Hôm nay,  

Hoạn quan

26/08/202210:22:00(Xem: 5506)
Tìm hiểu

thaigiam
Thái giám triều Nguyễn.

  

Người Việt Nam không còn lạ gì những nhân vật thái giám trong các phim bộ Hồng Kông, những người đàn ông có dáng dấp và giọng nói ẻo lả như phụ nữ. Ai cũng biết thái giám là những người đàn ông bị thiến, để phục vụ cho vua và hoàng tộc trong cấm cung. Đặc biệt là Quế Công Công, thái giám giả Vi Tiểu Bảo trong Lộc Đỉnh Ký, đã làm những chuyện động trời với Kiến Ninh công chúa, em của vua Khang Hy, và với 2 tiểu thơ của Mộc Vương phủ, bị Thiên Địa Hội đưa vào hoàng cung, nơi bí mật để Vi Tiểu Bảo quản lý.


Thái giám ăn hối lộ của các cung phi, để sắp xếp cho được vào phục vụ nhà vua, thái giám rình rập nghe tin tức, làm gián điệp cho các hoàng hậu, hoàng thái hậu và giữa các quý phi...

Các triều đình phong kiến Việt Nam ngày xưa cũng có hoạn quan phục dịch, nhưng ít có ai nhắc đến họ, vì họ bị xem như những nô tài âm thầm trong cung. Hơn nữa, không có những hoạn quan chuyên quyền, lộng hành, gây bè đảng, nhũng nhiễu triều chính như ở bên Trung Hoa.

Dưới thời Đế Quốc La Mã, những thanh niên khoẻ mạnh được tuyển chọn đem đi thiến làm hoạn quan. Ví dụ như Bagoas là hoạn thần được Alexander Đại Đế sủng ái, còn vua Neron thì có hoạn quan tên Sporus.

Hoạn quan Trung Hoa

      Ngụy Trung Hiền - Đại thái giám lũng đoạn minh triều  hoan-quan-la-gihoan-quan-la-gi


Các triều đại phong kiến Trung Hoa xa xưa, từ đời nhà Tùy, nhà Đường, nhà Tống đã có những cơ cấu Nội Thị do hoạn quan đảm nhiệm, trông coi mọi việc trong cung đình. Hoạn quan nhà Tống có người thống lĩnh quân đội, đến đời nhà Thanh thì chức Tổng Quản Thái Giám đứng đầu các thái giám. Có nhiều tên và chức vụ để chỉ hoạn quan: Thái giám, Công công, Tự nhân, Yêm nhân, Nội thị, Thị nhân, Yêm hoạn, Hoạn giả, Trung quan, Nội thân, Nội giám. Từ ngữ "Thái giám" xuất hiện sớm nhất vào đời Đường Cao Tông năm 662, chỉ những người lo về xa giá, y phục trong hoàng cung. Người thái giám tất yếu phải là hoạn quan.

Đến thời nhà Minh, quyền thế thái giám được mở rộng ra, có người được cử làm sứ giả, coi xét quan lại, trông coi quân đội, cho nên sinh ra lộng quyền. Nhà Thanh hạn chế quyền hạn của thái giám, chỉ làm quan đến tứ phẩm. Có chức Tổng Quản Thái Giám để chi huy thái giám.

Nguồn gốc hoạn quan Trung Hoa

Theo các nhà nghiên cứu, nguồn gốc do 3 nguyên nhân sau đây:

– Hoạn quan là tội phạm, tù binh hoặc phản nghịch, bị cắt bỏ bộ phận sinh dục.

– Hoạn quan là cống phẩm của địa phương tiến cống vào cung đình.

– Tự nguyện xin làm hoạn quan để mưu cầu phú quý. Nhiều gia đình quá nghèo, đem con vào làm thái giám.

Một số phương pháp yêm cát

Yêm cát là thiến.

        https://encrypted-tbn0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRJ995Y3Sh_x6jbSjcWtZtRV_2CD9a8_J_is9zOVUX8EbykmA22  Ác mộng kinh hoàng 3 cực hình tĩnh thân thành thám giám - Ảnh 3 


Ngoại trừ những người khiếm khuyết bộ phận sinh dục từ lúc sinh ra, những hoạn quan phải trải qua "Thủ thuật" hết sức đau đớn gọi là yêm cát hay cung hình, tàm thất, hù hình, âm hình.

Bốn phương pháp để thiến con trai:

1. Cắt toàn bộ dương vật và dịch hoàn
2. Chỉ cắt bỏ dịch hoàn
3. Đè cho bể nát dịch hoàn
4. Cắt bỏ dương vật

Còn có phương pháp thiến nữa gọi là "Thằng hệ pháp" tức là dùng dây cột chặt dịch hoàn của đứa bé, lâu dần bộ phận sinh dục mất khả năng phát triển và chết đi. Hoặc cho đứa bé uống một thứ thuốc tê, gọi là ma tuý dược, rồi dùng kim chích hoài vào dịch hoàn khiến cho bộ phận sinh dục không còn công dụng được nữa.

Tác giả Carter Stent mô tả việc thiến ở cuối đời nhà Mãn Thanh như sau:

"Trước khi thiến, người muốn làm thái giám được đặt nằm nghiêng trên một cái giường thấp, và được hỏi lần cuối cùng là có hối hận gì khi bị thiến hay không. Nếu trả lời không, thì một người giữ chặt cái bụng người đó, 2 người khác banh hai chân ra và giữ cho không cục cựa. Băng vải được quấn chặt ở bụng dưới và ở 2 bên đùi. “Bịnh nhân” được cho uống một thang thuốc mê gọi là ma phế thang. Bộ phận sinh dục được chà xác bằng nước ngâm ớt. Cả dương vật và dịch hoàn được cắt "xoẹt" một cái sát đáy. Một cái nút kim loại, được gắn ngay vào lỗ dẫn nước tiểu. Vết thương được băng lại bằng giấy bản, bên ngoài quấn vải thật chặt.

Người phụ trách việc thiến gọi là "Đao tử tượng" và con dao bén gọi là "Yêm đao". Những đao tử tượng dìu người bị thiến đi quanh phòng ba giờ liền trước khi cho nằm nghỉ. Người bị thiến vừa đau đớn vừa khát nước vì mất máu, nhưng không được uống nước suốt 3 ngày để không cho tiểu tiện. Sau 3 ngày, băng vải được cởi ra, và cái nút được rút ra. Nếu bịnh nhân đi tiểu được thì xem như thành công. Trái lại, nếu không đi tiểu được thì chỉ có nước chờ chết.

Nhiều gia đình chuẩn bị cho con mình làm thái giám ngay lúc còn nhỏ. Một bà Vú đặc biệt được thuê để thực hiện, từ lúc còn nằm trong nôi. Bà vú có một thủ thuật riêng, mỗi ngày 3 lần, nắn bóp dịch hoàn đứa trẻ khiến nó khóc thét lên. Sức bóp càng ngày càng tăng thêm, và cơ quan sinh dục đứa bé bị hủy hoại. Khi lớn lên, chẳng những mất khả năng sinh dục, mà dương vật càng ngày càng teo dần khiến cho đứa trẻ có nhiều nữ tính. Không có trái cổ, hai vú nhô cao, mông nở, giọng nói lanh lảnh, dáng điệu trở thành bán nam bán nữ.


Những kẻ thao túng chuyện mây mưa của hoàng đế


Ở hậu cung có cả ngàn cung phi mỹ nữ, làm sao mà quản lý cho hết được. Muốn được xếp ưu tiên thì phải chiều chuộng thái giám. Bỗng nhiên thái giám trở thành những kẻ thao túng chuyện mây mưa của hoàng đế. Thái giám còn có nhiệm vụ ghi chép tên tuổi, ngày giờ mà cung phi được ăn nằm với hoàng đế, để sau đó, nếu cung phi có thai thì đem ra đối chiếu thời gian mà xác định đứa bé có phải là con của ông vua hay không. Việc nầy rất quan trọng trong việc thừa kế ngai vàng, xác định hoàng tử, thái tử.


Hoạn quan Việt Nam

https://encrypted-tbn0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcTgMGJSxB1Hb0uquUTCdy_LHcN88xDkmMP1DBApggl90ac2S6PdtQ 

Nghĩa trang thái giám ở chùa Từ Hiếu, Huế.


Ở Việt Nam, hoạn quan được ghi nhận đã có từ thời nhà Lý.

Đến nhà Nguyễn thì hoạn quan chia làm 5 trật:


– Quản Vụ Thái giám

– Kiêm Sự Thái giám

– Thừa Vụ Thái giám

– Cung Sự Thái giám

– Cung Phụng Thái giám.


Việc tuyển chọn thái giám ở Việt Nam thì theo lịnh của triều đình, ưu tiên cho những trẻ em bán nam bán nữ bẩm sinh. Người dân nào sinh con có khuyết tật đó, thì được quan chức sở tại đến kiểm tra, và dâng sớ tâu lên triều đình. Cha mẹ nuôi con đến 13 tuổi, thì Lễ Bộ đưa vào cung tập sự làm hoạn quan. Làng nào có hoạn quan thì được miễn binh lính, phu phen, tạp dịch, và cả sưu thuế nữa.

Nếu bẩm sinh không đủ số, thì thanh niên nào tình nguyện sẽ được xem xét tuyển chọn. Có lẽ vì nghi kỵ Tả Quân Lê Văn Duyệt, vốn là thái giám, nắm nhiều binh quyền, cho nên vua Minh Mạng ban chỉ dụ quy định thái giám chỉ làm việc hầu hạ trong cung mà thôi. Tấm bia khắc toàn bộ văn bản của chỉ dụ nay vẫn còn trong Văn Miếu ở Huế.

Rút kinh nghiệm từ những bậc tiền bối, bị thái giám nổi loạn chuyên quyền, đến thời Minh Mạng (1820-1841) vua đã ban hẳn một chiếu chỉ riêng dành cho thái giám: “Cho họ người nào việc ấy để sai khiến hầu hạ, nhưng mãi mãi không cho dự vào giai và phẩm hàm quan chức. Vì chức vụ của họ là để nội đình sai khiến và truyền lệnh mà thôi. Tất cả triều chính và việc ngoài đều không được tham dự, kẻ nào vi phạm phải trừng trị nặng, không khoan tha. Trẫm đã dặn dò, hết sức mưu tính sâu xa cho đời sau…”


Thái giám Việt Nam có riêng một nghĩa trang trong khuôn viên chùa Từ Hiếu, cách Huế chừng một cây số. Chùa Từ Hiếu còn được gọi là Chùa Thái Giám nữa.

Những danh tướng xuất thân từ thái giám

Ba thái giám trở thành danh tướng Việt Nam là Lý Thường Kiệt, Hoàng Ngũ Phúc và Lê Văn Duyệt.

Lý Thường Kiệt (1019-1105)


https://encrypted-tbn3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRS6Ws7mo67320WEqHC_JxJIZXv7R5ntWHfJpqc4eSP9dB9fBE8  http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/221/2011_221_7_anh3.jpg


Là một danh tướng xuất thân từ hoạn quan thời nhà Lý, đời vua Lý Thái Tông. Theo Gia Phả họ Ngô Việt Nam, thì ông tên là Ngô Tuấn, con của Sùng Tiết Tướng Quân là Ngô An Ngữ. Cũng có tài liệu nói ông họ Quách. Vì gia đình có công, cho nên nhà vua cho mang họ Lý, Lý Thường Kiệt.

Năm 22 tuổi, vì gương mặt xinh đẹp nên được sung vào làm Hoàng Môn Chi Hậu, là thái giám phục vụ cho vua và hoàng hậu. Trong 12 năm làm thái giám, danh tiếng của ông ngày càng nổi bật lên. Lý Thường Kiệt là một danh tướng có chiến thắng lẫy lừng là phá Tống, bình Chiêm.

Hoàng Ngũ Phúc (1713-1776)

https://encrypted-tbn2.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcR_KfPk_K6kThDEqzfWEKjUQyIx6nPKYRoVeYnaKCoF6RU9prmO Về cuộc Nam chinh của Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc -0

Hình minh họa Hoàng Ngũ Phúc (phải). Mộ Hoàng Ngũ Phúc (trái). 


Là danh tướng thời Lê Mạt, Trịnh Nguyễn phân tranh và Tây Sơn khởi nghĩa. Hoàng Ngũ Phúc người xã Tân Mỹ, huyện Yên Dũng, Bắc Giang. Ông xuất thân là một hoạn quan, nổi tiếng là có nhiều mưu kế. Giữ chức Nội Sai trong Hình Phiên. Ông có công dẹp loạn Nguyễn Hữu Cầu và vào Phú Xuân đánh bắt Trương Phúc Loan, chấm dứt giai đoạn Trịnh Nguyễn Phân Tranh kéo dài trên 200 năm, mà Sông Gianh là ranh giới.

Lê Văn Duyệt (1764-1832)

https://encrypted-tbn2.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcSWD8sQsjJpnnvT-McpeZHe70orP8IUyeRI_zQnIZn_ZuI4c5se https://encrypted-tbn1.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcR3ByynDEQFmJRVlVr50kJ3yrbP4Qiw9CygIS970zpTn8XY2sxS


Người thái giám thứ ba trở thành danh tướng, một trong những khai quốc công thần của nhà Nguyễn là Tả Quân Lê Văn Duyệt.

Ông theo vua Gia Long năm 17 tuổi làm thái giám, là người bán nam bán nữ bẩm sinh chớ không phải bị thiến. Lê Văn Duyệt giúp Chúa Nguyễn Phúc Ánh đánh thắng nhiều trận được xem là khai quốc công thần của nhà Nguyễn. Đền thờ ông hiện tại còn ở Sài Gòn, được gọi là Lăng Ông Bà Chiểu.

Nhiệm vụ thái giám

Trong cung cấm, hoàng gia đông đúc, tam cung lục viện, cần người phục vụ hằng ngày cho vua, hoàng hậu, các cung phi, hoàng tử, công chúa... Nhà vua không an lòng để cho những người đàn ông bình thường sống chung với những người đẹp được tuyển chọn khắp nơi đưa vào cung. Cho nên, những quan chức ấy phải bị thiến. Những người bị thiến sau tuổi trưởng thành, dù mất khả năng sinh dục, nhưng họ vẫn còn những khao khát và đòi hỏi về sinh lý.

Trong nhiều triều đại, thái giám được cho ngủ chung với đàn bà trong cung để cho các phi tần có chút khí dương ngõ hầu ít bịnh tật. Đối với những thái giám chỉ bị cắt dịch hoàn, họ còn khả năng cương cứng, cho nên đã có những lời đồn đãi về thái giám với cung phi.

Đời sống của hoạn quan

Họ sống đầy đủ về mặt vật chất nhưng thiếu thốn về mặt tinh thần. Người xưa rất coi trọng việc truyền giống, kẻ tuyệt chủng bị kết án nặng nề. "Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại", là có 3 điều bất hiếu, tội lớn nhất là không có con nối dõi tông đường. Đau khổ vì mặc cảm bị người đời khinh rẻ. Buồn vì cuộc đời cô đơn, khi nhắm mắt làm ma lang thang không nơi nương tựa. Vì vậy, nghĩa trang của thái giám Việt Nam đặt ở trong chùa để nương nhờ hương khói mai sau.

Giữ gìn bảo cụ

Bộ phận sinh dục của hoạn quan, sau khi cắt ra, được giữ gìn kỹ lưỡng, xem như một báu vật, gọi là “bảo cụ”. Bảo cụ được tẩm vôi bột, hút hết máu để không hôi thúi. Của quý được xem là bảo vật, vì mỗi khi được thăng quan thì phải trình bảo cụ cho thái giám thượng cấp, để chứng minh thật sự là đã bị thiến. Tránh những trường hợp như của Quế Công Công Vi Tiểu Bảo trong Lộc Đỉnh Ký, làm chuyện động trời như đã nói trên.

Trường hợp thứ hai là, khi chết bảo cụ phải được mang theo cho được chết toàn thây.


Trường hợp thứ ba là vì niềm tin cho rằng bộ phận sinh dục có thể mọc lại nếu uống thuốc và ăn uống các loại tráng dương. Do đó, nhà Thanh cứ mỗi 3 năm thì thái giám phải qua kỳ "Tiểu tu", 5 năm qua kỳ “Đại tu” để cho thái giám chuyên trách khám xét xem ngọc hành và dương vật có mọc lại không.

Ngoài việc thay đổi hình dạng, hoạn quan còn thay đổi tánh tình, trở nên nhỏ nhen, độc ác, tàn nhẫn. Thường bị són đái, nước tiểu chảy ra quần, gây mùi khó ngửi cho nên thường bị chê cười, chế giễu.

Hình dưới là ông Tôn Diệu Đình, người được xem là thái giám cuối cùng của Trung Hoa.


https://encrypted-tbn3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRFfW29pn5_sXX-6asjj_7PmilnFtQMdW1UwLD4yGs7lgsE75h0 a


Sự ích kỷ của các vua chúa ngày xưa, đã tạo ra một hình thức quan lại đặc biệt, đã làm khổ biết bao nhiêu thanh niên như thế. Năm 1996, ông Tôn Diệu Đình (Sun Yaoting) là người hoạn quan cuối cùng của chế độ phong kiến, nhà Mãn Thanh đã qua đời, chấm dứt chế độ hoạn quan Trung Quốc.

– Trúc Giang MN

Ở Đào bang, hoa đào bạt ngàn, trái đào nhiều không đếm xuể. Hoa đào có nhiều loại: Đào thắm, đào phai, đào bạch, đào đơn, đào kép, đào nhiều màu… Mùa xuân hoa đào nở rực hồng cả một góc trời của Hoàng Hoa trang nói riêng của Đào bang nói chung, cảnh tượng đẹp như cõi thiên thai. Trái đào cũng có rất nhiều loại: Đào vàng, đào trắng, đào tiểu, đào đại, đào lông, đào láng, đào vườn, đào rừng… Trái đào đủ độ già ăn giòn, chua chua ngọt ngọt ngon hơn là đào chín. Mùa xuân hoa đào nở, mùa hạ trái đào rụng, những nhà vườn chuyên môn thì hái bán, những người trồng tài tử thì… trái rụng đầy đất. Nếu mùa xuân hoa đào tạo ra cảnh quan thiên thai thì mùa hạ đào rụng, chín nhũng ra, côn trùng kéo đến trông bầy nhầy như “ Địa ngục”. Thế mới biết thiên đường với địa ngục không hai, cũng từ một tâm niệm mà ra.
Thận Nhiên là một trong những nhà văn thành danh ở hải ngoại vào cuối thiên niên kỷ trước. Cuốn tiểu thuyết “Những ghi chép ở tầng thứ 14” được Văn Đoàn Độc Lập trao giải Sách Hay bộ môn Văn, năm 2018. Gần đây, từ lối viết hiện thực anh chuyển sang siêu hư cấu, mà hai truyện “rất ngắn” đăng trên Việt Báo Xuân Nhâm Dần vừa qua là điển hình. Nhà văn Thận Nhiên đến với Việt Báo lần này với một truyện “chớp”, trong đó cảm xúc như một tia chớp, nhoáng lên rồi tắt ngúm, nhưng để lại dư ảnh đậm đà trong tâm tư người đọc. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
"Chiều nay, Khang ngồi bờ đá lắng nghe sóng vỗ lần cuối vì ngày mai anh sẽ ra đi đến nước thứ ba. Khang đang nghe tiếng vọng bao kỷ niệm từ ngày bước vào mê lộ lịch sử, mang tuổi trẻ đi mải miết mà không tìm thấy lối ra trên chính quê hương mình. Khang nhớ ánh nắng chiều thoi thóp quê nhà luôn cho anh ý niệm dở dang, muộn màng số phận cho đến ngày gặp Lĩnh cùng hai đứa học trò trên chiếc sân nhà. Nơi ấy một thời chứa chấp một con người mà linh hồn đã chết nhưng cố bám víu trần gian, tận tụy mãi võ để kéo dài sự sống cho dù mỗi ngày xiêu vẹo, nghiêng ngả trên chính bước đi của mình." -- Một truyện ngắn mang nặng tâm sự hoài niệm một thời trai trẻ nơi quê nhà, của nhà văn Lê Lạc Giao, Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Có xa quê hương đất nước nhiều năm, mỗi khi Tết đến Xuân về, người ta mới cảm nhận không khí chung quanh mình như thiếu thiếu một cái gì rất quan trọng? Không phải vì đất lạ, người không quen biết, không cùng chủng tộc. Cũng không phải vì những đồ ăn, thức uống khi mua về thiếu đi cái hương vị đất nước của quê hương bản quán mà có lẻ chỉ vì... cái không khí chung quanh mình nó khác biệt và cả cái mùi vị của mùa xuân cũng nhiều lạ lẫm.
Tôi bao giờ cũng hình dung Tết gắn liền với đất Bắc, nơi đi trước mùa Xuân phải có một mùa Đông. Mùa Đông ở nơi này mỗi năm mỗi khác, nó có thể lạnh nhiều hay lạnh ít, độ ẩm có thể cao hay thấp, nhưng nhất thiết không thể không có gió bấc và mưa phùn. Không khí se lạnh làm cho con người phải co ro một chút, rùng mình một chút, chính là sự chuẩn bị không thể thiếu để cho ta bước vào cái mốc thời gian mới đối với mỗi người mỗi nhà.
Ông cụ thường ca cẩm anh con trai nuôi mèo từ một con đến cả đàn, từ đời cụ mèo đến chắt mèo trong khi chuyện vợ con chẳng hề nghĩ đến. Nhiều năm trước đám bạn anh phải tranh nhau mà xin mèo về làm thú cưng. Giờ thì họ không muốn xin nữa vì ngại chăm, hoặc dẫu có muốn chăm thì đã đến lúc chăm cháu nội cháu ngoại chứ không đến lượt thú cưng. Thế là lũ mèo của anh hiện tại còn những bốn con, được cái ông cụ thương anh con trai nên anh có việc đi đâu thì lại cặm cụi cho chúng ăn.
Truyện này viết về một người anh, và nhiều phần là hư cấu. Nghĩa là, chỉ một phần có thực. Nhưng tôi không thể nào nói rõ là phần nào thực, phần nào hư. Nói rõ có khi lại hỏng. Đã viết truyện thì, chẳng tác giả nào nói rõ đâu. Ngay như nhan đề “Bên Trời Đại Lý” cũng thấy là bên kia sự thật rồi, vì Việt Nam mình làm gì có thị trấn Đại Lý, nơi sẽ là bối cảnh của truyện ngắn này. Nhưng, nếu nói thiệt ra là Chợ Lớn, thì lại trần gian quá, chẳng thơ mộng tí nào. Thêm nữa, có một số độc giả có thành kiến với người Tàu -- làm ơn, xin sửa lại, gọi là người Hoa mới đúng và lịch sự hơn – nếu thành kiến, khi đọc, có thể mất vui. Do vậy, trong truyện này, chúng ta đồng ý rằng địa danh Chợ Lớn sẽ được mã hóa thành Đại Lý, một vương quốc cổ trong truyện Kim Dung. Các độc giả không ưa cường quốc phương Bắc xin tưởng tượng rằng Đại Lý chỉ có trong truyện, chớ đừng nhớ rằng nơi này đã bị nhà Minh thâu tóm từ thế kỷ 14.
Cho đến thời đại này, chuyện bói vẫn được tôn trọng, không chỉ trong dân gian, mà còn xảy ra sau lưng sân khấu chính trị, kinh tế. Hầu hết các nhà lãnh đạo ở Đông phương đều xem bói, có khi đã tuyển dụng một thầy bói nổi tiếng để hỏi việc thành bại mỗi lần gặp khó khăn và thầy bói đó chỉ đạo thay vì vị lãnh tụ được lòng tin của dân chúng. Ở Tây phương cũng vậy, ngày xưa họ tin dùng các thầy phù thủy; ngày nay họ dùng những kỹ thuật khoa học để dự đón tương lai. Bất kỳ thứ gì, nếu có chữ “đoán” đều thuộc về dòng họ “Bói”. Bói là những hành động và lời lẽ làm cho “mê” và “tin” một cách “tín” nhiệm. Hầu hết những người có học đều xem bói là mê tín, nhưng cái thứ mê tín này ẩn núp tận xương tủy thần kinh, chỉ chờ đúng dịp sẽ xuất hiện. Từ những chuyện quan trọng như đầu tư kinh doanh, xuất quân viễn chinh, quyết định chính trị, cho đến những chuyện vui chơi: Khi vào một đám đông, bạn chỉ cần bắt đầu xem chỉ tay của một người, lập tức, kẻ lạ người quen kéo đến ngồi chung quanh, chờ đến p
Hồi còn nhỏ, tôi nghe nhạc xuân với tinh thần “kỳ thị” cao độ. Nghe “…tình xuân chớm nở đêm qua, khi mùa chinh chiến đã lui ra ngoài đời…” thì thấy phê quá xá! Nhưng lại hết sức bực mình khi nghe bên hàng xóm vẳng sang “… trên đường đi lễ xuân đầu năm… chách chách chách chách bum chách bùm chách bum (tiết tấu habanera) Qua một năm ruột rối tơ tằm…”. Tôi càu nhàu trong đầu “nhạc xuân gì mà buồn thế!...” Sau này lớn lên, tôi mới thấy mình vô lý quá cỡ. Thực ra bài Xuân Thì của Phạm Duy giai điệu buồn cũng không kém gì bài Câu Chuyện Đầu Năm của Hoài An. Vấn đề chỉ là tại mình thích thì khen hay, còn không thích thì chê là buồn, thế thôi!
Những cánh mai đua nở giữa mùa đông, xác rơi phủ mặt đất màu vàng tươi của cái chết còn rất mới. Mới như tuổi thơ của tôi ngày hôm qua. Suốt tuổi trẻ, Tết vẫn đem cho tôi một hạnh phúc buồn bã khi sống lại kỷ niệm, thứ cảm giác hao hao như gốc mai gọi mùa xuân bằng những cánh hoa rơi. Tôi yêu những tập tục ngày xưa mà bây giờ có sự cảm thông rằng không mấy ai đủ sức làm theo. Người ngoài nước thay đổi để hội nhập vào văn hóa mới, cả người trong nước cũng vậy. Tôi hoài niệm sự yên bình của đời sống và sự đơn giản của con người trong mắt tôi ngày ấy.
Bé gái tên Nhiên hầu bà nội đã nhiều năm nay, từ năm cô lên mười. Hầu, là phải luôn gần nội, đôi lúc đọc truyện cho bà nghe, mô tả những gì đang có trước mắt nhưng nay bà không còn nhìn thấy. Cây mai vườn nhà ngày giáp Tết nhiều hoa hay ít. Có đàn chim trời nào đang bay qua trên từng cao kia không? Tính tình bà rất hiền hòa. Hay kể chuyện xưa. Hồi ông nội là một sĩ quan quan trẻ, rất đẹp trai, hào hoa, rất thương yêu bà. Bà bảo, thuở bé, bà đã thấy đàn chim bay từ phương bắc vào nam trốn mùa lạnh, ngày đầu xuân trời quang mây tạnh, khí tiết ấm áp, chúng bay trở về phương bắc. Đại khái bà muốn biết những gì giờ đây bà chỉ cảm, chỉ nghe, chỉ ngửi được, nhưng không thể nhìn thấy được.
Hẳn nhiên rồng được cho là loài linh thú. Ngày xưa cha ông chúng tôi săn rồng ngoài biển, có khi trên núi. Về sau, rồng bị săn giết nhiều, không kịp sinh đẻ, thế giới sợ chúng tuyệt chủng nên đưa vào sách đỏ. Tôi ở xa về, tôi nghĩ mình sống ngang với lịch sử. Tôi thèm thịt rồng. Nga là đại gia, nó làm giàu vô cùng nhanh nhờ buôn đất đai, chứng khoán, và mọi thứ ám muội khác. Nga nói, “Ngày nay không mấy ai biết vị thịt rồng ta ra sao, các nhà hàng sang trọng trong nước phải mua rồng tận bên Tàu. Thịt rồng Tàu tanh lợm, nhưng thèm thì đành phải ăn.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.