Hôm nay,  

Nhớ… từ một lần coi phim

15/08/202220:23:00(Xem: 5736)

Tùy bút

vobidalat

 

Sau cuộc tấn công đợt 2 Mậu Thân của Việt Cộng, nhà tôi cháy rụi. Khi lên Đà Lạt học, tôi xin tá túc ở nhà cô tôi ở cuối đường Phan Đình Phùng. Mỗi chúa nhật, tôi và người em họ ra phố đều nhìn thấy những hình ảnh oai hùng và đẹp mắt: sinh viên sĩ quan (SVSQ) trường Võ Bị Quốc gia Việt Nam và trường Đại học Chiến Tranh Chính Trị đi phố cuối tuần!

 

Thỉnh thoảng tôi cũng gặp người cháu gọi bằng cậu đang học khóa 25 trường Võ Bị ghé thăm. Cháu lớn tuổi hơn tôi, con đời trước của chồng người chị cô cậu nhưng xưng hô với mọi người trong gia đình tôi như các cháu con đời sau của anh chị. Khi lên học Đà Lạt ghé thăm cô dượng tôi cũng xưng hô với cô dượng bằng ông bà, các em tôi bằng cậu dì, như ruột thịt.

Nhân coi lại phim The Longest Day (Le jour le plus long), đến đoạn người con trai tướng Eisenhower xin ra chiến trường sau khi trị thương ổn định, chỉ huy của anh ta không bằng lòng vì chưa thể chiến đấu như người bình thường được. Vợ tôi bảo: Đâu phải con ông Tướng muốn gì cũng được! (dầu là muốn đi chiến đấu) trong khi ở Việt Nam thì…

Chuyện lan man với vợ làm tôi liên tưởng đến người cháu dễ thương đã quá cố này, đến những kỷ niệm với cháu hơn 45 năm trước ở Đà Lạt. Sáng nay, lại đọc trên BM blog bài viết “Chuyện ở Học viện Quân sự West Point”. Rất thú vị và điều này thúc đẩy tôi viết lại vài hàng những kỷ niệm với cháu và những điều tôi biết về trường.

 

Trường Võ bị Quốc gia Việt Nam nhận sinh viên đã có bằng tú tài II, trúng tuyển sau khi thi đậu vào trường, có thời kỳ phải vượt qua cả kỳ thi vấn đáp. Khóa sinh được gửi học ở quân trường Quang Trung Sài Gòn 3 tháng để tiếp thu phần huấn luyện cơ bản. Quang Trung là TTHL cho tất cả những người lính bình thường!

 

“Sau khi xong ở Quang Trung, bọn cháu (khóa 25) được xe đón về trường ở Đà Lạt để học chính thức. Khi xe vào đến cổng trường, một lễ đón tiếp tân khóa sinh diễn ra long trọng, có cả quân nhạc oai hùng, ai cũng rơm rớm nước mắt, cứ như tổ quốc đã giao vận mạng đất nước vào tay mình nhưng khi vượt qua bảng ghi khẩu hiệu “Tự thắng để chỉ huy” trước cổng, lệnh từ chỉ huy ban xuống: “Vất ba lô, tất cả chạy quanh vũ đình trường ba vòng!”. Ba vòng vũ đình trường là 3 cây số! Và từ đó, bắt đầu thời kỳ “huấn nhục” diễn ra trong 56 ngày với những thử thách cực kỳ cam go mà nếu không dốc lòng chắc khó mà tồn tại. Cháu kể cho tôi nghe những ngày mới về trường như thế. Có lần, cháu ghé thăm, khi tôi lấy xe đưa về, cháu giành chạy xe, tôi bảo, đường lạ để mình chạy, cháu bảo SVSQ Võ bị không để người khác chở trừ phi là những người cùng trường. SVSQ cũng không được đi xe lam, không được ngồi quán cóc, không ăn uống ở lề đường, ở các quán xá bình dân mà phải vào nhà hàng, tiệm ăn sang trọng. Đó là tinh thần “Tự thắng để chỉ huy”, tôi nghe mà ngạc nhiên pha lẫn thích thú.

 

Mỗi cuối tuần, phố phường Đà Lạt bỗng đẹp thêm và sang trọng nhất là khu Hòa Bình nhờ có các SVSQ vừa VBQG vừa CTCT đi phép. Nghe kể mỗi sinh viên đều có bốn bộ complet là lễ phục gồm 2 bộ tiểu lễ và 2 bộ đại lễ, hai cho mùa đông và hai cho mùa hè. Chỉ đến khi SV xong thời kỳ huấn nhục, được “gắn alpha” thì mới được đi phép ra phố với lễ phục, mới “được tôn trọng” như con người, mới được cư xử theo hiến pháp và luật pháp. Còn huấn nhục thì cứ gọi là bị đày đọa đến cùng và bị ít nhiều là tùy hên/xui.

Chuyện bị sĩ quan chỉ huy hay huấn luyện viên phạt là bình thường nhưng việc bị khóa đàn anh phạt mới là cắc cớ, mới là kinh hoàng, là ác mộng, và việc này có thể xãy ra ngay trong tiệm ăn, nhà hàng, giữa khu Hòa Bình Đà Lạt, năm hai phạt năm một, khóa 24 phạt khóa 25 là chuyện thường.

 

Sau Mậu thân, do tình hình an ninh sau biến cố này, các trường khuyến cáo SVSQ không nên đi quá Ngã Ba Chùa trên đường Phan Đình Phùng và Hai Bà Trưng cũng thế. Có lần tôi theo cháu vào thăm trường, cậu cháu vào câu lạc bộ uống café, khi vào nơi này phải đi ngang nhà ăn, ở đó treo tại các vị trí trang trọng ảnh của các khóa sinh từ khóa I là những vị tướng nổi tiếng và đang tại nhiệm của quân lực VNCH. Cũng ở nhà ăn, cháu kể khi ngồi vào bàn ăn, từ động tác bưng chén cơm, đưa vào miệng đến đặt lại xuống bàn đều phải theo hình thể hình học và theo các phương vuông góc với nhau. Không hiểu người ta thực hiện việc này nhằm mục đích gì nhưng nghe kể thật là thú vị và điều này giúp người nghe hình dung được hình ảnh người sĩ quan quân lực VNCH mang lon thiếu úy khi ra trường!

 

Từ ngoài cổng đi vào, ghi nhận đầu tiên và cũng là sự thán phục của tôi là mọi nơi đều sạch sẻ, ngăn nắp, nhà cửa, phòng học, đường đi lối lại được bố trí ngay ngắn, sạch đẹp hơn cả công viên và chắc chắn đây là do bàn tay chăm sóc của khóa sinh (chỉ khi so sánh với hai nơi tôi đã từng biết: Trung tâm Huấn luyện Lam Sơn ở Ninh Hòa và Trung tâm Huấn luyện Đống Đa ở Phú Bài, Huế).


Cháu cũng được nghe các niên trưởng kể lại rằng đêm trước ngày làm lễ ra trường cho các khóa tốt nghiệp, các SVSQ trực ở Đài Tử Sĩ giữa khuya thường nghe tiếng chào nhau, tiếng chân mang giày đi trận về đi rầm rập nhưng không thấy người, hỏi đơn vị trước đây của nhau của vong hồn các sĩ quan đã tử trận nên ai cũng sợ phải trực ở đó! Không biết thực hư thế nào?

 

Chuyện tôi được nghe kể nhiều, không chỉ riêng từ cháu là nội dung đào tạo và áp lực khi học trong trường. Từ năm 1966, trường VBQGVN thực hiện học trình 4 năm, bằng tốt nghiệp được công nhận có giá trị như bằng cử nhân dân sự nhưng tôi biết, khi ra trường họ là một sĩ quan đa năng đa hiệu, biết lái xe, biết chèo thuyền, biết sữa chữa nhỏ khi xe hay ca nô hỏng hóc, biết nhảy đầm, biết mưu sinh thoát hiểm, biết tổ chức một chương trình văn nghệ hay một đêm vũ hội hóa trang… Điều này làm tôi liên tưởng đến trường Võ bị West Point ở Mỹ và khi tìm hiểu thì đúng là trường học tập mô hình đào tạo của West Point. Mời bạn đọc những trích đoạn này trên BM blog: “Ở Mỹ nghe ai nói tao từng học ở West Point, người ta nhìn mình từ trên xuống dưới, như 1 thực thể lạ, một con người hoàn hảo. Không xếp hạng được vì nó không có thể có tiêu chuẩn để xếp”.
.
“Chương trình học từ thiên văn vũ trụ đến cách bắt tay, cách uống rượu vẫn tỉnh táo, cách gấp mùng mền chiếu gối đến tranh luận các tác phẩm của Victor Hugo. Trên thông thiên văn, dưới tường địa chất, giữa thấu nhân tâm”.

 

“Ở West Point, có một slogan là cứ đưa cho tôi một người không phải tâm thần, tôi đều có thể đào tạo thành 1 công dân ưu tú”.

 

Trích dẫn trên làm tôi liên tưởng tới slogan chữ to đặt ngay trước trường Đào tạo Người nhái ở bán đảo Cam Ranh trước 1975 đại để là: “Việc gì người thường không làm được, người nhái phải làm được!” Tôi không ở gần cháu được lâu vì không còn học ở Đà Lạt năm sau nhưng sau này nghe gia đình kể lại rằng, trước ngày ra trường, người anh em cột chèo với ba cháu là một dân biểu có thế lực ở Sài Gòn có nhã ý đề nghị vận động cháu về làm việc ở Nha Quân pháp bộ Quốc Phòng để khỏi đi chiến đấu nhưng cháu lễ phép cám ơn và từ chối với lý do là không thể phụ lòng tin và mong mỏi của trường. Cả nhà không đồng tình nhưng nễ cháu và không tiếc lời ca ngợi nhà trường.

 

Ra trường, cháu về đơn vị tác chiến của SĐ2 BB (đóng ở Quảng Ngãi mà mùa hè đỏ lửa 1972 cũng đã xãy ra những trân kịch chiến với Bắc quân), đó là điều mà cháu lấy làm tiếc vì khi ghi danh vào các binh chủng lừng danh như Thủy quân luc chiến, Biệt động quân, Nhảy dù… đã có những đồng môn đỗ cao hơn chọn trước và hết chỗ! Khi cuộc chiến kết thúc, cháu đã mang quân hàm đại úy. Đẹp!

 

Sau 1975, khi cháu đi tù về, thỉnh thoảng tôi có gặp đôi lần, vẫn như xưa với nụ cười hiền và mắt sáng khi cười, vẫn lễ phép, nhã nhặn, sau đó lại nghe cháu về Sài Gòn làm việc cho một HTX của bạn cùng khóa, hợp tác xã này ưu tiên và ưu đãi cho tất cả đồng đội ở tù về. Sau này, rất vô tình, tôi lại gặp một cựu sinh viên khóa này ở thị trấn tôi làm việc, vậy là anh ta gọi tôi bằng “cậu” và kể lại câu chuyện trên cùng những chia sẻ về sau khi cháu bệnh ở Sài Gòn rồi qua đời và khóa 25 đã giúp đỡ vợ con cháu như thế nào.

 

Vẫn biết rằng, “La comparaison n’est pas raison” (mọi sự so sánh đều khập khiểng), đem so sánh trường West Point thành lập từ 1802 với trường VBQGVN ra đời ở Đập Đá, Huế năm 1950 (nhưng chỉ với học trình 9 tháng rồi tăng dần lên 4 năm từ năm 1966) là không ổn nhưng tôi nghĩ, sinh viên VBQGVN cũng không khác gì West Point như mô tả dưới đây: “Nhìn các học viên WP đánh đàn, nhảy, khiêu vũ, võ thuật, hát, ảo thuật, thám hiểm, vẽ…hay thậm chí tỉ mỉ ngồi cắt tỉa giấy để rèn luyện đôi tay khéo léo, bạn sẽ thấy mình sẽ phải cố gắng thật nhiều. Một ngày chỉ có 24h, là công bằng cho tất cả mọi người. Chúng ta phải ngủ 6-8 tiếng, ai cũng chỉ còn 16h trong ngày. Nên phải chia ra, làm gì, học gì trong quỹ thời gian ít ỏi đó. Một WPer nếu sáng sớm không nộp được bảng mô tả công việc trong ngày (daily to-do list) cho bạn trưởng nhóm, thì coi như nắm chắc suất cuốn gói về quê”.

 

Với tuổi đời chỉ ¼ thế kỷ, chương trình và nội dung đào tạo lúc đầu theo mô hình Pháp rồi Mỹ nhưng trường đã góp phần không nhỏ cho sự lớn mạnh và làm rạng danh quân lực Việt Nam Cộng Hòa với những chiến công lẫy lừng của những sĩ quan đã từ đó ra đi, đã làm những cố vấn Mỹ và sĩ quan đồng minh chiến đấu chung chiến hào không tiếc lời ca ngợi và cả người của “bên thắng cuộc”. . . sau khi chiến tranh chấm dứt vẫn còn nễ phục kể cả khi họ chỉ là một tù nhân đang bị đày đọa trong các trại tù.

 

– Nguyễn Hoàng Quý

 

Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.