Hôm nay,  

Hoạn quan

26/08/202210:22:00(Xem: 5515)
Tìm hiểu

thaigiam
Thái giám triều Nguyễn.

  

Người Việt Nam không còn lạ gì những nhân vật thái giám trong các phim bộ Hồng Kông, những người đàn ông có dáng dấp và giọng nói ẻo lả như phụ nữ. Ai cũng biết thái giám là những người đàn ông bị thiến, để phục vụ cho vua và hoàng tộc trong cấm cung. Đặc biệt là Quế Công Công, thái giám giả Vi Tiểu Bảo trong Lộc Đỉnh Ký, đã làm những chuyện động trời với Kiến Ninh công chúa, em của vua Khang Hy, và với 2 tiểu thơ của Mộc Vương phủ, bị Thiên Địa Hội đưa vào hoàng cung, nơi bí mật để Vi Tiểu Bảo quản lý.


Thái giám ăn hối lộ của các cung phi, để sắp xếp cho được vào phục vụ nhà vua, thái giám rình rập nghe tin tức, làm gián điệp cho các hoàng hậu, hoàng thái hậu và giữa các quý phi...

Các triều đình phong kiến Việt Nam ngày xưa cũng có hoạn quan phục dịch, nhưng ít có ai nhắc đến họ, vì họ bị xem như những nô tài âm thầm trong cung. Hơn nữa, không có những hoạn quan chuyên quyền, lộng hành, gây bè đảng, nhũng nhiễu triều chính như ở bên Trung Hoa.

Dưới thời Đế Quốc La Mã, những thanh niên khoẻ mạnh được tuyển chọn đem đi thiến làm hoạn quan. Ví dụ như Bagoas là hoạn thần được Alexander Đại Đế sủng ái, còn vua Neron thì có hoạn quan tên Sporus.

Hoạn quan Trung Hoa

      Ngụy Trung Hiền - Đại thái giám lũng đoạn minh triều  hoan-quan-la-gihoan-quan-la-gi


Các triều đại phong kiến Trung Hoa xa xưa, từ đời nhà Tùy, nhà Đường, nhà Tống đã có những cơ cấu Nội Thị do hoạn quan đảm nhiệm, trông coi mọi việc trong cung đình. Hoạn quan nhà Tống có người thống lĩnh quân đội, đến đời nhà Thanh thì chức Tổng Quản Thái Giám đứng đầu các thái giám. Có nhiều tên và chức vụ để chỉ hoạn quan: Thái giám, Công công, Tự nhân, Yêm nhân, Nội thị, Thị nhân, Yêm hoạn, Hoạn giả, Trung quan, Nội thân, Nội giám. Từ ngữ "Thái giám" xuất hiện sớm nhất vào đời Đường Cao Tông năm 662, chỉ những người lo về xa giá, y phục trong hoàng cung. Người thái giám tất yếu phải là hoạn quan.

Đến thời nhà Minh, quyền thế thái giám được mở rộng ra, có người được cử làm sứ giả, coi xét quan lại, trông coi quân đội, cho nên sinh ra lộng quyền. Nhà Thanh hạn chế quyền hạn của thái giám, chỉ làm quan đến tứ phẩm. Có chức Tổng Quản Thái Giám để chi huy thái giám.

Nguồn gốc hoạn quan Trung Hoa

Theo các nhà nghiên cứu, nguồn gốc do 3 nguyên nhân sau đây:

– Hoạn quan là tội phạm, tù binh hoặc phản nghịch, bị cắt bỏ bộ phận sinh dục.

– Hoạn quan là cống phẩm của địa phương tiến cống vào cung đình.

– Tự nguyện xin làm hoạn quan để mưu cầu phú quý. Nhiều gia đình quá nghèo, đem con vào làm thái giám.

Một số phương pháp yêm cát

Yêm cát là thiến.

        https://encrypted-tbn0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRJ995Y3Sh_x6jbSjcWtZtRV_2CD9a8_J_is9zOVUX8EbykmA22  Ác mộng kinh hoàng 3 cực hình tĩnh thân thành thám giám - Ảnh 3 


Ngoại trừ những người khiếm khuyết bộ phận sinh dục từ lúc sinh ra, những hoạn quan phải trải qua "Thủ thuật" hết sức đau đớn gọi là yêm cát hay cung hình, tàm thất, hù hình, âm hình.

Bốn phương pháp để thiến con trai:

1. Cắt toàn bộ dương vật và dịch hoàn
2. Chỉ cắt bỏ dịch hoàn
3. Đè cho bể nát dịch hoàn
4. Cắt bỏ dương vật

Còn có phương pháp thiến nữa gọi là "Thằng hệ pháp" tức là dùng dây cột chặt dịch hoàn của đứa bé, lâu dần bộ phận sinh dục mất khả năng phát triển và chết đi. Hoặc cho đứa bé uống một thứ thuốc tê, gọi là ma tuý dược, rồi dùng kim chích hoài vào dịch hoàn khiến cho bộ phận sinh dục không còn công dụng được nữa.

Tác giả Carter Stent mô tả việc thiến ở cuối đời nhà Mãn Thanh như sau:

"Trước khi thiến, người muốn làm thái giám được đặt nằm nghiêng trên một cái giường thấp, và được hỏi lần cuối cùng là có hối hận gì khi bị thiến hay không. Nếu trả lời không, thì một người giữ chặt cái bụng người đó, 2 người khác banh hai chân ra và giữ cho không cục cựa. Băng vải được quấn chặt ở bụng dưới và ở 2 bên đùi. “Bịnh nhân” được cho uống một thang thuốc mê gọi là ma phế thang. Bộ phận sinh dục được chà xác bằng nước ngâm ớt. Cả dương vật và dịch hoàn được cắt "xoẹt" một cái sát đáy. Một cái nút kim loại, được gắn ngay vào lỗ dẫn nước tiểu. Vết thương được băng lại bằng giấy bản, bên ngoài quấn vải thật chặt.

Người phụ trách việc thiến gọi là "Đao tử tượng" và con dao bén gọi là "Yêm đao". Những đao tử tượng dìu người bị thiến đi quanh phòng ba giờ liền trước khi cho nằm nghỉ. Người bị thiến vừa đau đớn vừa khát nước vì mất máu, nhưng không được uống nước suốt 3 ngày để không cho tiểu tiện. Sau 3 ngày, băng vải được cởi ra, và cái nút được rút ra. Nếu bịnh nhân đi tiểu được thì xem như thành công. Trái lại, nếu không đi tiểu được thì chỉ có nước chờ chết.

Nhiều gia đình chuẩn bị cho con mình làm thái giám ngay lúc còn nhỏ. Một bà Vú đặc biệt được thuê để thực hiện, từ lúc còn nằm trong nôi. Bà vú có một thủ thuật riêng, mỗi ngày 3 lần, nắn bóp dịch hoàn đứa trẻ khiến nó khóc thét lên. Sức bóp càng ngày càng tăng thêm, và cơ quan sinh dục đứa bé bị hủy hoại. Khi lớn lên, chẳng những mất khả năng sinh dục, mà dương vật càng ngày càng teo dần khiến cho đứa trẻ có nhiều nữ tính. Không có trái cổ, hai vú nhô cao, mông nở, giọng nói lanh lảnh, dáng điệu trở thành bán nam bán nữ.


Những kẻ thao túng chuyện mây mưa của hoàng đế


Ở hậu cung có cả ngàn cung phi mỹ nữ, làm sao mà quản lý cho hết được. Muốn được xếp ưu tiên thì phải chiều chuộng thái giám. Bỗng nhiên thái giám trở thành những kẻ thao túng chuyện mây mưa của hoàng đế. Thái giám còn có nhiệm vụ ghi chép tên tuổi, ngày giờ mà cung phi được ăn nằm với hoàng đế, để sau đó, nếu cung phi có thai thì đem ra đối chiếu thời gian mà xác định đứa bé có phải là con của ông vua hay không. Việc nầy rất quan trọng trong việc thừa kế ngai vàng, xác định hoàng tử, thái tử.


Hoạn quan Việt Nam

https://encrypted-tbn0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcTgMGJSxB1Hb0uquUTCdy_LHcN88xDkmMP1DBApggl90ac2S6PdtQ 

Nghĩa trang thái giám ở chùa Từ Hiếu, Huế.


Ở Việt Nam, hoạn quan được ghi nhận đã có từ thời nhà Lý.

Đến nhà Nguyễn thì hoạn quan chia làm 5 trật:


– Quản Vụ Thái giám

– Kiêm Sự Thái giám

– Thừa Vụ Thái giám

– Cung Sự Thái giám

– Cung Phụng Thái giám.


Việc tuyển chọn thái giám ở Việt Nam thì theo lịnh của triều đình, ưu tiên cho những trẻ em bán nam bán nữ bẩm sinh. Người dân nào sinh con có khuyết tật đó, thì được quan chức sở tại đến kiểm tra, và dâng sớ tâu lên triều đình. Cha mẹ nuôi con đến 13 tuổi, thì Lễ Bộ đưa vào cung tập sự làm hoạn quan. Làng nào có hoạn quan thì được miễn binh lính, phu phen, tạp dịch, và cả sưu thuế nữa.

Nếu bẩm sinh không đủ số, thì thanh niên nào tình nguyện sẽ được xem xét tuyển chọn. Có lẽ vì nghi kỵ Tả Quân Lê Văn Duyệt, vốn là thái giám, nắm nhiều binh quyền, cho nên vua Minh Mạng ban chỉ dụ quy định thái giám chỉ làm việc hầu hạ trong cung mà thôi. Tấm bia khắc toàn bộ văn bản của chỉ dụ nay vẫn còn trong Văn Miếu ở Huế.

Rút kinh nghiệm từ những bậc tiền bối, bị thái giám nổi loạn chuyên quyền, đến thời Minh Mạng (1820-1841) vua đã ban hẳn một chiếu chỉ riêng dành cho thái giám: “Cho họ người nào việc ấy để sai khiến hầu hạ, nhưng mãi mãi không cho dự vào giai và phẩm hàm quan chức. Vì chức vụ của họ là để nội đình sai khiến và truyền lệnh mà thôi. Tất cả triều chính và việc ngoài đều không được tham dự, kẻ nào vi phạm phải trừng trị nặng, không khoan tha. Trẫm đã dặn dò, hết sức mưu tính sâu xa cho đời sau…”


Thái giám Việt Nam có riêng một nghĩa trang trong khuôn viên chùa Từ Hiếu, cách Huế chừng một cây số. Chùa Từ Hiếu còn được gọi là Chùa Thái Giám nữa.

Những danh tướng xuất thân từ thái giám

Ba thái giám trở thành danh tướng Việt Nam là Lý Thường Kiệt, Hoàng Ngũ Phúc và Lê Văn Duyệt.

Lý Thường Kiệt (1019-1105)


https://encrypted-tbn3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRS6Ws7mo67320WEqHC_JxJIZXv7R5ntWHfJpqc4eSP9dB9fBE8  http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/221/2011_221_7_anh3.jpg


Là một danh tướng xuất thân từ hoạn quan thời nhà Lý, đời vua Lý Thái Tông. Theo Gia Phả họ Ngô Việt Nam, thì ông tên là Ngô Tuấn, con của Sùng Tiết Tướng Quân là Ngô An Ngữ. Cũng có tài liệu nói ông họ Quách. Vì gia đình có công, cho nên nhà vua cho mang họ Lý, Lý Thường Kiệt.

Năm 22 tuổi, vì gương mặt xinh đẹp nên được sung vào làm Hoàng Môn Chi Hậu, là thái giám phục vụ cho vua và hoàng hậu. Trong 12 năm làm thái giám, danh tiếng của ông ngày càng nổi bật lên. Lý Thường Kiệt là một danh tướng có chiến thắng lẫy lừng là phá Tống, bình Chiêm.

Hoàng Ngũ Phúc (1713-1776)

https://encrypted-tbn2.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcR_KfPk_K6kThDEqzfWEKjUQyIx6nPKYRoVeYnaKCoF6RU9prmO Về cuộc Nam chinh của Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc -0

Hình minh họa Hoàng Ngũ Phúc (phải). Mộ Hoàng Ngũ Phúc (trái). 


Là danh tướng thời Lê Mạt, Trịnh Nguyễn phân tranh và Tây Sơn khởi nghĩa. Hoàng Ngũ Phúc người xã Tân Mỹ, huyện Yên Dũng, Bắc Giang. Ông xuất thân là một hoạn quan, nổi tiếng là có nhiều mưu kế. Giữ chức Nội Sai trong Hình Phiên. Ông có công dẹp loạn Nguyễn Hữu Cầu và vào Phú Xuân đánh bắt Trương Phúc Loan, chấm dứt giai đoạn Trịnh Nguyễn Phân Tranh kéo dài trên 200 năm, mà Sông Gianh là ranh giới.

Lê Văn Duyệt (1764-1832)

https://encrypted-tbn2.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcSWD8sQsjJpnnvT-McpeZHe70orP8IUyeRI_zQnIZn_ZuI4c5se https://encrypted-tbn1.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcR3ByynDEQFmJRVlVr50kJ3yrbP4Qiw9CygIS970zpTn8XY2sxS


Người thái giám thứ ba trở thành danh tướng, một trong những khai quốc công thần của nhà Nguyễn là Tả Quân Lê Văn Duyệt.

Ông theo vua Gia Long năm 17 tuổi làm thái giám, là người bán nam bán nữ bẩm sinh chớ không phải bị thiến. Lê Văn Duyệt giúp Chúa Nguyễn Phúc Ánh đánh thắng nhiều trận được xem là khai quốc công thần của nhà Nguyễn. Đền thờ ông hiện tại còn ở Sài Gòn, được gọi là Lăng Ông Bà Chiểu.

Nhiệm vụ thái giám

Trong cung cấm, hoàng gia đông đúc, tam cung lục viện, cần người phục vụ hằng ngày cho vua, hoàng hậu, các cung phi, hoàng tử, công chúa... Nhà vua không an lòng để cho những người đàn ông bình thường sống chung với những người đẹp được tuyển chọn khắp nơi đưa vào cung. Cho nên, những quan chức ấy phải bị thiến. Những người bị thiến sau tuổi trưởng thành, dù mất khả năng sinh dục, nhưng họ vẫn còn những khao khát và đòi hỏi về sinh lý.

Trong nhiều triều đại, thái giám được cho ngủ chung với đàn bà trong cung để cho các phi tần có chút khí dương ngõ hầu ít bịnh tật. Đối với những thái giám chỉ bị cắt dịch hoàn, họ còn khả năng cương cứng, cho nên đã có những lời đồn đãi về thái giám với cung phi.

Đời sống của hoạn quan

Họ sống đầy đủ về mặt vật chất nhưng thiếu thốn về mặt tinh thần. Người xưa rất coi trọng việc truyền giống, kẻ tuyệt chủng bị kết án nặng nề. "Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại", là có 3 điều bất hiếu, tội lớn nhất là không có con nối dõi tông đường. Đau khổ vì mặc cảm bị người đời khinh rẻ. Buồn vì cuộc đời cô đơn, khi nhắm mắt làm ma lang thang không nơi nương tựa. Vì vậy, nghĩa trang của thái giám Việt Nam đặt ở trong chùa để nương nhờ hương khói mai sau.

Giữ gìn bảo cụ

Bộ phận sinh dục của hoạn quan, sau khi cắt ra, được giữ gìn kỹ lưỡng, xem như một báu vật, gọi là “bảo cụ”. Bảo cụ được tẩm vôi bột, hút hết máu để không hôi thúi. Của quý được xem là bảo vật, vì mỗi khi được thăng quan thì phải trình bảo cụ cho thái giám thượng cấp, để chứng minh thật sự là đã bị thiến. Tránh những trường hợp như của Quế Công Công Vi Tiểu Bảo trong Lộc Đỉnh Ký, làm chuyện động trời như đã nói trên.

Trường hợp thứ hai là, khi chết bảo cụ phải được mang theo cho được chết toàn thây.


Trường hợp thứ ba là vì niềm tin cho rằng bộ phận sinh dục có thể mọc lại nếu uống thuốc và ăn uống các loại tráng dương. Do đó, nhà Thanh cứ mỗi 3 năm thì thái giám phải qua kỳ "Tiểu tu", 5 năm qua kỳ “Đại tu” để cho thái giám chuyên trách khám xét xem ngọc hành và dương vật có mọc lại không.

Ngoài việc thay đổi hình dạng, hoạn quan còn thay đổi tánh tình, trở nên nhỏ nhen, độc ác, tàn nhẫn. Thường bị són đái, nước tiểu chảy ra quần, gây mùi khó ngửi cho nên thường bị chê cười, chế giễu.

Hình dưới là ông Tôn Diệu Đình, người được xem là thái giám cuối cùng của Trung Hoa.


https://encrypted-tbn3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRFfW29pn5_sXX-6asjj_7PmilnFtQMdW1UwLD4yGs7lgsE75h0 a


Sự ích kỷ của các vua chúa ngày xưa, đã tạo ra một hình thức quan lại đặc biệt, đã làm khổ biết bao nhiêu thanh niên như thế. Năm 1996, ông Tôn Diệu Đình (Sun Yaoting) là người hoạn quan cuối cùng của chế độ phong kiến, nhà Mãn Thanh đã qua đời, chấm dứt chế độ hoạn quan Trung Quốc.

– Trúc Giang MN

Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.