Hôm nay,  

Tản thần văn thời mắc dịch

02/10/202210:21:00(Xem: 3599)
Phiếm

Hái_dừa


Đọc Sử Ký Tư Mã Thiên có đoạn Thái sử công viết đại ý rằng. Nhà nọ có cậu con trai thời trẻ ăn chơi phóng túng, trai gái dặt dìu chẳng may tửu sắc quá độ lâm trọng bệnh rồi chết. Đám tang anh ta người đưa tiễn rất đông toàn là phụ nữ trẻ có, già có, sồn sồn có, công nương quý phái đài các lầu vàng điện ngọc cũng có mà các cô thôn nữ làm lụng nơi nương rẫy thậm chí mấy cô ca nữ lầu hồng kỹ viện đến gái ăn sương bến xe xó chợ cũng rất nhiều. Bạn của phụ thân anh ta mới an ủi người cha già đang ủ rũ sau xe tang: Nhà ông thật có phúc huệ lớn cậu cả quy tiên mà người đưa đón có hàng vạn. Bậc công hầu khanh tướng không dễ có mấy ai. Nghe người ta khen tặng con mình ông ta không những không cám ơn còn mắng nhiếc con trai: Đồ bất hiếu tử ấy ông đừng nhắc nó làm gì, tôi hận nó mà còn sống tôi nọc đánh trăm roi cho bỏ cái tật quyến luyến đàn bà mà không lo làu thông kinh sử, không biết in năm bảy tập thơ để đời ngưỡng vọng như Lý, Đỗ, Thôi, Hàn. Đáng lẽ tôi không đưa đám nó nhưng nghĩ tình máu mủ mới đưa nó một thôi đường chứ trong bụng không muốn tí nào. Gặng hỏi mãi ông cụ mới thố lộ nội tình.Đấy ông xem người tới nhà quàn đưa đám toàn đàn bà con gái, các bậc trưởng giả lèo tèo vài người mà cũng là bọn thường ngày đàn đúm ăn chơi rượu chè cờ bạc với nó, có thấy ai trong ban biên tập các tờ báo lớn hay chủ biên các văn đàn nổi tiếng không? Điều đó chứng tỏ khi còn sinh thời hắn thi ân, ong bướm vật vờ đầu mày cuối mắt với bọn đàn bà thê thiếp mà không kính trọng bậc trưởng giả nên kiếp chết kiếp mất mà họ vẫn không thèm tống tiễn. Đám tang mà không có áo mũ cân đai, vét tông, tế, điếu, cáo phó, vòng hoa, của các bậc văn hào, thi bá trong văn bút, văn lâm đưa đám thì nó chẳng là tiện dân là gì. Nói xong ông nhìn lên trời khóc ngất rồi thổ huyết lai láng. Bà con láng giềng xúm lại khuyên giải hồi lâu mới nguôi ngoai.

 

(Đọc đến đây kẻ hèn sực nghĩ cuộc trần thân đời mình bỗng dưng lạnh toát sống lưng về cái tội in mấy tập thơ toàn thơ tình không có những bài thơ ca tụng đức độ tài ba của các bậc công hầu khanh tướng ở lưỡng viện quốc hội danh vang bốn biển uổng một đời cầm bút làm thơ tản thần vội mở ngay laptop làm một lúc chín bài thơ thời sự chính trị gắn thẻ cho các bậc facebooker trưởng giả trong làng văn cả hải ngoại lẫn trong nước còn một mớ thơ tình gói đến bảy lớp giấy nilon đào sâu chôn chặt đưới gốc khế sau nhà chờ ngày quang phục tình ca.)

 

N g u y ễ n H à n C h u n g có thơ rằng:


Bạn có bằng lòng không?

 

 Kết bạn trên facebook

các bậc học giả ít
giới tài nữ quá nhiều
in thơ năm bảy tập
toàn trị thơ tình yêu

 

Đáng căng nọc mà đánh

kẻ quyến luyến má hồng

xa các bậc tôn trưởng

viết phê bình nghiên cứu
làm sao thơ có thể
phục vụ nhiều nhơn dân


Sách xưa dạy như thế
ta lấy làm tủi thẹn
ra gốc khế sau nhà
đào sâu và chôn chặt
không để lòi chữ ra

Mai đây đi tàu suốt
tiễn biệt thơ tản thần
không lẽ chỉ tài nữ
mới thiệt là tri âm!

Bình ngắn của GSTS Sấu Mã:

Nhà thơ đang “tự vấn”. Nói bằng giọng của mình, về bất cứ điều gì mà chả quý. Ông Tản Đà vừa viết văn thuyết lý, vừa viết văn chơi đấy thôi. Thơ tình của huynh, dù bị gói trong mấy lớp nilon, vẫn cứ… thụ tinh được như thường. Huynh không moi lên, sẽ có người moi. Chả cứ gì giới nữ lưu. Không có thụ tinh, dòng đời đóng băng và chết ngắc à!

 

– Nguyễn Đức Mù Sương

Má ơi! Thế giới vô thường, thay đổi và biến hoại trong từng phút giây nhưng lòng con thương má thì không biến hoại, không thay đổi, không suy hao. Nguyện cầu ngày đêm cho má, hướng phước lành đến cho má. Cầu chư Phật, chư Bồ Tát, chư hiền thánh tăng ba đời mười phương gia hộ má vượt qua đau bệnh để sống an lạc trong những ngày tháng tuổi già bóng xế.
Truyện đầu tiên kể nơi đây là kể về một tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca. Khi đó, ngài được gọi là một vị Bồ Tát. Ngày xưa rất là xưa, có hai người thợ săn, là hai vị thủ lĩnh của hai ngôi làng gần nhau. Hai vị trưởng làng đã lập một giao ước rằng nếu con của họ tình cờ khác giới tính, họ sẽ sắp xếp cho hai đứa con này kết hôn với nhau. Đó là một thời phần lớn hôn nhân là do sắp xếp của ba mẹ. Một vị trưởng làng có một cậu con trai được đặt tên là Dukūlakumāra, vì cậu bé được sinh ra trong một tấm vải bọc đẹp; vị trưởng làng kia có một cô con gái tên là Pārikā, vì cô bé được sinh ra ở bên kia con sông. Khi chàng trai và cô gái lớn lên, cha mẹ hai bên đã kết hôn cho hai người con này. Tuy nhiên, chàng trai Dukūlakumāra và cô gái Pārikā đã có nhiều kiếp tu, cùng giữ hạnh trong sạch, cho nên cô dâu và chú rể cùng cam kết bí mật với nhau rằng hai người sẽ ở chung nhà như vợ chồng, sẽ yêu thương nhau như vợ chồng nhưng sẽ không làm mất hạnh trong sạch của nhau.
Rõ ràng thằng bé đã thức. Nhưng khi An bước đến bên giường, mắt cu cậu nhắm tịt lại vờ như đang ngủ. An cù vào nách con : — Giả bộ này. Giả bộ này… / Bin uốn éo người, cười khanh khách. An xốc con dậy, hôn vào đôi má phúng phính: / — Con đánh răng rồi ti sữa cho ngoan nhé. Mẹ đi làm đây. / Bin choàng vòng tay nhỏ xíu quanh cổ mẹ, giọng ngọng nghịu: / — Mẹ ứ đii… / Bà đưa tay đỡ lấy cu Bin: / — Sang đây bà bế. Chiều mẹ lại về với Bin nào. / Chỉ nũng nịu với mẹ chút thôi, chứ Bin rất ngoan. Chưa bao giờ em khóc nhè, vòi vĩnh như những đứa trẻ khác. Sự hiểu chuyện của con, nhiều khi làm An nghe buốt lòng.
Chiếc ghế đá hầu như rất quen thuộc, dù nó cũng như mọi chiếc ghế khác trong công viên. Tháng Sáu. Bầy ve kêu inh ỏi. Chúng vô tư thật! Đoan ngồi xuống. Mấy buổi chiều nay, tan học, Đoan ghé khu vườn rộng lớn này, như một người trở về, cảm giác thật khó tả. Chợt nghe trong đầu vẳng lại lời của một bài thơ:
Cuộc đời trung úy Đỗ Lệnh Dũng, một sĩ quan VNCH, là biểu tượng bi tráng của lòng trung thành, khí phách giữa chiến tranh tàn khốc, và là minh chứng cho nỗi đau kéo dài của những người lính và thương phế binh miền Nam sau cuộc chiến.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.