Hôm nay,  

Nhớ một vầng trăng

21/09/202208:05:00(Xem: 3968)

Truyện ngắn

 

hquan 1
Trăng soi qua Tử Cấm Thành – Tranh Đặng Mậu Tựu.

 

Bữa cơm trưa văn phòng, nàng kể cho mấy người bạn đồng nghiệp rằng, chiều qua, xe lửa trục trặc, nàng mất gần ba tiếng đồng hồ mới về đến nhà. Người bạn đồng nghiệp lắc đầu ngao ngán:

 

– Trời ơi, em mà phải cực khổ như chị, chắc em bỏ việc luôn.

 

Nàng cười cười:

 

– Mình chẳng cảm thấy gì bất tiện cả.

 

Nàng nghĩ, tiện, không tiện, cũng phải đi làm. Chứ không, chốn này, đất đai đâu, để nói, cạp đất mà ăn. Nàng tự an ủi mình, cũng là một cái thú, đâu phải ai muốn có là được. Mỗi ngày thêm vài tiếng đồng hồ thoải mái, muốn đọc sách, nghe nhạc, ngủ gật hay đơn giản ngó quanh, quan sát thiên hạ, ngái ngủ sớm mai trên đường đến hãng, hoặc xật xừ, đờ đẫn sau ngày dài làm việc. Cô đồng nghiệp khác góp ý:

 

– Ghét nhất là xe lửa trễ giờ. 

 

Nàng không trả lời. Nàng chẳng thấy phiền hà, cũng chẳng ghét bỏ hệ thống hỏa xa của Đức. Bởi, nhờ xe đến muộn, nàng đã gặp lại người anh của nhỏ bạn cùng lớp thời trung học. Khi bảng thông tin chạy dòng chữ Zug E40 fällt aus. Chuyến xe số E40 bị hủy. Trong khi chờ thông tin tiếp, bao giờ có xe, nhiều người bực bội rủa sả lung tung. Nàng nhủ thầm, mình than vãn tiếng Việt, không ai hiểu, chỉ mình nghe, rồi mình lại bực. Than tiếng Đức, nàng đâu đủ tài năng mà thi thố với những người Đức thứ thiệt. Trời vào hè, ngày dài ra. Chín, mười giờ mặt trời mới lặn. Nàng thản nhiên tìm ghế trống ngồi chờ, đọc tiếp cuốn sách mang theo. Chuyến xe này hủy, sẽ có chuyến sau. Hơi đâu mà nóng giận cho... già người đi. Số người dồn lại nhà ga càng đông. Những tiếng chê bai càng lúc càng tăng cường độ.

 

Nàng đã xong trang cuối của cuốn sách. Vẫn chưa có thông tin bao giờ tàu chạy. Nàng lấy điện thoại, mắt vừa lướt lướt những trang trên Facebook, vừa trông chừng bảng thông tin của xe lửa. Đến trang có bức tranh thiếu nữ mảnh mai, mặc áo dài vàng, tựa như hình bìa của tờ báo Tuổi Ngọc ngày xưa. Ngón tay nàng dừng lại, không vuốt vuốt mặt kính nữa, ngắm nghía bức tranh, nàng đọc tựa bài thơ: tôi xin lót lá em nằm.

 

Cám ơn người những sớm mai/ đậu vào tôi giọt nắng say môi hồng/ ơn em mây thả bềnh bồng/ vương tôi tóc rối tỏa nồng hương yêu

(Nguyễn Minh Phúc, 2018)

 

Êm đềm, thơ mộng quá chừng. Tên tác giả Nguyễn Minh Phúc, nghe quen quen. Nàng chợt nhớ, nhỏ bạn có người anh cùng tên tác giả. Nhỏ bạn kể, anh của nhỏ làm báo, làm thơ. Nàng loanh quanh trong sân nhà Nguyễn Minh Phúc đọc thêm vài bài thơ khác. Bài nào cũng dễ thương. Khi mọi người ào ào lên xe lửa, nàng vội rảo bước theo. Nàng nghĩ, về nhà, nhất định phải dò la tông tích của Nguyễn Minh Phúc. Nàng mằn mò rất lâu. Vừa sử dụng các “thành tựu khoa học kỹ thuật” về Facebook để bắt liên lạc với tác giả Nguyễn Minh Phúc. Vừa vận dụng ngôn ngữ “ngoại giao”, viết đôi dòng giới thiệu làm quen, để lỡ có nhầm lẫn, không đến nỗi... quê một cục. Có chí thì nên, người xưa nói không sai. Anh Nguyễn Minh Phúc xác nhận là anh của nhỏ bạn. Anh Phúc biết các chị của nàng. Anh Phúc cùng vài người bạn thân từng là khách dài hạn của tiệm sách và quán cà phê của Mạ nàng. Gặp lại người quen cũ, dẫu gặp “ảo”, nàng vui lắm. Anh Phúc nhắc đến những người bạn của anh, có cùng những ngày tháng lãng đãng thơ và nhạc. Phút tay bắt, mặt mừng trôi qua, đôi dòng thư đi, tin lại. Rồi thôi. Nàng thỉnh thoảng đọc những bài thơ rất thơ trên Facebook của anh Nguyễn Minh Phúc. Anh Phúc và nàng, cả hai đều có những bận rộn riêng. Cho nên, tái ngộ xong, coi như để đó.

 

Nàng có chuyến du lịch 10 ngày ngang dọc nước Nam Phi. Lịch trình dày đặc với lên núi, xuống phố, ra biển, vào rừng... Ngày nào cũng thú vị với nhiều ấn tượng đẹp về đất nước Nam Phi. Trong thời gian này, điều kiện vào internet không dễ dàng. Có dịp, nàng vào nhanh WhatsApp, đọc tin nhắn gia đình và viết mấy câu hỏi thăm. Nàng chẳng hề nhớ nhung wifi như chị bạn đi cùng, đến đâu cũng lo ngay mật mã để vào internet.

 

Chương trình ngày thứ Bảy đầy ắp, từ bình minh đến hoàng hôn. Sáng sớm, cả nhóm trực chỉ Mũi Hảo Vọng. Từ tháp hải đăng ở cực tây nam châu Phi, nàng mê mẩn nhìn xuống những làn sóng của Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương giao nhau. Cuối ngày, mọi người được tùy nghi sử dụng buổi tối ở khu phố Waterfront của thành phố Cape Town. Về đến khách sạn khá khuya. Mệt nhoài, tâm trí vẫn còn đầy ắp ấn tượng của biển trời, núi non, cây cỏ, phố phường. Nàng vội vàng mở máy nói vài lời gởi cho con. Nơi góc nhỏ của điện thoại, nàng thấy dấu hiệu có tin nhắn của NMP. Anh Phúc kể, anh bệnh thời gian qua, nên không liên lạc. Nay, sức khỏe tạm ổn. Anh Phúc bảo, bỗng nhiên, anh nhớ nhiều những ngày tháng với người bạn chí thân, anh Trầm Thụy Du. Đèn trong khách sạn vàng mờ mờ. Trước đó, mắt nàng trĩu nặng vì buồn ngủ. Nhưng câu chuyện anh Phúc kể, đã níu, đã giữ mắt nàng không rời màn ảnh bé tí của điện thoại.

 

Anh Phúc nói, giờ đây chép lại bài thơ của anh Trầm Thụy Du gởi cho nàng, anh Phúc cảm thấy nhẹ nhõm trong lòng. Cuối cùng, anh Phúc thực hiện được chuyện anh Trầm Thụy Du nhờ, dẫu muộn màng.

 

Như chiếc lá cuối mùa rơi lặng lẽ/ buổi tàn thu đường phượng lá vàng bay/ anh vẫn còn lang bạt cuối chân mây/ mơ phố xá với nụ cười em gái ...nay anh chỉ còn chút hồn đầy mộng/ nhớ ngày xưa như nhớ một vầng trăng

(như nhớ một vầng trăng...* Trầm Thụy Du –  1975)

 

Nàng tưởng như đang lần giở cuốn sách nằm quên trên kệ tủ gần nửa thế kỷ. Những trang sách ố màu thời gian kể chuyện về nàng, một thiếu nữ vào tuổi mộng mơ. Kể chuyện về anh và người bạn của anh, những thanh niên vừa tuổi đôi mươi, ở tỉnh lỵ miền trung. Năm ấy, nàng đang tuổi mười ba, mười bốn, nàng đang nhí nhảnh, theo gió mưa em đi hát xây mộng cho người, trên cánh thơ tuyệt vời hát yên vui cõi đời. Nhà của nàng có quán cà phê, nơi có nhiều văn nhân, thi sĩ lui tới. Anh thường đi trong nhóm ba người. Cả ba người đều là thi sĩ, nàng nghĩ vậy. Nàng đã đôi lần nghe lóm, nhớ lén những câu thơ các anh ngâm nga cho các chị của nàng.

 

Cơn lốc dữ 1975 đã đẩy cuộc sống gia đình thiếu nữ xuống cùng cực, điêu đứng, đã cuốn đi những giấc mơ xinh của thiếu nữ. Cơn lốc đã làm những thanh niên hụt hẫng, chới với. Những mơ ước hoài bão của tuổi trẻ bỗng chốc vụt mất. Một sớm, một chiều, anh và người bạn, đang là những học sinh trung học, chuẩn bị khoác áo sinh viên, bỗng nhiên thành những người mất phương hướng trong cuộc sống. Không lâu sau, anh và người bạn chí thân lụng thụng trong bộ cánh bộ đội. Rời xa thị xã nhỏ bé, có nhà sách quen ở đường Phan Bội Châu, có quán cà phê vườn ở đường Quang Trung. Bỏ lại sau lưng gia đình, trường lớp. Cũng may, người bạn chí thân luôn đồng hành cùng anh.

 

Lần nọ, bộ đội đóng quân ở mũi Ba Tân Gân, một địa điểm ở một bán đảo gần Quảng Ngãi. Biết bạn mình được sắp về phép, anh rủ bạn ra ngồi hiên sau trại lính chuyện trò. Anh và người bạn ngồi bên nhau, thật lâu, cả hai trầm ngâm. Mãi lúc sau, anh lên tiếng, phá tan sự yên lặng:

 

– Mày về phép, có đi đâu không?

 

– Chỉ có ba ngày. Tao về ở nhà, cho bà già vui.

 

Anh rút trong túi tờ giấy học trò, có bài thơ anh làm. Thuở ở trường, anh là trưởng ban báo chí. Bạn bè vẫn trầm trồ nét bút rồng bay phượng múa của anh. Anh bỗng buồn buồn, nhớ bài hát vui vui anh nghe những năm trước, thư của lính ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay. Mấy tháng làm bộ đội, đã làm tâm hồn anh mệt mỏi, cằn cỗi. Chữ viết đâm ra nguệch ngoạc. Anh nhỏ giọng:

 

– Mày đến quán cà phê Uyên, đưa thư này cho Thúy. Nhớ đưa tận tay nhe.

 

Anh gọi là thư, nhưng chỉ vẻn vẹn bài thơ. Chứ không có thêm chữ nào, để bài thơ thành lá thư.

 

Người bạn về đến nhà, ngồi chơi với cha mẹ một lúc. Bà mẹ rạng rỡ, lăng xăng nghĩ nấu món ăn đãi đằng con trai. Người bạn vội đạp xe đến quán cà phê. Thị xã Quảng Ngãi bé tí. Có lẽ còn nhỏ hơn Pleiku của thi sĩ Vũ Hữu Định. Người bạn đến, chỉ gặp Mạ của nàng. Nàng phải theo trường lớp đi đào kênh, đắp đập đâu đó.

 

Hôm cuối cùng, người bạn lại ghé quán cà phê, trước khi trở về đơn vị trình diện. Người bạn vẫn không gặp nàng. Thuở ấy, không có điện thoại để nhắn tin. Người bạn không dám đưa thư cho Mạ nàng. Người bạn bỏ bài thơ trong phong bì dán kín. Tính tìm cô giúp việc, nhờ cô chuyển. Vờ hỏi bâng quơ, người bạn mới biết, gia đình nàng đã phải cho tất cả người giúp việc nghỉ làm, sợ bị mang tiếng tư bản bóc lột. Người bạn áy náy lắm, vì không làm tròn việc anh nhờ, dù chỉ là việc bé cỏn con. Người bạn biết anh đang lóng ngóng chờ tin. Về lại đơn vị, người bạn ngài ngại trả phong bì có bài thơ cho anh. Anh thất vọng lắm. Anh rầu giọng:

 

– Mày giữ giúp. Lúc nào có dịp, trao cho Thúy.

 

Dòng đời ngược xuôi, xô đẩy nàng đi, càng lúc, càng xa mãi quê nhà. Cả anh và người bạn không gặp lại nàng. Anh vẫn ở nơi tỉnh lỵ nhỏ bé, nhưng rất thân thiết ấy. Người bạn lưu lạc đến mãi tận cùng của đất nước. Hai người rất ít liên lạc với nhau. Nhưng trong tâm tưởng, vẫn là đôi bạn thân, từ tuổi hoa niên cho đến khi vào tuổi cao niên. Người bạn vẫn giữ bài thơ của anh và canh cánh trong lòng nỗi băn khoăn, không thực hiện được chuyện anh gởi gắm. Người bạn buồn thảng thốt, khi biết tin anh lâm trọng bệnh, giã từ cõi tạm khi anh vừa qua tuổi 60. Người bạn nghĩ, sẽ có dịp nói đôi lời tạ lỗi trước vong linh của anh.

 

Ngày ấy, phải chi có duyên, nàng đã được đọc bài thơ trong chữ viết tay rất lả lướt của anh. Nếu vậy, có lẽ nàng ngượng ngùng, lúng túng, lí nhí nhờ người bạn nhắn gởi lời cám ơn anh và gởi lời thăm anh. Cũng có lẽ, nàng chép vội mấy câu thơ gởi anh.

 

Vẫn lặng lẽ để anh nghe vừa đủ/ Vẫn thờ ơ cho rủ hết màn the/ Vẫn mỉm cười rồi vẫn lấy tay che/ Cho cặp mắt bỗng nhiên mười sáu tuổi

(Bài thơ còn lại, Hoàng Anh Tuấn)

 

Mãi bây giờ, khi anh đã yên nghỉ nơi miền vĩnh phúc, nàng mới biết đến những vần thơ anh viết tặng nàng. Nàng đốt nén hương lòng, thầm nói với anh lời cám ơn.

 

Ban chiều, tít tận cực nam của châu Phi, ở Cape Town, trong lúc đi dạo quanh khu phố Waterfront, tình cờ, nàng được mời nhìn vào viễn vọng kính để thấy nửa vầng trăng. Vừa dán mắt vào ống kính, nàng nghe lời cắt nghĩa của người chủ viễn vọng kính. Vầng trăng đó, là vệ tinh cho trái đất. Rời mắt khỏi ống kính, ấn tượng còn lại trong trí nàng, mặt trăng chỉ là một khối đất đá tròn tròn, cách địa cầu gần 400 ngàn cây số. Chỉ vậy thôi.

 

Mấy tiếng đồng hồ sau, những dòng chữ li ti trên điện thoại đã giúp nàng đi ngược lại những ngày tháng của nhiều thập niên trước. Nàng thấy lại một khoảng đời nhiều biến động. Ngày tháng đó, cuộc sống của anh, của nàng bị bủa vây bởi biết bao nhọc nhằn, thống khổ. Nhưng anh vẫn cho nàng được làm “em gái giữa tim anh“. Anh đã viết những câu thơ thật đẹp cho nàng.

 

Ngay lúc này, nàng bỗng nhớ tha thiết một vầng trăng.

 

– Hoàng Quân

 

Trích lời ca trong các nhạc phẩm:

Tuổi Mộng Mơ của nhạc sĩ Phạm Duy

Tình Thư Của Lính của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh

 

* Bài thơ chép lại theo trí nhớ của thi sĩ Nguyễn Minh Phúc, một người bạn của thi sĩ Trầm Thụy Du. Trong bài thơ có vài chữ, câu khác với bài thơ Nhớ Một Vầng Trăng đăng trong trang web Sắc Màu Thời Gian.

 

Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.