Hôm nay,  

Sông Nước Mùa Hè

05/08/202200:00:00(Xem: 3114)
chim coc khoi canh

Chim cốc phơi cánh. (Ảnh của NTHH)

 
Nếu bạn ở một nơi có mùa đông dài 5 tháng, và nhiệt độ ban ngày thấp hơn độ đóng băng của nước, bạn sẽ thích mùa hè. Nhưng dù bạn có thích mùa hè đến mấy thì cũng có những ngày nóng ngộp thở. Bạn làm gì để giải nhiệt? Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng đã mời gọi: “Mùa hè năm nay anh sẽ đưa em rời phố chợ đôi ngày.”  Thật là chí lý. Mùa hè ở trong thành phố rất nóng. Cái nóng hắt từ mặt đường tráng nhựa và từ xe cộ thải ra rất khó chịu. Một trong những cách giải nhiệt giản dị nhất là xa rời phố thị, đi về quê. Còn gì sung sướng hơn “Chín mươi ngày nhảy nhót ở đồng quê. Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ.”(1)  Người xưa từng nói về cái khoái lạc của mùa hè là tắm ao sen, hạ thưởng lục hà trì. Chúng ta có thể thay thế ao sen bằng hồ, sông, hay biển. Không cần ngụp lặn nếu bạn sợ dính bùn, hay nước mặn gắt, chỉ cần bạn đi dọc theo bờ sông, bờ hồ, hưởng làn gió từ mặt nước thổi lên là thấy người khoan khoái hẳn lên.
 
Trên đường trail Delaware and Raritan không có hoa sen nhưng hoa súng rất nhiều. Không phải loại hoa súng water lily của Việt Nam. Đây là loại hoa nhỏ như một quả banh golf màu vàng, gọi là pond-lily hay cow-lily. Loại hoa súng này tôi đã gặp trong một bức tranh của Hokusai. Có nghĩa là bên Nhật cũng có hoa này. Ở đây, mùa nào có hoa nấy. Đầu tháng Sáu hoa hồng dại và honeysuckles nở trắng hai bên đường. Hương hoa ngan ngát quyện vào mỗi bước chân. Tháng Bảy và tháng Tám, hoa mallow, một loại hoa dâm bụt nở màu hồng thắm mỗi hoa to như cái đĩa bàn. Hoa có mùi thơm nhẹ, nhụy có mật ngọt nên thường quyến rũ kiến và ong. Hoa thistle, còn gọi là hoa kế, vừa có nhan sắc lại vừa có hương thơm nhưng hiểm hóc đầy gai nhọn. Loại hoa hoang dại này lại được chọn tô điểm cho quốc huy của Tô Cách Lan. Hoa dại, hình như, ít khi màu đỏ. Chỉ thỉnh thoảng tôi mới gặp sát mé nước một loại hoa, cánh hoa nhỏ hơn hoa huệ (loại huệ trắng tuberose bên mình hay chưng trên bàn thờ chứ không phải loại hoa loa kèn lily), giống như hình con hạc màu đỏ thắm gọi là hoa cardinal có nghĩa là hoa hồng y. Cùng màu đỏ tươi thắm có trái dâu tây strawberry và trái redberry. Chừng ấy màu đỏ đủ gợi nhớ câu thơ nổi tiếng trong bài Tình Sầu của Huyền Kiêu, “Hạ đỏ vẫn chàng đến hỏi. Em thơ, chị đẹp em đâu.” Dọc dòng sông Millstone có rất nhiều ngỗng Canada và chim nước. Chim nước hay water-fowl, water-bird là loại nửa chim nửa vịt, có thể bay và đồng thời có thể bơi. Ở đây tôi thấy có merganser, Mallard duck, wood duck, và bufferhead. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy nó, con chim màu chocolate, nó đứng trên một tảng đá giữa khúc sông cạn, dang rộng đôi cánh như chờ gió lên cho đầy cánh để bay. Mãi về sau tôi mới biết tên chim là cormorant. Người Việt gọi là chim cốc. Rồi đột ngột nó cất cánh nhưng không bay cao, đuôi sà xuống chạm vào mặt nước, lệt phệt vài lần như thể bay không nổi để lại trên mặt sông mấy chỗ lõm gợn sóng. Về sau, tôi mới “ngộ” ra là nó đang rình để bắt cá chứ không phải tập bay.
 
Chim cốc không đẹp nếu dựa trên màu sắc. Những con chim được khen là đẹp đều có màu rực rỡ. Chim hồng y (cardinal) có màu đỏ tươi; bluejay màu xanh với nhiều sắc đậm nhạt có điểm trắng; hoàng yến, hoàng oanh (gold finch và oriole) có màu vàng tươi; két có đủ màu xanh đỏ; hoặc nếu không màu thì phải hoàn toàn trắng, trắng tươi, trắng xóa, như thiên nga. Chim cốc có nhiều loại, đốm vàng ở cổ, hay đốm trắng ở ngực, tuy vậy đa số đều có bộ lông màu nâu sậm. Thiếu ánh sáng trông nó đen thui. Mỏ nó dài, nhọn, và khoằm. Đôi mắt xanh đục, và đằng sau gáy có chùm lông dựng đứng. Người ta nói mình chỉ nhìn thấy cái mình biết. Khi chưa biết nó là ai, tôi không hề có cái khái niệm gì về con chim cốc. Nhưng khi biết có con chim cốc trên cuộc đời này thì tôi gặp nó ở nhiều nơi. Đặc biệt, nó xuất hiện rất nhiều trong văn chương của châu Âu.
 
Thi sĩ John Milton đã so sánh chim cốc với quỷ Satan. Trong bộ trường thi Paradise Lost (Thiên Đường Đã Mất) quyển số 4, Milton kể hai mạch truyện. Một mạch truyện nói về Adam và Eve. Mạch truyện còn lại nói về Satan (còn gọi là Lucifer). Satan vốn là thiên thần, sau khi quyết định nổi loạn chống lại Chúa, đã bay đến Eden (vườn địa đàng). Gã quỷ sứ đã đáp xuống cái cây to và cao nhất ở giữa vườn địa đàng. Đó là Cây Cuộc Đời  (Tree of Life). Hắn ngồi trên cây giống như một con chim cốc, suy nghĩ tìm cách mang cái chết đến cho loài người.(2)
 
Cốc nhỏ hơn hạc xám (great blue heron), thiên nga, hoặc ngỗng Canada, nhưng to hơn vịt Mallard đầu xanh. Lớp lông bên ngoài không thấm nước, nhưng lớp lông mềm bên trong có khi ngấm nước nên chim cốc thường dang cánh để hóng gió cho khô. Có lần nhìn hai con chim cốc há mỏ ra đối đáp với nhau, tôi thấy chúng trông có vẻ như đang cãi vã rất dữ dằn, nhưng biết đâu chừng đó là cái cách chúng nói những lời yêu thương với nhau.
 
Cốc lặn rất sâu và rất xa. Đứng rình chụp ảnh, tôi thấy nhiều lần chim cốc lặn rồi biến mất luôn. Có thể nó xuôi dòng đi rất xa và khi trồi lên lẩn vào gốc cây và rễ cây ở phía bên kia bờ sông tôi không tìm được. Chim cốc là loài chim săn cá thượng hạng. Cốc có thể nuốt con cá to gấp mấy lần vòng cổ của nó và có thể ăn cả chục con cá to trong chớp mắt. Chính vì khả năng này mà chim cốc bị Geoffrey Chaucer, thi sĩ nổi tiếng vào thế kỷ 14 với tác phẩm The Canterburry Tales, gán cho tật xấu là tham ăn. Năm trăm năm sau Bram Stoker, trong tác phẩm Dracula đã cho nhân vật của ông tự nhận là “ta có khả năng ăn nhiều như loài chim cốc.”
 
Từ biểu tượng của sự tham ăn, chim cốc dần dần biến thành biểu tượng của gian thương dùng mánh khóe của con buôn để bóc lột người mua, những người cho vay ăn lời cắt cổ, thậm chí là biểu tượng của những nhà sư hổ mang gian hùng và tham lam.
 
Cốc là loại chim mùa đông thiên di. Ở New Jersey khi trời trở lạnh là chúng biến mất. Vào tháng Năm trời ấm lại thấy vài con lác đác bơi trên sông. Chừng tháng Bảy tháng Tám chúng đậu đầy ở những cái đập trên sông để bắt cá. Chim cốc có mặt trên nước Mỹ, Anh, Tô Cách Lan và ở châu Á như Trung quốc và Nhật Bản. Tôi đã nhìn thấy cốc bay thành đàn ở những cái cầu tàu chung quanh Fisherman Wharf, San Francisco. Mấy chục con bay hàng dọc, là là sát mặt nước, bay một đỗi thật xa, theo hướng gió đánh vòng tròn quay trở lại, như là một đoàn quân diễn hành cho du khách thưởng lãm, trông rất ngoạn mục. Tôi cũng gặp chim cốc ở Uji, ngoại thành của Kyoto, một trong 13 nơi của Nhật dùng chim cốc để săn bắt cá. Ở gần chân cầu Kisen bắc ngang con kênh dẫn nước từ sông Uji, có trại nuôi chim cốc để đi săn.
 
Năm 1900 ở Flannan Isles, một quần đảo Tô Cách Lan, đã xảy ra một vụ mất tích thật kỳ bí mà người ta không tìm ra nguyên nhân, cũng không thể giải thích được. Trên đảo Eilean Mòr (đảo chính của Flannan Isles) có một ngọn hải đăng và một ngôi nhà nguyện đã bị hư nát. Có ba nhân viên chăm sóc ngọn hải đăng này, James Ducat, Thomas Marshall, và Donald McArthur. Họ được tuyển chọn, đào tạo, rất thiện nghệ và hoàn toàn được tin cậy. Ngày 15 tháng 12 năm 1900, chiếc tàu Archtor từ Philadelphia đến Leith (Tô Cách Lan) thấy hải đăng không hoạt động, có lẽ vì thời tiết quá xấu. Ngày 18 tháng 12 tin hải đăng không hoạt động được báo cáo với Northen Lighthouse Board. Ngày 26 tháng 12, bão dịu xuống, mới có người đến được ngọn hải đăng và khám phá ra cả ba nhân viên chăm sóc ngọn hải đăng đều mất tích như tan biến vào thinh không. Tất cả đồ dùng trên đảo và đồ dùng của ba người đều còn nguyên vẹn, ngoại trừ bãi cập bến ở bờ Tây bị hư hại nặng vì cơn bão. Người ta đưa ra nhiều giả thuyết, những giả thuyết này được viết thành tiểu thuyết, làm thành phim. Một trong những giả thuyết này là ba nhân viên trông coi ngọn hải đăng đã biến thành ba con chim cốc bay ra khỏi đảo theo sự tưởng tượng của Wilfrid Wilson Gibson trong bài thơ Flannan Isles.
 
Gần đây nhất, cuốn phim Vanishing (Biến Mất) phát hành năm 2018 với Gerad Butler là diễn viên chính, đạo diễn Kristoffer Nyholm đã đưa ra một giả thuyết để giải thích vì sao ba nhân viên hải đăng đồng loạt biến mất.
 
Chim cốc xuất hiện trong văn học như một biểu tượng của ý nghĩ đen tối hay hành động xấu xa. Ngay cả Shakespeare cũng chê chim cốc không tiếc lời. Trong Richard II, act 2, scene 1, đại thi hào đã miêu tả chim cốc như sau:
 
Kiêu hãnh, chim cốc không bao giờ thỏa mãn
Phương tiện để tiêu thụ, sớm muộn gì cũng trở thành miếng mồi của chính nó.
 
Người Trung Hoa và Nhật Bản đều dùng chim cốc để săn bắt cá. Người Nhật Bản không nghĩ xấu về chim cốc. Họ nuôi và huấn luyện chim cốc để phục vụ loài người. Lợi dụng tài săn cá cũng như tật ăn tham của chim cốc, họ cột ngang cổ cốc một cái vòng, cột dây vào chân và thả cốc xuống nước đi săn. Sau đó họ nặn cổ chim cốc bắt nhả ra những con cá đã săn được. Chim cốc nhiều lần làm “người mẫu” cho nhà danh họa Hokusai. Trên mạng thấy lưu truyền một bức tranh chim cốc của Hokusai khá to và dữ dằn. Còn một bức khác tôi gặp trong quyển Hokusai Beyond the Great Views do Timothy Clark biên soạn. Bức tranh vẽ chim cốc đậu trên một cột gỗ dưới chân cột là hoa pond-lily màu vàng.
 
Các nhà thơ Nhật nổi tiếng như Issa, Onitsura, và Basho cũng viết rất nhiều bài haiku về chim cốc.
 
Thật thú vị làm sao,
chiếc thuyền săn chim cốc!
Nhưng chỉ một lúc sau
Tôi cảm thấy nỗi sầu.
 
 
Thú thật, những lời chê bai của các nhà văn châu Âu về chim cốc không thể bôi xóa được hình ảnh đẹp mà chim cốc đã mang đến cho tôi. Tôi xem một vài cuốn phim người ta dùng chim cốc đi săn trong đêm. Ông câu chèo phía sau, chim cốc ngồi trên thuyền như một người bạn đồng hành, bên cạnh là thùng lửa đốt để soi sáng. Hình ảnh lửa thuyền chài trên sông đã khiến tôi nhớ đến một câu trong bài thơ cổ.”Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.”  Thi sĩ Tản Đà đã dịch nguyên bài như sau:
 
Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
.(3)
 
Bài thơ có thể tả cảnh mùa hè, ban ngày trời nóng nhưng đêm có sương. Trước kia đọc bài thơ tôi không thể tưởng tượng được hình ảnh giang phong ngư hỏa như thế nào. Một ngày cuối hè đứng ở bến sông Uji, bên chân cầu Kisen, nhìn những con chim cốc được nuôi trong lồng, và lửa thuyền chài trên một tấm áp phích, tôi dường như nghe được tiếng chuông chùa, không phải của Hàn San Tự mà của Byodo-in cách đó chừng vài trăm mét. Bài thơ cổ trở nên lộng lẫy hơn nhờ hình ảnh thuyền chài đi săn cá bằng con chim cốc.
 
Nguyễn Thị Hải Hà
 
Chú thích:
 
(1)    Xuân Tâm, Nghỉ Hè.
(2)    Thence up he flew, and on the tree of life,
The middle tree and highest there that grew,
Sat like a cormorant; yet not true life
Thereby regained, but sat devising death.
John Milton, Paradise Lost (Kindle Locations 951-952).
(3)    Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô tô thành ngoại hàn san tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
.
Trương Kế, Phong Kiều Dạ Bạc.
 

Những chiếc đèn lồng đỏ lơ lửng trên đường Nguyễn Huệ như những giọt máu đông cứng trong hổ phách. Don Washington đứng ở rìa Chợ Tết, bàn tay nhẹ nhàng đặt trên eo Helen, cảm nhận hơi ấm từ lớp da tổng hợp của vợ mình—98.6 độ F, luôn hoàn hảo, luôn như người thật. Đám đông chen chúc xung quanh họ: những gia đình mặc cả mua cây quất, cành mai, chậu cúc. Trẻ con đuổi nhau giữa các gian hàng hạt sen, mức sấy, bánh kẹo. Xe máy bóp còi luồn qua những khe hở bất khả thi.
Tháng Chạp bắt đầu với những làn gió nhẹ, đã nghe thoang thoảng mùi hương xuân, chẳng biết có phải là vì cô Thuỷ Tiên giàu tưởng tượng hay không. Cả ấp Trà Cuôn đã rộn ràng chuẩn bị đón Tết, làm cô cũng thấy nao nao trong dạ. Nhạc xuân tưng bừng cất tiếng từ những máy truyền thanh bên hàng xóm. Bên thì réo rắt tân nhạc, Đón xuân này tôi nhớ xuân xưa/Một chiều xuân ai đã hẹn hò...1, bên thì bùi ngùi vọng cổ, Tết năm nay chắc nhà mình buồn lắm/Ngõ trước vườn sau tiêu điều vắng lặng/Xuân đã về chưa mà con của Mẹ vẫn chưa về...2 Tết sắp về ai lại chẳng nôn nao, nhưng riêng cô Thuỷ Tiên còn thêm nỗi niềm xa nhà nên nghe mấy bài hát đó cô cũng buồn nẫu ruột. Mùa xuân sắp tới, đánh dấu một năm tròn hương lửa mặn nồng giữa Minh Anh và cô, tình yêu còn phơi phới như đoá hoa bừng thắm. Nhưng mùa xuân cũng gợi cho cô những ngày Tết thời con gái vui tươi, hồn nhiên với gia đình ở Sài Gòn.
Độc giả luôn công bình và người viết bài này cũng sẽ bỏ phiếu Kiều Phong nếu có cuộc thăm dò lần nữa. Vậy lý do gì Kiều Phong được mến mộ hơn so với các nhân vật kiệt xuất khác của Kim Dung? Nếu đọc nhiều truyện võ hiệp của nhiều tác giả khác nhau kể cả Kim Dung, bạn sẽ để ý thấy các cốt truyện đêu mang máng một bố cục giống nhau: Có một gia đình hay môn phái nào đó bị kẻ thù ác độc đang tâm tận diệt nhưng may mẵn có một đứa bé, thường là bé trai, may mắn trồn thoát. Đứa bé từ đó phải một mình lưu lạc và may mắn gặp được minh sư thu làm đệ tử truyền dạy võ công tuyệt thế. Nhiều khi cậu ta nhờ cơ duyên ăn được kỳ trân dị bảo nào đó nên có được công lực thâm hậu, võ học tuyệt vời, lớn lên thành một thanh niên khoảng 17, 18 tuổi đẹp trai, thông minh, giỏi võ.
Có một loại gương mà con người không bao giờ muốn nhìn vào: gương phản chiếu nguyên trạng của bản thân. Chúng ta thích gương tô vẽ, gương photoshop, gương nghiêng một góc để che khuyết điểm. Và đối với một số người Việt—đặc biệt những người sống lưu vong trong tâm trí, dù thân xác họ ở California, ở Sydney, ở Paris hay ngay tại Sài Gòn—Trump không phải là chính khách. Trump là tấm gương được tô vẽ hoàn hảo. Họ không yêu Trump vì chính sách của ông. Họ yêu Trump vì ông là phiên bản thỏa mãn ước mơ ngầm của chính họ. Nhưng trước khi đi sâu vào anh Tuấn, hãy dừng lại một chút. Vì câu chuyện này không chỉ về người Việt hải ngoại. Nó còn về những người Việt trong nước—những người đáng lẽ là "bên thắng cuộc."
Là lũ chúng tôi đấy, những con “ngựa” sinh năm Bính Ngọ 1966. Năm đầu tiên bước vào ngưỡng cửa cấp ba, chúng tôi còn ngơ ngác, nhìn nhau …phòng thủ nhiều hơn là thân thiện . Bởi đó là năm lớp 10, vừa mới chia tay bạn bè, thầy cô của mái trường cấp hai, lại nghe nói lớp 10A1 năm nay sẽ là “Lớp Điểm” dành cho những học sinh được tuyển thẳng từ lớp 9 lên lớp 10 và những học sinh đạt điểm cao trong kỳ thi lên lớp 10 .
Anh cầm cây đàn lên, dạo một đoạn theo ngẫu hứng, rồi anh hát. Bản nhạc mấy mươi năm chưa hoàn thành. Nó như thiếu một chất men. Anh đã từng sáng tác thơ, nhạc, trên mỗi bước đường. Duy chỉ có bài hát này, anh chưa thể viết trọn. Giọng của anh nghe kỳ kỳ. Anh thấy nó lạ với chính mình. Sau lần mổ cắt khối u ở thanh quản, anh đã bị mất giọng. Đúng ra là giọng bị thay đổi, khàn hơn, đục hơn. Và khi hát, anh không thể ngân dài như trước. Bác sĩ hỏi anh có dùng thuốc lá, cà phê không. Anh thành thật thú nhận, thuốc lá cũng thuốc lá, cà phê cũng cà phê. Xưa, đi lính, hầu như ai cũng hút thuốc lá, nhưng nay anh đã bỏ hút rồi. Còn cà phê thì… không thể thiếu, để thức đêm làm việc.
Khác với các tác giả khác, tất cả tình tiết và diễn biến của câu chuyện đều xoay quanh nhân vật chính, truyện của Kim Dung được tác giả lồng vào những câu chuyện khác, đầy đủ tình tiết éo le từ những nhân vật phụ chung quanh kết nối vào trong tác phẩm một cách khéo léo. Những “Truyện trong truyện” này đã làm cho tiểu thuyết Kim Dung vô cùng đa dạng. Thí dụ trong “Bích Huyết Kiếm”, mối tình giữa Viên Thừa Chí và Hạ Thanh Thanh rất tẻ nhạt, trong khi chuyện tình của cha mẹ Thanh Thanh là nàng Ôn Nghi và Kim Xà Lang Quân lại là một thiên tình sử đầy thương cảm.
Vào những năm của thập niên 1960s và 70s, truyện võ hiệp kỳ tình là một phong trào ăn khách nhất của các tờ nhật báo thời bấy giờ. Có khá nhiều tác giả viết võ hiệp lúc đó, nhưng cái tên Kim Dung là sáng chói nhất. Ông là một hiện tượng nổi bật làm say mê hàng triệu độc giả và khán giả từ những trang tiểu thuyết của thế kỷ 20 kéo tiếp đến thế giới phim bộ Hồng Kông thế kỷ 21, không phải chỉ tạiViệt Nam, mà còn nhiếu nước khác ở Á châu.
Con đã nghe rất nhiều lần ở chùa, các thầy đọc: Quán tự tại Bồ Tát, hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách…Con đã nhìn thấy ở các chánh điện các chùa, các tượng Quan Thế Âm, phật A Di Đà và Đại Thế Chí Bồ Tát, được đặt cạnh nhau, hợp thành bộ Tây Phương Tam Thánh để dẫn dắt chúng sinh vào thế giới cực lạc tịch tĩnh. Con cũng thấy tượng phật Quan Âm được đặt thờ ở cổng chính các chùa, ở các nơi trang nghiêm để chúng sanh chiêm bái và ngưỡng vọng lòng từ bi cứu khổ cứu nạn…
Tới đây, tôi lại nhớ cái ngày ấy, khi tôi ngồi bàn phỏng vấn đi Canada. Thực ra, chỉ là cuộc nói chuyện ngắn gọn, vui vẻ, vì tôi làm việc trong văn phòng Cao Ủy trại tỵ nạn, thường xuyên giúp đỡ phái đoàn Canada chuyện điền forms cho các gia đình đi Canada, nên ông trưởng phái đoàn quen mặt, thấy tôi bị phái đoàn Mỹ từ chối, ổng sẵn sàng nhận tôi đi Canada bất chấp trong hồ sơ lý lịch của tôi có đầy đủ anh chị em đang ở Mỹ
Trong thời đại nhân danh mọi thứ trừ sự thật, chữ “trung thực” vừa đắt giá vừa khả nghi – người ta nhân danh đạo lý che đậy quyền lợi, nhân danh hòa bình chuẩn bị chiến tranh, nhân danh “dám nói thẳng” biện minh cho mất nhân cách. “Người Trung Thực Nhất Thế Giới” mượn hai vị sứ giả hành tinh soi ranh giới giữa trung thực và bình phong mưu đồ: không trào lộng, dù tiếng cười khó thảnh thơi; không buộc tội ai, dù bóng ai đó thấp thoáng. Xin giới thiệu đến độc giả Việt Báo khúc văn suy tưởng này, bình thản giọng kể mà day dứt nỗi băn khoăn trước cái giá thế giới phải trả cho việc “dám” nói thực.
Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ xót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợị được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyền sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.