc rằng mình chưa thể đàn xong khúc nhạc yêu thích của mình; cô xoay mình trên chiếc ghế tròn và lật nhanh những tạp chí trên bàn.

 

Đôi tay bà Pélissand giữ chặt giỏ đan trên chân mình, mắt không nhìn con, rồi nói:

 

– Marie con, con có thể tiếp tục đàn nữa đi con à...

 

Marie ngước nhìn mẹ mình. Đôi mắt cô mở to lộ vẻ ngạc nhiên, có vẻ như muốn nói:  "Ôi, mẹ mình bị gì vầy nè trời?"

 

Mà thật vậy, mấy ngày nay bà thay đổi thật nhiều. Từ xưa đến giờ bà không khi nào bước vô phòng khách trong khi con gái đang ngồi đàn. Bà cũng ghét cay ghét đắng nghề giáo viên của Marie, và không thể chịu nổi khi cô miệt mài bao nhiêu giờ cho công việc ấy. Vậy mà từ mấy ngày vừa qua, bà vẫn quanh quẩn trong phòng ăn khi Marie đang chấm bài vở cho học sinh. Và chiều tối hôm qua bà còn đến ngồi thật gần con gái và nhiều lần Marie nhìn thấy mẹ mình ngẩng đầu lên, mở miệng ra như thể bà đang tính nói điều gì, nhưng rồi cứ sau mỗi lần như thế bà lại cúi đầu xuống, vẻ thật bối rối

.

Marie không dám lướt phím đàn trở lại, nhưng mẹ cô lặp lại lần nữa, cũng cùng giọng như lúc nãy:

 

– Marie, con có thể tiếp tục đàn đi con ạ.

 

Marie liền trở lại ngồi ở ghế trước cây đàn, nhưng đôi tay nàng không cảm thấy tự tin như lúc nãy và khúc nhạc yêu thích của nàng đang chơi dang dở không làm cho nàng hứng thú nữa. Nàng lén nhìn mẹ mình. Đôi mắt bà Pélissand nhìn chăm vào tấm thảm, đôi tay bà như thể đang bám thật chặt vào cái giỏ đựng vớ cũ.

 

Có một lúc, Marie nhìn thấy thật rõ rằng bà đang mở miệng để nói điều gì, nên ngưng đàn và hỏi mẹ:

 

– Mẹ ơi, mẹ nói đi, có chuyện gì vậy mẹ?

 

Đôi mắt bà lộ vẻ xúc động. Bà đưa tay ra làm như muốn gạt câu hỏi đi, bà đứng lên rồi lại vội vàng ngồi xuống; và rồi, trong một thoáng, bỗng nhiên, nhìn thẳng vào đôi mắt của con, bà nói rất nhanh:

 

– Mẹ có chuyện gì ư? Đây nè: mẹ muốn tái giá.

Marie tưởng rằng bà đang nói đùa. Cô bèn ngả người ra sau và cười rú lên; nhưng bà Pélissand chụp cánh tay cô và nói bằng một giọng xẵng:

 

– Mẹ chẳng thấy có gì buồn cười cả.

 

Marie liền ngưng, không cười nữa cũng như đã không đàn nữa. Bỗng dưng cô hiểu rằng mẹ mình đang nói sự thật và cô cảm thấy vô cùng sững sờ. Cô lại nhìn mẹ mình lần nữa. Cô thấy mái tóc mẹ gần như bạc trắng đang phồng lên ở thái dương, cô nhìn thấy gương mặt mẹ đầy nếp nhăn, đôi vai trở nên lụ khụ, đôi tay thì xương xẩu, nên cô không thế nào nín cười được:

 

– Nhưng mà mẹ ơi, mẹ đã năm mươi tám tuổi rồi cơ đấy!

 

– Đúng thế, bà Pélissand trả lời con. Rồi sao nào?

 

Sao nào? Sau đó thì sao? Marie không biết phải nói gì, mắt cô bỗng đẫm lệ, nhưng rồi cô lại nói tiếp:

 

– Còn con thì sao hả mẹ?

 

Bà Pélissand ngồi lùi ra sau; đôi mắt bà trở nên lạnh lùng như thể bà đang trả thù một sự việc ác hiểm nào đó, và trả lời:

 

– Con của mẹ ấy ư? Con đã đủ lớn tuổi để sống một mình rồi kia mà.

 

Rồi vừa vỗ vào những đôi vớ trong giỏ, bà vừa nói tiếp:

 

– Lúc nãy con trách mẹ đã năm mười tám tuổi, con có vẻ như đang quên rằng mình cũng vừa tròn ba mươi bảy đấy.

 

– Thưa Mẹ, con không quên đâu ạ, Marie nói, nhưng...

 

– Nhưng sao? Bà Pélissand hỏi.

 

–Thưa mẹ, Marie trả lời, con chỉ nghĩ là mẹ luôn ngăn cản không cho con lập gia đình bởi vì mẹ không muốn sống một mình, nhưng ngày hôm nay chính mẹ là người nói đến việc mẹ sẽ rời xa con.

Bà Pélissand lặng im, không nói, và Marie thì không dám trình bày với mẹ tất cả những gì chất chứa trong lòng mình. Nhưng rồi khi mọi việc trở nên im lặng rất lâu sau đó, Marie đâm ra ngờ vực. Việc đám cưới của mẹ bỗng dưng trở nên quá sức bất khả thi và bây giờ nếu như cô không còn muốn cười như vài phút trước đây, cô bỗng cảm thấy rất muốn chế nhạo, khi nhớ ra rằng trong số những người đàn ông lớn tuổi mà cô biết, không có ai còn độc thân cả.

 

Cô đứng dậy, đến quỳ trước mặt mẹ, như thỉnh thoảng cô vẫn làm và nhỏ nhẹ nói với mẹ:

 

– Mẹ thân yêu của con. Ý tưởng về vụ đám cưới đó là mẹ chỉ muốn dọa con thôi phải không mẹ, mẹ chỉ nói đùa chơi thôi phải không mẹ?

 

 

Khi thấy bà Pélissand vẫn im lặng, cô trở nên dạn dĩ hơn và gần như muốn chọc ghẹo cho vui, cô hỏi:

 

– Mẹ ạ, mẹ nói cho con mẹ sẽ tìm được một người chồng ở đâu mẹ?

 

Ba Pélissand liền đứng bật dậy và trả lời bằng một giọng đầy tự ái:

 

– Có sẵn rồi con à, mẹ sẽ cưới ông Tardi.

 

 Rồi liền sau đó bà lại giải thích:

 

– Con có nhớ người thanh niên đã hỏi cưới mẹ khi mẹ mười lăm tuổi và ông bà ngoại đã từ chối vì lúc đó ông ấy chưa được hai mươi.

 

Marie gật đầu để mẹ biết rằng cô vẫn còn nhớ câu chuyện mà mẹ đã kể cho cô nghe.

 

– Ông ấy cũng đã có gia đình, nhưng vẫn một mực yêu mẹ. Vợ ông ấy đã qua đời cách đây ba tháng và tuần trước ông lại đến hỏi cưới mẹ.

 

Sau khi ngưng lại một lúc, bà lại nói:

 

– Ông ấy đang sống ở một thành phố miền Nam và mẹ sẽ đến với ông ấy.

 

Marie đứng dậy, đi vài bước, rồi lại đến tựa vào cái đàn, nói một cách nghiêm trọng:

 

– Đâu phải bởi vì ông ấy đến hỏi cưới là mẹ phải buộc phải chấp nhận.

 

Bà Pélissand dang cánh tay ra, nhưng Marie lại tiếp:

 

– Trước đây, mỗi khi có người đến hỏi cưới con thì mẹ đã cấm không cho con nhận lời...

 

Bà Pélissand cúi đầu xuống.

 

– ... Rồi khi con muốn cưới anh Julien mà con rất yêu, mẹ cũng đã cản con, nói rằng bổn phận của con là không được để mẹ một mình. Mẹ nói là khi ba con mất, mẹ con mình đã lâm vào cảnh túng quẫn. Thế là con phải tất bật đi làm và đã từ chối hạnh phúc, bây giờ con biết là Julien đã chán nản, không chờ đợi được nữa và đã cưới cô gái khác. Rồi mẹ lại cho con biết là mẹ sẽ rời xa con để cưới một người đàn ông mà mẹ chưa bao giờ yêu, ông ấy là một người xa lạ với mẹ từ bao nhiêu chục năm nay rồi kia mà.

 

Bà Pélissand cúi đầu xuống thấp đến nỗi tưởng như cái trán của bà sắp chạm vào phần ngực, chỉ thấy cái gáy của bà nhô lên. Marie ngừng nói, đợi mẹ sẽ trả lời. Nhưng bà Pélissand vẫn cúi đầu và có vẻ ngang bướng. Marie lại tiếp:

– Mẹ này, con đã làm tròn bổn phận của con khi con vẫn ở bên mẹ, thế thì mẹ có làm trách nhiệm của mẹ và từ chối cuộc hôn nhân ấy để không bỏ con ở một mình cô đơn chứ? Mẹ nói đi mẹ, mẹ trả lời con đi!

 

Bà mẹ nhìn con gái và bỗng dưng nói xẵng giọng:

 

– Mẹ sẽ kết hôn với người ấy vì mẹ không muốn sống với con nữa.

 

Marie mở tròn mắt và áp mặt của mình gần sát với mẹ:

 

– Tại sao vậy mẹ? Mẹ trách con điều gì?

 

– Rất nhiều.

 

– Mẹ nói đi.

 

Bà lại trả lời vẻ bướng bỉnh:

 

– Con thông minh và tài giỏi khéo léo hơn mẹ. Con ngồi đó mơ mộng hàng giờ mà không nói gì, rồi khi bạn bè đến chơi, lúc nào con cũng nói chuyện với bọn đàn ông, mà mẹ không hề hiểu những gì con nói với họ. Con là người chọn sách cho mẹ đọc, rồi khi mẹ muốn đọc sách của con thì trong ấy toàn là những điều mẹ không biết ất giáp chi cả. Chính con là người chọn màu áo của mẹ, hình dáng mũ nón của mẹ. Chính con là người làm ra tiền để nuôi mẹ, rồi khi mẹ muốn ra lệnh cho người giúp việc thì họ chỉ tuân theo sau khi con đã đồng ý.

 

Giọng bà trở nên chua chát đau đớn:

 

– Ở đây, tất cả mọi việc bây giờ đã thay đổi, con đã là người mẹ và mẹ thành con gái. Nhiều lúc mẹ rất sợ bị la rầy và dù con rất dịu dàng và tốt bụng, mẹ cũng cảm thấy rất ngại khi con nhìn mẹ.

 

Một không khí im lặng bao trùm căn phòng. Bàn tay đặt trên phím đàn, Marie suy nghĩ mông lung.

Bà Pélissand nhẹ nhàng thổn thức, rồi rụt rè nói với con gái:

 

– Con cho phép mẹ cưới ông Tardi nhé con.

 

Marie liền ôm choàng lấy mẹ, và sau khi lau nước mắt cho bà, cô âu yếm hôn vào trán mẹ và nói:

 

– Mẹ ơi, thế thì mẹ cưới ông Tardi đi mẹ, ít ra một trong hai chúng ta cũng có người được hạnh phúc, mẹ của con ạ.

 

– Sylva Clapin

(Tháilan dịch)

Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.