Hôm nay,  

Tản thần văn thời mắc dịch

02/10/202210:21:00(Xem: 3608)
Phiếm

Hái_dừa


Đọc Sử Ký Tư Mã Thiên có đoạn Thái sử công viết đại ý rằng. Nhà nọ có cậu con trai thời trẻ ăn chơi phóng túng, trai gái dặt dìu chẳng may tửu sắc quá độ lâm trọng bệnh rồi chết. Đám tang anh ta người đưa tiễn rất đông toàn là phụ nữ trẻ có, già có, sồn sồn có, công nương quý phái đài các lầu vàng điện ngọc cũng có mà các cô thôn nữ làm lụng nơi nương rẫy thậm chí mấy cô ca nữ lầu hồng kỹ viện đến gái ăn sương bến xe xó chợ cũng rất nhiều. Bạn của phụ thân anh ta mới an ủi người cha già đang ủ rũ sau xe tang: Nhà ông thật có phúc huệ lớn cậu cả quy tiên mà người đưa đón có hàng vạn. Bậc công hầu khanh tướng không dễ có mấy ai. Nghe người ta khen tặng con mình ông ta không những không cám ơn còn mắng nhiếc con trai: Đồ bất hiếu tử ấy ông đừng nhắc nó làm gì, tôi hận nó mà còn sống tôi nọc đánh trăm roi cho bỏ cái tật quyến luyến đàn bà mà không lo làu thông kinh sử, không biết in năm bảy tập thơ để đời ngưỡng vọng như Lý, Đỗ, Thôi, Hàn. Đáng lẽ tôi không đưa đám nó nhưng nghĩ tình máu mủ mới đưa nó một thôi đường chứ trong bụng không muốn tí nào. Gặng hỏi mãi ông cụ mới thố lộ nội tình.Đấy ông xem người tới nhà quàn đưa đám toàn đàn bà con gái, các bậc trưởng giả lèo tèo vài người mà cũng là bọn thường ngày đàn đúm ăn chơi rượu chè cờ bạc với nó, có thấy ai trong ban biên tập các tờ báo lớn hay chủ biên các văn đàn nổi tiếng không? Điều đó chứng tỏ khi còn sinh thời hắn thi ân, ong bướm vật vờ đầu mày cuối mắt với bọn đàn bà thê thiếp mà không kính trọng bậc trưởng giả nên kiếp chết kiếp mất mà họ vẫn không thèm tống tiễn. Đám tang mà không có áo mũ cân đai, vét tông, tế, điếu, cáo phó, vòng hoa, của các bậc văn hào, thi bá trong văn bút, văn lâm đưa đám thì nó chẳng là tiện dân là gì. Nói xong ông nhìn lên trời khóc ngất rồi thổ huyết lai láng. Bà con láng giềng xúm lại khuyên giải hồi lâu mới nguôi ngoai.

 

(Đọc đến đây kẻ hèn sực nghĩ cuộc trần thân đời mình bỗng dưng lạnh toát sống lưng về cái tội in mấy tập thơ toàn thơ tình không có những bài thơ ca tụng đức độ tài ba của các bậc công hầu khanh tướng ở lưỡng viện quốc hội danh vang bốn biển uổng một đời cầm bút làm thơ tản thần vội mở ngay laptop làm một lúc chín bài thơ thời sự chính trị gắn thẻ cho các bậc facebooker trưởng giả trong làng văn cả hải ngoại lẫn trong nước còn một mớ thơ tình gói đến bảy lớp giấy nilon đào sâu chôn chặt đưới gốc khế sau nhà chờ ngày quang phục tình ca.)

 

N g u y ễ n H à n C h u n g có thơ rằng:


Bạn có bằng lòng không?

 

 Kết bạn trên facebook

các bậc học giả ít
giới tài nữ quá nhiều
in thơ năm bảy tập
toàn trị thơ tình yêu

 

Đáng căng nọc mà đánh

kẻ quyến luyến má hồng

xa các bậc tôn trưởng

viết phê bình nghiên cứu
làm sao thơ có thể
phục vụ nhiều nhơn dân


Sách xưa dạy như thế
ta lấy làm tủi thẹn
ra gốc khế sau nhà
đào sâu và chôn chặt
không để lòi chữ ra

Mai đây đi tàu suốt
tiễn biệt thơ tản thần
không lẽ chỉ tài nữ
mới thiệt là tri âm!

Bình ngắn của GSTS Sấu Mã:

Nhà thơ đang “tự vấn”. Nói bằng giọng của mình, về bất cứ điều gì mà chả quý. Ông Tản Đà vừa viết văn thuyết lý, vừa viết văn chơi đấy thôi. Thơ tình của huynh, dù bị gói trong mấy lớp nilon, vẫn cứ… thụ tinh được như thường. Huynh không moi lên, sẽ có người moi. Chả cứ gì giới nữ lưu. Không có thụ tinh, dòng đời đóng băng và chết ngắc à!

 

– Nguyễn Đức Mù Sương

Có thể nói cuộc đời của những du học sinh thời VNCH như tôi trải qua khá nhiều truân chuyên từ dạo ấy, sau tháng Tư đen 1975, từ khi cộng sản Bắc Việt thống trị Nam Việt Nam. Khác với quyết định đi tìm Tự Do, đi tìm sự sống trên cái chết qua hình thức vượt biên vượt biển của đồng hương sau 1975, chúng tôi may mắn hơn, đơn thuần chỉ phải chọn lựa một trong hai: về Việt Nam hay ở lại nước ngoài. Nếu quyết định về VN thì phải cúi đầu phục tùng nhóm sinh viên đoàn kết và toà đại sứ Việt Cộng. Còn ngược lại nếu quyết định ở lại nước ngoài thì phải chấp nhận xa quê hương, xa gia đình, bạn bè anh em và không biết khi nào mới gặp lại!
Văn hóa phương Tây, rắn vừa là biểu tượng trong lĩnh vực y khoa vừa là nguồn cảm hứng trong hội họa, kiến trúc và văn học. Văn hóa Hy Lạp bắt nguồn từ vị thần cổ đại Hermes, sứ giả của các vị thần. Thần Esculape được coi là ông tổ của ngành y dược. Biểu tượng của Tổ Chức Y Tế Thế Giới WHO (World Health Organization) con rắn quấn quanh cây gậy Esculape cầm. Cục Quân Y VNCH có thêm đôi cánh trên thanh kiếm.
Hồi năm sáu tuổi tôi vẫn hay theo chúng bạn ra chơi trước đình làng Thanh Thủy. Nơi đó có mấy cây sanh cổ thụ rất lớn luôn tỏa bóng râm mát mẻ cả đoạn đường bến chạy qua làng. Bên kia con đường bến là hồ Vọng Nguyệt, một cái hồ trông như vuông vức, rộng chừng nửa mẫu tây, dân địa phương vẫn quen gọi là hồ làng...
Phải chi khách đến thăm vườn hồng hơn trăm giống quý đủ màu sắc của ông Chu hằng ngày là khách mua hoa thì chắc thu nhập của gia đình ông đỡ hơn. Ông nghèo, nhưng cái máu nghệ sĩ của ông lại mạnh mẽ hơn chuyện tiền bạc, lại gặp bà vợ hết mực chiều chồng, nên cứ nghe đâu có giống hồng lạ là bằng mọi cách phải có cho bằng được. Năm ba ký gạo đắp đổi hằng ngày đã khó, mà có những giống người ta đổi cả tấn lúa ông cũng lắc đầu.
Không nhớ từ bao giờ đã không còn ngồi xuống bàn trà, tay bốc miếng mứt hạt sen bỏ vô miệng, vị ngọt tươm ra không quá gắt như ăn miếng mứt bí, vị ngọt nhẹ, thanh, kích thích vị giác bởi hương sen quyện ngọt điệu đà, tới khi nhai cái hạt sen đã ấm ấm trong miệng nên không còn cứng cũng không quá mềm như khoai lang luộc. Độ dẻo của hạt sen khi đã sên mứt rất mê hoặc và cũng đâu có gì vội để nuốt đi cho mau, cứ ngậm mà nghe hương vị đất trời tinh khiết của hương sen xông lên khoang mũi làm cho người thưởng thức lâng lâng cảm giác xuân đã về. Có thể nói món gì có hạt sen góp mặt cũng ngon như món vịt tiềm có nhân bên trong là thịt bằm, nấm mèo, táo tàu, gia vị nhiều thứ, nhưng những hạt sen luôn khêu gợi những đôi đũa gắp vì hấp dẫn và ngon lạ miệng. Nhưng đã nhiều năm không ăn mứt hạt sen sao vẫn nhớ khá rõ hương vị độc đáo của hạt sen trong món ngọt ăn chơi ngày tết, hay món mặn ăn tiệc đều ngon.
Cậu Hà người Bắc di cư năm 1954, cậu di cư có một thân một mình khi còn trẻ, nên cậu cũng không có nhiều phương tiện được học hành nhiều. Khi lớn lên ở miền Nam, lối chừng 19, 20 tuổi khoảng năm 1965-1966, cậu từ giã học đường đăng lính, cậu đi lính Việt Nam Cộng Hòa ngành Biệt Động Quân. Sau chuyển qua Thám Báo. Cậu đóng quân như ở miền đồng ruộng, lúc bấy giờ còn loáng thoáng xa xa, ít dân cư, tiếp giáp một bên Đồng Ông Cộ, miệt Gò Vấp, Gia Định.
Chị nhớ lại, vào một buổi sáng ngày cuối tháng 1 năm 1973, khi Chị đi lấy bản tin ở bên Macv về cho AP, chị thấy sao hôm nay văn phòng đông thế. Ký giả của AP và cả của NBC News bên cạnh cũng chạy qua chạy lại, Chị nghe ông chánh văn phòng nói: Viêt Nam sắp ngưng bắn rồi, sắp hòa bình rồi…” Văn phòng Associated Press xôn xao, từ ông chánh văn phòng đến các ký giả, nhân viên của AP đều hứng khởi với cái tin “Nóng bỏng” này. Chị thấy các phóng viên của các hãng thông tấn, hãng truyền hình ngoại quốc chạy hối hả sang nhau và chạy qua cả đài phát thanh Quân Đội Việt Nam để cập nhật tin tức viết bài…
Chị đi bằng xe hàng. Là dân Đà Lạt gốc Huế nên chị gọi xe đò là “xe hàng”. Đi xe hàng, tức là xe đò, là xe chở người và cả hàng chứ không chở riêng hàng. Tiếng Việt hay như vậy đó! Đến Gò Công rồi đi xe lam vào Đồng Nguơn. Ấp Đồng Nguơn. Không phải đây là lần đầu tiên chị được thấy cảnh đồng quê. Đồng quê miền nam hầu như đâu đâu cũng giống nhau. Nhưng có đi nhiều mới thấy mỗi nơi có một chút khác. Phải thế không? Hay chính là cảm giác của chị mỗi lần một khác?
Tôi ước mơ có một ngày nào đó, khi thanh bình thật sự trở về trên nước VN, khi chính thể CS hoàn toàn tan rã, khi con người công chính trở lại làm nền tảng trong xã hội mới, chúng ta sẽ trở về, những ngưới bạn từ thời xa xưa, cùng nhau làm lại một bữa tiệc Tất Niên, mời vong linh các thầy, các bạn, các anh em đồng đội đã chết trong khói lửa chinh chiến, trong các biến cố tang thương của đất nước, trong các trại tù, trên biển…cùng nhập tiệc. Kẻ đang sống cùng người thiên cổ bên cạnh nhau hoài niệm đến một miền thùy dương ngọt ngào nhân tính, một ngôi trường thân yêu giàu truyền thống giáo dục và y đức, một thành phố mến yêu thơ mộng. Để nghe những người quá cố tâm sự về cái chết oan khiên của mình. Được như vậy, hương hồn các vị đó sẽ sớm được siêu thoát và vĩnh viễn an nghỉ chốn nghìn thu. Và chúng ta đây giảm khắc khoải đau thương…
Tôi đã có bốn cái Tết trong trại Panatnikhom và Sikiew, Thailand. Tết đầu tiên thật nhiều kỷ niệm và bất ngờ, vì lúc đó chúng tôi vừa nhập trại trong khi còn hơn một tuần nữa là Tết. Tôi và ba cô bạn đi chung chưa kịp gửi thư cho thân nhân ở nước ngoài để ca bài ca “xin tiền”. Ai lo bận bịu đón Tết thì lo, còn chúng tôi thì lo đi mượn tiền để mua vài vật dụng cần thiết như tấm trải nhựa, tre nứa, dây nilon để làm “nhà” (phải “an cư” mới “lập nghiệp” tỵ nạn được chớ).Khoảng một tuần trước Tết, có một nhóm mấy thanh niên đến thăm vì nghe nói chúng tôi là dân Gò Vấp, nên muốn nhận “đồng hương đồng khói”. Họ là những người trẻ như chúng tôi, nên câu chuyện mau chóng trở nên thân mật và rôm rả
Hỏi thăm ông Hai bán hoa lay-ơn gốc Bình Kiến, nhiều người ngơ ngác hỏi nhau. Tôi lại rảo qua thêm mấy vòng chợ hoa, cũng vừa đi tìm ông Hai, cũng vừa ngắm hoa và ngắm những chậu bonsai bày bán cuối năm, cũng tìm lại mình của gần 20 năm trước, năm nào cũng cứ vào những ngày này, tôi theo ba tôi hóng gió đón sương không hề chợp mắt cùng gian hàng cây kiểng rất bề thế của ba ở đây.
Có lẽ những rộn ràng, hân hoan nhất trong năm không phải là "ba ngày tết", mà là những ngày cận tết. Bắt đầu vào ngày 23 tháng chạp, tối đưa ông Táo về trời. Tất cả mọi sinh hoạt đều hướng về việc chuẩn bị để đón một mùa xuân mới, chào đón nguyên đán và mấy ngày xuân trước mặt. Lúc nhỏ là mùi vải thơm của bộ đồ mới, mùi gạo nếp ngâm cho nồi bánh và hương thơm ngào ngạt cho sàng phơi mứt dừa, mứt bí, mứt gừng ngoài sân. Những đêm ngủ gà ngủ gật ngồi canh bên nồi bánh tét cùng với má, với gia đình xúm quanh. Mùi bếp lửa, mùi khói hương, mùi áo mới lan tỏa của tuổi thơ ngan ngát những ngày xa...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.