Hôm nay,  

Cám ơn Mẹ

02/09/202221:09:00(Xem: 5302)
Truyện ngắn

autumn leave

 


Sau 21 năm kết hôn với người bạn đời, tôi bắt đầu tìm thấy một ánh sáng tình yêu rất mới lạ.

 

Thật vậy, tôi đi với một người đàn bà không phải vợ mình, và đó là do cô ấy đề nghị:  "Em biết anh yêu người ấy vô cùng!"

Người phụ nữ mà vợ tôi muốn tôi đi chơi cùng, đó là mẹ tôi, bà đã là góa phụ từ 19 năm, nhưng do những nhu cầu của cuộc sống, với ba cháu nhỏ và nhiều trách nhiệm khác về công việc, những lần tôi đến thăm cụ thật là hiếm hoi.

 

Một hôm tôi gọi bà và mời mẹ đi ăn tối. Bà hỏi: "Con khỏe không?" Bà rất ngạc nhiên khi thấy tôi gọi cho bà vào giờ khuya khoắt như thế. Bà lo âu, nhưng tôi đã trấn an mẹ: "Dạ thưa mẹ, con rất khỏe, con chỉ muốn đi chơi với mẹ một lúc thôi, mẹ ạ" "Chỉ có con và mẹ thôi sao?" Bà hỏi và trở nên trầm ngâm…

 

Ngày thứ Năm, khi xong việc sở, tôi đến đón mẹ ở nhà bà. Tôi cảm thấy bồn chồn. Và khi gặp mẹ, tôi cũng nhận thấy mẹ có vẻ không an tâm. Mẹ đứng chờ tôi trước cửa, và nhìn xem, mẹ ăn mặc chải chuốt quá sức! Hình như đó là chiếc váy cuối cùng cha đã mua tặng mẹ trước khi ông ra đi. Mẹ nói với tôi, vừa mỉm cười, vẻ trìu mến: "Con biết không mẹ đã khoe với mọi người rằng hôm nay con trai sẽ đón mẹ đi chơi với con đó. Họ đều rất vui mừng và đang nóng lòng chờ đợi câu chuyện mẹ sẽ kể cho họ nghe khi mẹ về lại nhà".

 

Chúng tôi đến một nhà hàng rất đặc biệt, yên tĩnh và sang đẹp. Mẹ vịn vào cánh tay tôi, như thể mẹ là Đệ Nhất Phu Nhân vậy. Chúng tôi tìm bàn ngồi, và tôi đọc thực đơn cho mẹ, vì mẹ chỉ đọc được những hàng chữ in lớn. Mẹ nhìn ngắm tôi với nụ cười mãn nguyện trên đôi môi đã có nhiều nếp nhăn... Mẹ nói: "Ngày xưa con còn bé mẹ thường đọc sách cho con nghe". Tôi bảo mẹ: "Đã đến lúc con phải làm điều gì nhỏ bé để đáp lại tất cả những gì mẹ đã hy sinh cho con, mẹ ạ. Mẹ đừng lo, mẹ nhé".

 

Mẹ và tôi nói chuyện rất nhiều trong suốt bữa ăn. Chỉ là gợi lại những chuyện xưa cũ, và những sự việc mới xảy ra. Cứ như thế, và thời gian trôi qua rất nhanh, chúng tôi cũng không để ý rằng bây giờ đã quá nửa đêm...

 

Lúc về nhà, mẹ đứng ở ngưỡng cửa và bảo tôi: "Mẹ sẽ rất vui nếu sắp tới đây con và mẹ sẽ đi cùng nhau nữa, nhưng lần này mẹ sẽ thanh toán hóa đơn, con nhé!" Tôi ôm hôn tay mẹ và chào mẹ.

 

Vài ngày sau đó, mẹ tôi bị nhồi máu cơ tim và qua đời. Sự việc xảy ra quá nhanh làm tôi không kịp phản ứng như thế nào cả. Không lâu sau đám tang mẹ, tôi nhận được thư của nhà hàng mà trước đây mẹ cùng tôi đến vào buổi tối. Nét chữ thân thương của mẹ ghi rằng: "Mẹ biết lần sau này mẹ sẽ không dự được... Mẹ đã trả phần ăn cho hai người, vợ con và con. Con không biết buổi tối hôm đó quan trọng như thế nào với mẹ đâu, con ạ. Mẹ rất yêu con, con trai của mẹ!"

 

Lúc đó, tôi thật sự hiểu một cách sâu sắc nghĩa của từ "Yêu", và "Mẹ yêu con", và khi ta nói yêu ai thì lời nói ấy mang cảm xúc như thế nào cho người nhận.

 

Bạn ơi, đấng sinh thành là quan trọng trên hết mọi sự, nhất là mẹ hiền của ta. Các bạn hãy dành thời gian cho họ, họ xứng đáng được trân trọng như thế. Đó là quyền lợi Thiêng Liêng và của riêng họ, và việc này không thể bị trì hoãn vì bất cứ lý do nào.

 

Sau khi đọc xong câu chuyện này, tôi nhớ đến người bạn của  Abdallah ibn Omar, anh ta hỏi: "Mẹ tôi cao tuổi lắm rồi, và không thể tự di chuyển được nữa. Bà ấy hoàn toàn phụ thuộc vào tôi về những nhu cầu hằng ngày của bà. Tôi phải cõng bà đi mọi nơi, ngay cả đi vệ sinh; có khi bà không thể nhịn được và đi cả trên người tôi trong khi tôi đang mang bà trên lưng; bạn nghĩ  như vậy tôi đã trả được nợ đối với mẹ mình chưa?"

Abdallah ibn Omar trả lời: "Cậu còn chưa trả được một lần đau co thắt trong vạn lần đau đớn khi mẹ cậu sinh cậu ra nữa kìa! Vì khi cậu phải chịu bà như vậy, cậu chỉ cầu mong sao bà ấy chết quách để cậu khỏi phải ôm gánh nặng nghìn cân đó, còn lúc xưa khi cậu còn nhỏ cậu cũng vãi đầy trên người mẹ, thì mẹ cậu lại mong cậu sống và khôn lớn".

 

– yabiladi

(Tháilan dịch)

 

Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ xót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợị được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyền sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có.
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.