Hôm nay,  

Hoa bông giấy

06/08/202211:27:00(Xem: 4756)

Truyện ngắn

maxresdefault

Chuyện xa thì nhớ, chuyện gần thì quên:

 

Mời người lên xe về miền quá khứ

Mời người đem theo trọn vẹn thương yêu…

(Nghìn trùng xa cách, Phạm Duy).

 

Ở cái miền đấy hoa bông giấy nhiều lắm, nhiều vô kể, nhà học trò cô Anh Thơ, mỗi nhà có từng cụm cây hoa bông giấy trồng từ lâu đời, tàn lá sum suê rậm rạp. Hoa bông giấy có nhiều màu, màu đỏ xậm, màu đỏ tím như hoa sim, màu vàng cam, màu hồng, màu trắng, đủ màu, hoa không có hương, nhưng màu sắc rực rỡ vô cùng như những nụ cười chưa bao giờ khép.

 

Cây bông giấy lên rất khỏe, rất mạnh, càng cắt tỉa chừng nào, cành lá mau ra chồi chừng ấy. Hoa bông giấy không hề héo, hình như không bao giờ héo. Khi hoa nở đã lâu, gió thổi mưa rơi, hoa rơi theo lả tả dưới đất. Nhưng hoa vẫn không héo, 3, 4 cánh nở đầy vẫn tựa lưng vào nhau. Mấy nhụy vẫn vươn cao trong lòng 3 cánh hoa.

 

Cô Anh Thơ đã có lần tỏ thắc mắc: Tại sao hoa rụng mà hoa không héo nhỉ? Tại nó tên là bông giấy, thưa cô! Một đứa học trò hóm hỉnh trả lời: Kêu là bông giấy nhưng là bông thiệt, chớ không phải là bông giả đâu Cô. Xí, làm mặt tài không, ai không biết điều đó.

 

Tụi học trò ưa cãi nhau lắm. Tụi nó là cái đám học trò xã Đại Phước, thuộc yếu khu thành Tuy Hạ, nơi mà cô Anh Thơ được điều động về dạy học hơn hai năm nay, kể từ lúc cô vừa ra trường Đại học Sư phạm Sài Gòn.

 

Những ngày đầu tiên của nghề gõ đầu trẻ ở đây cô buồn buồn, buồn nhứt là phải bỏ lại sau lưng Sài Gòn rộn rịp, để rồi qua đò Thủ Thiêm, qua phà Cát Lái, về quận Nhơn Trạch hẻo lánh toàn thấy rừng cao su là rừng cao su.

 

« Con đi đầu tuần rồi cuối tuần con lại về Sài Gòn với gia đình, đi làm ăn phải vậy, có gì đâu mà con buồn. Rồi con còn đi lấy chồng nữa kia… » Mẹ cô vẫn thường an ủi vậy.

 

Nhưng bà có biết đâu rằng miền đất Nhơn Trạch nằm kề Sông Sàu, cùng với Dĩ An, Công Thạnh là những địa danh mà chiến tranh rình rập, biến hiện rất bất ngờ. Cô Anh Thơ không sợ chiến tranh, cô chưa biết sợ chết, kể là sợ súng đạn, vì hẳn là cô chưa trực tiếp đối diện. Thỉnh thoảng đêm nằm ngủ ở quận lỵ cô vẫn nghe tiếng súng vọng về từ  xa xa, có lúc thật gần, nhưng cô chỉ nghe chớ cô chưa nhìn thấy. Khi khó ngủ cô lại nhớ lời thầy giảng: “Người lính có thể hy sinh thân mình để bảo vệ gia đình, đất nước, quê hương, nhưng với vũ khí hiện đại ngày nay thì tội nghiệp làm sao, thử hỏi người lính đó có hy sinh cả cái mà nhơn danh nó mình hy sinh không? Có tiếng la ó phản đối từ đám đông sinh viên, rồi mất điện, có một đám tuổi trẻ không bằng lòng thầy, bảo là thầy giảng có ít nhiều tư tưởng phản chiến. Ừ thì có đối diện cận chiến đi rồi hãy nói chuyện tham chiến hay phản chiến.

 

Những ý nghĩ mông lung làm cô trăn trở, những điều cô không thích ngay trong hiện tại bây giờ là quanh cô, những cái mái tranh thật thấp và bóng đèn dầu tù mù, làm cô thấy quãng đời như đi giật lùi, hay ai gọi là đi xuống tối tăm hơn. Cô hơi chán nản. Cô cũng có lần thở dài tiếc ngày còn đi học tràn đầy hoa mộng, tràn đầy ánh sáng ở Sài Gòn phía xa xa kia.

 

Thực tế và tương lai có lúc vui lúc buồn, nhưng phải đi vào cuộc sống mới hiểu rỏ được mình và cuộc sống, đã hòa trộn, đã lẫn lộn vào nhau thế nào. Thế rồi từ lúc nào không rõ cô đã yêu thương cái đám học trò vừa tỉnh vừa quê của cô, chúng dễ thương và mộc mạc lắm. Cũng có vài đứa con nhà khá khá, cũng biết làm dáng từ áo quần, sách vở qua lời ăn tiếng nói thưa gởi. Có những em thật lười, chúng gốc gác ở đây lâu đời, chuyên làm rẫy chăn trâu, nhứt là trồng hoa huệ, chỉ về Sài Gòn bán, hoặc chăn nuôi gà, vịt, heo. Chúng có vẻ quê đặc, mặc áo quần bà ba, cười nói oang oang trên đường đi học. Một số em, hơi ít, gia đình giàu có, có cửa tiệm, có cây xăng, nhà thuốc tây, một vài gia đình người Việt gốc Hoa bán tạp hóa, quán ăn, thì tỏ ra láng coóng, ăn diện và mỗi đứa sắm một cái xe Honda, chiều chiều phóng vù vù ngoài đường nhựa bọc quanh các lô cao su. Chúng sung sướng là lướt như nhà giàu ở thành phố lớn, sắm xe hơi chiều chiều ra xa lộ hóng mát vậy.

 

Nói vậy không phải học trò nghèo không có cái vui thú riêng của chúng đâu. Cô Anh Thơ nhớ là sau một tháng thầy trò làm quen, một buổi kia tan trường, có 2, 3 đứa học trò quê rà rà bên cô rủ cô chiều nay khoảng 6, 7 giờ đi chèo thuyền với chúng. Cô tò mò hưởng ứng ngay, thế là một buổi chiều hôm đó, thầy trò săn quần quá gối ra ven sông tập tễnh leo lên thuyền. Thuyền chèo tay, ghe thì đúng hơn, nhưng trò Non nó sống lâu năm trong nghề nên lanh lẹ lắm, chỉ cần quơ 2, 3 dầm nó đã đẩy thuyền ra giữa dòng sông sâu.

 

– Cô ơi cô muốn đi đâu?

 

– Đi đâu? Cô biết đâu mà đi, em dắt cô đi đâu, cô đi đó. – Cả bọn cười.

 

– Đừng bắt cô đi gặp VC nghe anh Non.

 

– Thôi, xuống dưới bến tụi em sẽ bắt ghẹ về rang muối. Đêm nay đêm rằm, nhiều cua, nhiều ghẹ ra lắm.

 

Cô Anh Thơ ưng thuận ngay. Một buổi đi chơi giữa thiên nhiên rất vui, vô sự. Hôm sau cô đến lớp hơi trễ vì dậy muộn. Vừa đặt chân lên hành lang xi măng cô đã nghe thấy vài ba câu hát ong óng như ghẹo cô.

 

Đêm nay bao con thuyền về đâu xuôi mái…

Ai ca dưới trăng vàng đường xa vắn dài

Mái chèo khoan thai trên sông dãi dầu

Con thuyền về đâu…? Ô hay sao trăng rụng xuống « đầu »…

 

Rồi một ngày sinh nhựt cô, đám con gái đã biết mang tặng cô một ôm hoa bông giấy đầy tay đủ màu tươi thắm. Cô cảm động đỏ mặt. Chúng biết giỡn bao giờ cô lấy chồng. Cô ân cần cười với đám học trò dễ thương. Khi nào cô lấy chồng cô sẽ mang về đây làm đám cưới để nhận được thật nhiều quà của các em.

 

– Thật nghe cô!

 

– Hoan hô cô!

 

– Thế cô cho tụi em ăn cỗ luôn hả cô?

 

– Tụi em sẽ mua của nhà thằng Trương Ngừng một con bò con, mình thui nó lên!

 

*

 

Quân Nhơn Trạch mùa xuân 1968

 

Mùa xuân đến cùng khắp nơi nơi, có một sự thay đổi của đất trời và của lòng người. Mùa xuân nơi làng quê hoa nở rộ, cả những đóa hoa mắc cỡ và nhiều loại hoa dại bên đường. Con đường quê quận lỵ mặc áo mới, con đường mang những đường viền lộng lẫy: đất thì đỏ nổi bật giữa viền hoa vàng, tím xanh và cỏ non mượt. Con đường lên dốc nhà thờ, đường xuống chợ Đại Phước, đường ra bến phà Cát Lái, đường sang Long Thành, người đi lại rộn rịp, buôn buôn bán bán, xe cộ nhộn nhịp vào cuối năm. Từ sớm tinh mơ xe lam chở đầy hoa huệ và hoa cúc về Sài Gòn. Tiếng gọi nhau ơi ới. Cùng với tiếng vó ngựa nhịp nhàng gõ lốc cốc trên những khúc đường tráng nhựa.

 

Còn gần một tuần lễ nữa học trò nghỉ Tết. Các thầy cô sửa soạn tất niên cùng với các lớp. Học trò nhà quê vừa giúp cha mẹ bán hàng, vừa lật đật ghé về trường, chạy tới chạy lui như con thoi. Trên bàn giấy nhà cô Anh Thơ, kê sát cửa sổ ngó ra đường, ngoài cái đồng hồ báo thức và chồng bài đang chấm dở, còn có thêm quà Tết học trò mang lại sớm mừng tuổi cô: hai chai rượu Tàu Mai Quế Lộ, cặp bánh tét bụ bẫm và bao trà Hoa Mai giấy bóng kiếng đỏ.

 

Cô Anh Thơ đang lục đục ở cuối phòng, cũng có một góc bếp, ý chừng cô đang sửa soạn pha chút café cho buổi sáng. Thấy Nhuệ, thầy Xiết chân trong chân ngoài cửa nhà cô đã kịp pha trò:

 

– Ôi chao, học trò chi mà chúng có hiếu quá. Nó Tết cô nó hậu ghê ta!

 

– Anh có biết sao nó Tết cô mà chưa Tết thầy không? Coi chừng nó không Tết thầy nó luôn đó.

 

– Ờ, cái đó là chúng ẩu thiệt, không chừng nó hối lộ, qua năm mới cô đừng cho nó zero bài kiểm.

 

– Thôi thôi ông đoán sai bét. Tại sao, tại vì thầy nó tham ăn, láo ăn quá nên chúng khoan biếu vội.

 

Cả ba đồng nghiệp thích chí cười vang.

 

– Tôi đồng ý với chị Thơ chút xíu, mà anh Nhuệ cũng có lý, tụi này quê quá chứ láu cá lắm đấy. Nhứt là đám Tiều dưới chợ và đám nhà giàu trên Long Thành. Cả mấy đứa Bắc kỳ di cư dưới Thị Câu cũng khôn tổ mẹ.

 

– Không lẽ chúng dại hết để mình mình khôn.

 

Ông thầy xoay xoay hộp trà, cười cười tiếp:

 

– Bọn ở rẫy con nhà Sáu Trân như thằng Non, thầy Tính ôi chu choa nó dốt sao mà dốt, giờ nhạc mà nó hát như đếm làm tôi chán nản.

 

– Mấy đứa con gái xóm chợ thì đanh đá dễ sợ.

 

– Mình đang nói xấu học trò khuất mặt như vậy mắc cỡ lắm.

– Tại là chúng chưa được đọc văn chương của cô. Sang năm lên lớp học cô nó văn minh ngay mấy hồi.

 

– Thôi đừng tán. Hai chai rượu thì tôi để tôi uống mình tôi, chớ tôi không mang lại tất niên đâu. Khoan mừng vội đi ông.

 

*

 

Nhưng rồi cô Anh Thơ cũng mang bánh, mang rượu lại tất niên với đồng nghiệp, với học trò.

Mấy thầy tháp tùng học trò vô rừng chặt mang về hoa mai rừng. Hoa mai vàng nở bùng tưng bừng trang trí xung quanh một lớp học riêng, bàn ghế kê sát, bao vây quanh tường. Phía trên cửa ra vào phòng học rộng làm tất niên, bàn tay nào kín đáo đã gắn lên một bó hoa giấy màu trắng tươi nở rộ, lộng lẫy ngay phía trên đầu mọi người. Màu sáng trắng đẹp quá làm căn phòng như bừng lên nét tươi trẻ và hăng say yêu đời. Đám nữ sinh nấu một nồi chè Bà Ba thật lớn. Đám nam sinh khuân tới bánh chưng, bánh tét, mứt và dưa hấu. Quả nào quả nấy láng mướt hứa hẹn bên trong đỏ lựu ngọt ngào.

 

Thầy trò chúc Tết qua lại từng lớp, từng lớp. Tiếng vỗ tay râm ran thay pháo. Trò Thọ, trò Tốt sung sướng khua đàn guitare vang vang và màn văn nghệ bỏ túi bắt đầu.

 

Tuy không thiện nghệ lắm nhưng cũng đủ để hoạt náo mọi người. Thầy cô trẻ hân hoan, không ngờ đám học trò nhà quê của họ cũng đầy máu văn nghệ văn gừng y như họ mới ngày nào cũng khua rộn đại học xá Minh Mạng.

 

Trò Bảnh, trưởng lớp 9A1 kín đáo, ngoan ngoãn và kỷ luật, lúc nào cũng có đó mà như không có đó. Trò đi qua đi lại bên cửa sổ, khi quay ra nhìn ngoài lộ, khi quay vào lượm vài tờ giấy nơi trên bục giảng kê dọc theo chiều dài tấm bảng đen lớn của lớp ở đó đã được viết đầy những hang chữ to: “Cung Chúc Tân Xuân, Bonne année. Meilleur voeux, Happy New Year… you’re never forgotten. “Mấy trò nữ xung phong lên hát, tụi con trai ồn ào vỗ tay phụ họa. “Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi…”  Rồi tất cả thầy trò, trai gái cùng nhau hát vang lên. Họ cùng đón xuân với nhạc sĩ Phạm Đình Chương:

 

Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi, người thương gia lợi tức, người công nhân ấm no, thoát ly đời gian lao nghèo khó. A A A A… chúc người vui… Ngày máu xương thôi tuôn rơi, ngày ấy quê hương yên vui. Đợi anh về trong chén tình đầy vơi…

 

Họ cùng hát, những ánh mắt long lanh. Mộng đầy tay, xuân ngập lòng. Tình cảm chơi vơi, hân hoan trong tiếng hát vang, rộn rã, tưng bừng muốn bể cả cái trường trung học đầu tiên và bé nhỏ của một quận lỵ ngay giới đầu chiến tuyến.

 

Đến lượt phe nam sinh chẳng ai dám ra hát, đứa nọ đùn đứa kia.

 

– Tụi nó nhát cáy lắm, phá thì như quỉ mà hát hò thì chẳng đứa nào dám lên.

 

– Im đi. Coi kìa, có anh Non già đứng lên, anh Non giơ tay muốn hát. OK. OK.

 

Tết không về chắc em nhắc anh nhiều lắm. Non có nhiều thiện chí góp vui, nhưng hát dở kệch, hát như nói.

 

– Con khỉ chớ ai thèm nhắc nó.

Mọi người cười ngất ngư, Non vẫn tiếp tục hát. Hình như hắn muốn chọc cười mọi người, hát sai nhịp, hát như đọc bài. Cô thầy bạn bè lăn ra cười, cười gấp đôi người, cười chảy cả nước mắt. Hai đứa đàn chợt ngưng đàn để cười. Non trịnh trọng bắt sang câu khác:

 

Ngày đầu xuân chúc non nước thanh bình,

Ngày mùng hai chúc cho lứa đôi mình…

 

– Thôi, chấm dứt đi ông nội. Mầy cứ hát như vậy chắc tụi tao sẽ đau bụng mà chết. Hết ăn Tết vì mầy.

 

Huỳnh Văn Tính đứng lên cản Non. Non ngồi xuống rồi không biết hăng tiết sao đó hắn lại loi choi đứng dậy mặc cho Tính đè hắn ngồi xuống.

 

– Thưa, em đề nghị chị Rí lên ca bài gì “Lau mắt đi em”… của Đỗ Lễ, nghe mùi lắm.

 

Nãy giờ mọi người đã lau mắt quá trời vì thằng Non rồi. Rí khoan thai lên hát “Sang ngang” của Đỗ Lễ. Quả là cô bé học trò nầy có giọng ca tryền cảm. Tiếng ồn ngưng, im bặt trong mười phút. Rồi cũng bị phê bình.

 

\– Mùi, tao thấy có mùi gì đâu?

 

– Mầy nghẹt mũi rồi. Tao có thấy mùi mà là mùi phân bò với mùi rơm khô.

 

– Im mồm ngay. Cái mặt mẹt thằng chệt Đặng Tiểu Bình kia!

 

Bình xếp ve, ngồi im cười cười thì đúng lúc đó Bảnh, trưởng lớp, tác phong vẫn nghiêm trang, đến cô Anh Thơ nhỏ nhẹ thưa:

 

– Dạ, có hai chị Hoa và Nữ lớp 9A2 đi Long Thành mua pháo nãy giờ chưa về.

 

– Ai cho hai em đó đi? Đi hồi nào?

 

– Dạ, nghe mấy chị đi từ sớm mai, trước khi tới trường.

 

Cô Anh Thơ nhìn đồng hồ lo lắng, bóng nắng đã xéo qua thềm. Đầu cô như lùng bùng.

Thềm đầy vỏ hạt dưa đỏ và hoa giấy tròn tròn cắt vụn vung vãi lung tung, làm cô, bước đi chập choạng.

 

– Cô khỏi lo, mấy đứa nó không bị tóm đâu, bị tụi nó có người nhà ở “bển” mà.

 

– Hai chị đó “ngựa “ lắm cô, chiều nào cũng bới tóc ngược lạng xe Honda xém ra tới xa lộ Đại Hàn.

 

– Tụi nó cũng ham tán mấy ông lính trong thành nữa.

 

Cô giơ tay xua lũ nhóc con ra xa đặng trao đổi với trưởng lớp.

 

– Tại sao các em biết ngoài đó có pháo mà ra mua?

 

– Bị ở đây cấm làm vì gần kho đạn, mà ở ngoài đó họ làm lén, bán lén, thưa cô.

 

Cô Thơ ra ngoài hành lang xa hơn, bàn bạc cùng mấy thầy, giữa cái vùng xôi đậu nầy không biết làm sao mà cứu giúp nhau.

 

*

 

Buổi chiều 28 Tết Quý Mùi cùng ngày, cô Anh Thơ đùm đề khăn gói xuống phà về Sài Gòn ăn Tết với gia đình, sau khi đã ăn Tết với học trò. Chỉ còn khoảng nửa giờ thì tàu rời bến. Mấy đứa học trò lớn đã kịp chạy tới hớt hải phi báo:

 

– Cô cô! Hai trò đó bị bắn sẻ ở Tiểu Tòng Lâm hồi xế chiều rồi.

 

– Tiểu Tòng Lâm, Tiểu Tòng Lâm ở đâu? Cô Anh Thơ hốt hoảng.

 

– Dạ ở kế một bên Đại Tòng Lâm

 

– Đại Tòng Lâm?

 

– Dạ, chỗ đó giáp ranh với làng cô nhi Long Thành, chỗ bữa trước trường mình có lần tổ chức lên thăm các em. Ngay ngã ba quẹo về đường đi Bà Rịa.

 

Nhìn mặt đám học trò ngây thơ, sợ sệt và xanh lè, cô biết là chuyện không đùa. Cô không nói, bậm môi bước lên phà. Chuyện riêng tư của thầy trò cô đâu ai biết, ở đây mạng người có lúc nhẹ như cái lá tre. Có đứa học trò nào đó có lúc nói với cô câu đó.

 

Xung quanh vẫn ồn ào tiếng người và sóng nước dập dồn. Còi hụ, tàu rời bến. Cô Anh Thơ vẫy tay từ biệt những học trò nhỏ bé của cô. Chân tay cô lạnh ngắt, ngươi đong đưa tựa con tàu lắc nhịp chòng chành. Cô chóng mặt, mấy bó bông trên tay cô tuột khỏi, va nhẹ đâu đó và bị rơi xuống nước, sóng nước dập dồn…

 

Hoa bông giấy đó.

 

Hoa giấy mà là hoa thật không phải hoa giả đâu cô.

 

Những bông hoa xuân màu đỏ thật là thân thương đang vỡ tan tành, từng cánh từng bông. Trôi bồng bềnh, trôi bồng bềnh, lên xuống, ra xa.

 

Chúc Thanh

 

Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng. «… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
Tháng tư ngửa mặt nhìn trời | Nhớ xem hồng nhạn đã rơi phương nào | Cánh chim gãy sợi tóc đau | Con đò chở khẳm nỗi sầu lưu vong.
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt.
Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời. Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.